1. Thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án hình sự ?

Kính chào Luật sư! Luật sư cho em hỏi: Em có làm đơn kháng cáo gửi tòa sơ thẩm vụ án hình sự trong thời hạn cho phép. Phiên tòa sơ thẩm tỉnh xét xử tháng 5/2014 đến nay bên em cũng không thấy thông tin gì. Em hỏi tòa sơ thẩm thì họ bảo đã gửi đơn và hồ sơ lên tòa phúc thẩm rồi. Luật sư cho em hỏi về thủ tục khiếu nại Tòa án cấp sơ thẩm vì giải quyết không đúng thế nào ạ?
Em xin chân thành cảm ơn!

Thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án hình sự ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án hình sự được quy định như sau:

Về việc thông báo cho đương sự về việc kháng cáo được quy định tại Điều 338 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 như sau:

Điều 338. Thông báo về việc kháng cáo, gửi quyết định kháng nghị

1. Việc kháng cáo phải được Tòa án cấp sơ thẩm thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người liên quan đến kháng cáo trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo. Thông báo phải nêu rõ yêu cầu của người kháng cáo.

2. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định kháng nghị, Viện kiểm sát phải gửi quyết định kháng nghị kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, gửi quyết định kháng nghị cho bị cáo và những người liên quan đến kháng nghị. Viện kiểm sát đã kháng nghị phải gửi quyết định kháng nghị cho Viện kiểm sát khác có thẩm quyền kháng nghị.

3. Người tham gia tố tụng nhận được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm. Ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.

Như vậy, Khi đã nộp đơn kháng cáo và nhận được câu trả lời của Tòa án cấp sơ thẩm về việc đã gửi hồ sơ lên cấp phúc thẩm thì trước đó bạn phải nhận được thông báo từ Tòa án cấp sơ thẩm trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được đơn kháng cáo của anh.

2. Về thủ tục kháng cáo

Việc giải quyết kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm được quy định tại Điều 332 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 như sau:

Điều 332. Thủ tục kháng cáo

1. Người kháng cáo phải gửi đơn kháng cáo đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm.

Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo, nhận đơn kháng cáo và chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo.

Người kháng cáo có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm về việc kháng cáo. Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.

Tòa án cấp phúc thẩm đã lập biên bản về việc kháng cáo hoặc nhận được đơn kháng cáo thì phải gửi biên bản hoặc đơn kháng cáo cho Tòa án cấp sơ thẩm để thực hiện theo quy định chung.

2. Đơn kháng cáo có các nội dung chính:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;

b) Họ tên, địa chỉ của người kháng cáo;

c) Lý do và yêu cầu của người kháng cáo;

d) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

3. Kèm theo đơn kháng cáo hoặc cùng với việc trình bày trực tiếp là chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) để chứng minh tính có căn cứ của kháng cáo.

KẾT LUẬN: Anh cần xác định rõ việc chậm trễ giải quyết kháng cáo cho anh là do Tòa án cấp sơ thẩm hay phúc thẩm. Khi xác định rõ trách nhiệm bạn có thể thực hiện việc khiếu nại về hành vi hành chính của Tòa án.

Theo đó, thủ tục khiếu nại được thực hiện như sau:

Về hồ sơ khiếu nại gồm:

+ Đơn khiếu nại (theo Luật khiếu nại năm 2011)

+ Chứng cứ, tài liệu liên quan

Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại:

Khi đã xác định lỗi thuộc về tòa án cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm bạn gửi hồ sơ khiếu nại tới chính cơ quan đã vi phạm.

Về thời hạn giải quyết khiếu nại:

90 ngày kể từ ngày anh nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn thủ tục khiếu nại đòi lại đất bị chiếm dụng trái phép ?

>> Xem thêm:  Mẫu đơn khiếu nại áp dụng năm 2020, hướng dẫn viết đơn khiếu nại

3. Thực tiễn xét xử tội liên quan tới đưa người di cư trái phép

Pháp luật Việt Nam hiện hành không đưa ra khái niệm cụ thể về hành vi đưa người di cư trái phép. Thuật ngữ này cũng chưa được sử dụng trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, theo cách hiểu của chúng tôi thì các tội liên quan tới đưa người di cư trái phép được quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam bao gồm các hành vi như: tổ chức hoặc cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép; xuất cảnh, nhập cảnh trái phép, ở lại nước ngoài hoặc ở lại Việt Nam trái phép.

I- Khái niệm về các tội liên quan tới đưa người di cư trái phép theo pháp luật Việt Nam.

Pháp luật Việt Nam hiện hành không đưa ra khái niệm cụ thể về hành vi đưa người di cư trái phép. Thuật ngữ này cũng chưa được sử dụng trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, theo cách hiểu của chúng tôi thì các tội liên quan tới đưa người di cư trái phép được quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam bao gồm các hành vi như: tổ chức hoặc cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép; xuất cảnh, nhập cảnh trái phép, ở lại nước ngoài hoặc ở lại Việt Nam trái phép. Như vậy khái niệm đưa người di cư trái phép có phạm vi hẹp hơn so với các hành vi được hình sự hoá nêu trên của pháp luật Việt Nam.

Pháp luật hình sự Việt Nam quy định các tội liên quan đến đưa người di cư trái phép rất cụ thể và rõ ràng. Đó là:

"Người nào xuất cảnh, nhập cảnh trái phép hoặc ở lại nước ngoài, ở lại Việt Nam trái phép, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm".

Như vậy Bộ luật hình sự quy định về tội di cư trái phép là một tội ghép của nhiều tội: xuất cảnh trái phép, nhập cảnh trái phép, ở lại nước ngoài trái phép, ở lại Việt Nam trái phép.

II- Thực tiễn xét xử các tội phạm liên quan đến đưa người di cư trái phép.

Theo số liệu thống kê của ngành Toà án nhân dân thì trong 6 năm 2001-2006, các Toà án đã thụ lý 330 vụ với 760 bị cáo phạm các tội quy định tại Điều 274 và 275 Bộ luật hình sự. Như vậy số các vụ án phạm các tội nêu trên chiếm tỷ lệ không nhiều 0,11% trong tổng số các vụ án hình sự mà Toà án đã thụ lý và giải quyết. Mặt khác, loại tội này tăng, giảm không nhiều (2001 = 31 vụ; 2002 = 52 vụ; 2003 = 37 vụ; 2004 = 49 vụ; 2005 = 49 vụ; 2006 = 42 vụ). Trong số 580 bị cáo đã bị xét xử thì có 433 bị cáo bị phạt tù giam, bằng 74,6%, 133 bị cáo bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo, bằng 23%; 1 bị cáo bị áp dụng hình phạt tiền.

Sở dĩ loại tội phạm này không tăng (tức là tình hình di cư trái pháp luật) không phát triển mạnh vì nền kinh tế đất nước ta ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện cả về vật chất và tinh thần, tình trạng nghèo, đói ngày càng bị đẩy lùi và tiến tới xoá bỏ, quyền tự do dân chủ ngày càng được đề cao, tình hình chính trị ổn định nhất thế giới- một đất nước bình yên, an toàn. Mặt khác tâm lý người Việt Nam không muốn xa quê hương, tổ quốc, vạn bất đắc dĩ họ mới phải rời bỏ quê hương.

Trong tình hình hiện nay, việc tổ chức trốn đi nước ngoài trái phép theo kiểu lên thuyền vượt biên ít xảy ra mà được thực hiện bằng các thủ đoạn tinh vi hơn, có tính hợp pháp hơn thông qua việc đi du lịch, thăm người thân, xuất khẩu lao động…

Cũng không loại trừ một số trường hợp sử dụng giấy tờ giả mạo để xuất, nhập cảnh trái phép…

Do Bộ luật hình sự quy định chỉ có hai điều Luật trực tiếp liên quan đến đưa người di cư trái phép mà đó lại là các điều luật ghép của rất nhiều tội khác nhau, trong khi đó các mẫu thống kê của ngành Toà án nhân dân không có các tiêu chí thống kê cụ thể từng loại tội danh nên không thể phân tích rõ là có bao nhiêu tội tổ chức người khác trốn đi nước ngoài, ở lại nước ngoài, cưỡng ép người khác đi nước ngoài… (8 tội cụ thể).

Mặt khác các trường hợp sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận của cơ quan tổ chức, làm giả con dấu, tài liệu, chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ con dấu… có liên quan đến đưa người di cư trái phép lại là các hành vi quy định trong các tội phạm cụ thể, trong các điều luật cụ thể và tách rời hoàn toàn với các điều luật trực tiếp liên quan tới đưa người di cư trái pháp luật.

III- Một số đề xuất, kiến nghị:

1) Về pháp luật thực định.

Như đã nêu ở phần trên, một số hành vi như làm giả giấy chứng nhận của cơ quan, tổ chức, làm giả con dấu… được quy định thành các tội danh riêng biệt để xử lý với tất cả các hành vi tương ứng mà không phân biệt mục đích làm giả, sử dụng dấu giả… để làm gì. Chính vì vậy cũng có những quan điểm trái ngược nhau về việc có truy tố, xét xử đối với các hành vi "làm giả, sử dụng dấu giả…" trong các tội liên quan tới đưa người di cư trái phép không? Trong thực tiễn xét xử thì nếu việc làm giả giấy chứng nhận của cơ quan, tổ chức, làm giả con dấu hay sử dụng các giấy tờ giả mạo làm phương tiện, điều kiện để thực hiện hành vi trốn đi nước ngoài, trốn ở lại nước ngoài… thì chỉ xử lý về tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài… (tức là chỉ xử lý một hành vi mà thôi).

Như vậy, các hành vi làm giả, sử dụng giấy tờ giả… không bị xử lý là không công bằng. Do vậy, theo chúng tôi cần bổ sung vào các Điều 274, 275 các hành vi này như là các tình tiết tăng nặng của khung hình phạt. Nếu điều này được chấp nhận thì đương nhiên, Điều 274 Bộ luật hình sự sẽ không thể cơ cấu thành một cấu thành cơ bản như hiện nay mà có thể sẽ được cấu thành thêm một khoản nữa để quy định những tình tiết tăng nặng cho các tội của Điều luật này.

2) Theo pháp luật hiện hành thì các Điều 274, 275 Bộ luật hình sự là những điều luật ghép của nhiềuu tội danh khác nhau. Về kỹ thuật làm luật có thể đạt được mục đích là gọn nhưng trong thực tiễn áp dụng cũng nẩy sinh nhiều vướng mắc. Chẳng hạn như Viện kiểm sát truy tố thường trích cả Điều luật (4 tội) tức là truy tố cả bốn tội. Khi Toà án xét xử cũng không ít trường hợp tuyên bị cáo phạm cả 4 tội nhưng chỉ có một hình phạt (không tuyên từng tội, không tổng hợp hình phạt). Thực chất thì bị cáo chỉ phạm một tội trong các tội ghép mà thôi. Về mặt nguyên tắc thì cả truy tố và xét xử như vậy đều không đúng. Mặt khác tuy trong cùng một điều luật nhưng cấu thành của các tội phạm lại khác nhau về chủ quan, khách quan nên cũng dễ nhầm lẫn khi xác định tội danh (mặc dù cùng một chế tài) về mặt thống kê tội phạm cũng gặp khó khăn khi không tách riêng từng tội phạm cụ thể mà gộp chung trong một điều luật.

Để khắc phục tình trạng này, theo chúng tôi nên tách riêng từng tội danh cụ thể và có thể nghiên cứu để có những tình tiết tăng nặng, các chế tài tương xứng với hành vi phạm tội.

3) Trong khi chưa thể sửa đổi được pháp luật hình sự (Bộ luật hình sự) theo chúng tôi cũng cần ban hành một số văn bản để hướng dẫn thực hiện (áp dụng) một số quy định của Bộ luật hình sự. Ví dụ như các tình tiết "hậu quả nghiêm trọng", "hậu quả rất nghiêm trọng", "hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại Điều 275 Bộ luật hình sự.

Theo Thông tư số 09/2006/TTLT/BLĐTBXH-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 04-8-2006 hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự người có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động ở nước ngoài thì các tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng được hướng dẫn chỉ áp dụng cho các hành vi phạm tội tổ chức hoặc cưỡng ép người lao động ở lại nước ngoài trái phép (tức là chỉ trong lĩnh vực xuất khẩu lao động ở nước ngoài). Vậy các hướng dẫn này có được vận dụng trong trường hợp xử phạt đối với tội tổ chức người khác trốn đi nước ngoài, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài không?.

4) Trong thực tiễn xét xử, không phải bất cứ trường hợp nào xuất nhập cảnh trái phép, trốn đi nước ngoài, trốn ở lại nước ngoài, trốn ở lại Việt Nam (di cư)… cũng đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thực tế Việt Nam có đường biên giới rất dài với các nước Trung Quốc, Lào, Căm pu chia. Nhân dân ở các nước láng giềng này có thể chỉ cách nhau một con suối, một quả đồi. Mối quan hệ của họ nhiều khi còn là họ hàng, thông gia nên thường xuyên qua lại thăm viếng nhau. Những trường hợp này không phải là đối tượng xử lý hình sự. Một số trường hợp khác thường xảy ra ở biên giới như việc qua lại biên giới bằng đường bộ, đường thuỷ để buôn bán hàng hoá (làm "cửu vạn") cũng là hành vi xuất nhập cảnh trái phép, những hành vi loại này cũng không phải đối tượng xử lý hình sự thậm chí cũng không phải là đối tượng xử lý hành chính. Theo một số văn bản pháp luật hiện hành thì một số trường hợp như bị cưỡng ép, lừa đảo, dụ dỗ, mua chuộc phải di cư hay nói cách khác họ là nạn nhân của những hành vi phạm tội hoặc sau khi di cư đã tự nguyện xin hồi hương thì cũng không phải là đối tượng truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy nếu pháp luật quy định dấu hiệu đã bị xử phạt hành chính về hành vi xuất nhập cảnh trái phép, ở lại nước ngoài, ở lại Việt Nam trái phép là dấu hiệu định tội theo Điều 274 Bộ luật hình sự thì không khả thi đối với các trường hợp xuất, nhập cảnh đã nêu ở trên. Theo chúng tôi cần phải có hướng dẫn cụ thể về việc xử lý loại tội phạm này đặc biệt là cần phân biệt rõ ranh giới của việc xử lý hành chính với cấu thành tội phạm nhằm đảm bảo việc xử lý đúng đối tượng phạm tội, không xử lý tràn lan, không bỏ lọt tội phạm.

Một số suy nghĩ bước đầu về vấn đề này, xin các đồng chí tham khảo.

Ths. Nguyễn Quang Lộc, Thẩm phán TANDTC Nguồn: http://toaan.gov.vn

(MINH KHUE LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

---------------------------------------------------
THAM KHẢO DỊCH VỤ PHÁP LUẬT LIÊN QUAN:

4. Về tội mua bán người.

Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội mua bán người như sau:

"Điều 150. Tội mua bán người

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vì động cơ đê hèn;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;

đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

e) Đối với từ 02 đến 05 người;

g) Phạm tội 02 lần trở lên.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

đ) Đối với 06 người trở lên;

e) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Đối với trường hợp mua bán người dưới 16 tuổi, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định cụ thể tại Điều 151, như sau:

"

Điều 151. Tội mua bán người dưới 16 tuổi

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Lợi dụng hoạt động cho nhận con nuôi để phạm tội;

c) Đối với từ 02 người đến 05 người;

d) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

e) Phạm tội 02 lần trở lên;

g) Vì động cơ đê hèn;

h) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

i) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

e) Đối với 06 người trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

>> Xem thêm:  Có được tiếp tục cưỡng chế thu hồi đất trong thời gian xử lý khiếu nại, tố cáo không ?

5. Kinh nghiệm kiến nghị và đề xuất về xét xử tội mua bán người

Mua bán người là một vấn nạn có tính toàn cầu và đang có chiều hướng gia tăng đáng lo ngại trên phạm vi toàn thế giới. Ở Việt Nam, tội phạm mua bán người là một hiện tượng chỉ mới xuất hiện khoảng hơn một chục năm trở lại đây, song tính đa dạng và phức tạp cũng như những hậu quả nghiêm trọng mà loại tội phạm này gây ra cho nạn nhân, gia đình xã hội đã thu hút sự quan tâm đặc biệt và lo ngại sâu sắc của Nhà nước và cộng đồng.

1. Tình hình tội phạm về mua bán người và công tác xét xử

Trong những năm trước, mua bán người chỉ xảy ra ở một số tỉnh, thành phố thì nay đã lan rộng ra nhiều khu vực khác trong cả nước và hình thành nhiều đường dây tổ chức hoạt động xuyên quốc gia và quốc tế.
Qua công tác xét xử, tội phạm mua bán người xảy ra ngày càng phức tạp, nghiêm trọng và có xu hướng gia tăng. Nạn nhân của loại tội phạm này phần lớn là phụ nữ và trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài đến nhiều nước khác nhau, còn lại số phụ nữ và trẻ em bị mua bán ở trong nước chủ yếu từ các vùng nông thôn, miền núi ra thành phố, thị xã để làm gái mại dâm và bị bóc lột dưới nhiều hình thức khác. Có thể nói tình hình mua bán người ở Việt Nam trong những năm gần đây đang diễn biến rất phức tạp và đáng lo ngại.
Trong nước, nhất là các tỉnh giáp biên giới phía Bắc và miền Tây Nam bộ như: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang, Thái Bình, An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ... Theo báo cáo, thống kê của các Toà án địa phương, chỉ tính riêng trong năm 2006 số vụ án mua bán người đã bị truy tố và đưa ra xét xử tăng 36% về số vụ; 58% số bị cáo so với cùng kỳ năm trước (riêng Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, số vụ án mua bán người đã được đưa ra xét xử tăng 53% số vụ, 76% số bị cáo; Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử tăng 50% số vụ, 71% số bị cáo).
Trước tình hình đó, Toà án nhân dân tối cao đã phối hợp với các cơ quan tư pháp ở trung ương chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan tiến hành tố tụng địa phương nhận thức đúng tính chất và yêu cầu cấp bách của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán người; áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp, khẩn trương phát hiện, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử kịp thời nghiêm minh các hành vi phạm tội.
Trong 5 năm (từ năm 2005 đến năm 9/2010), toàn ngành Toà án nhân dân đã xét xử theo thủ tục sơ thẩm 769 vụ án với 1396 bị cáo trong tổng số 778 vụ với 1421 bị cáo phải giải quyết, đạt tỷ lệ 98,0%. Các Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt 02 bị cáo tù chung thân; tổng hợp hình phạt tù từ trên 20 năm đến 30 năm tù, đối với 22 bị cáo; xử phạt tù từ trên 15 năm đến 20 năm 105 bị cáo; xử phạt tù từ trên 7 năm đến 15 năm 415; bị xử phạt tù với mức hình phạt dưới 7 năm là 751 bị cáo; phạt tù nhưng cho hưởng án treo 81 bị cáo...Ngoài việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn là hình phạt chính, các Toà án còn áp dụng các hình phạt bổ sung như phạt tiền, quản chế.... đối với những bị cáo này.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Nhìn chung, hình phạt mà các Tòa án đã áp dụng đối với các bị cáo phạm các tội mua bán người đã đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này. Đặc biệt sau khi có Chỉ thị số 01/2005/CT-TA ngày 30/8/2005 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về công tác đấu tranh đối với một số tội phạm gây bức xúc trong tình hình hiện nay, trong đó có các vụ án về mua bán người, thì việc cho các bị cáo phạm tội mua bán người được hưởng án treo đã được xem xét, cân nhắc một cách hết sức kỹ lưỡng (cùng kỳ trước khi có Chỉ thị của Chánh án, các bị cáo phạm tội mua bán người được Tòa án cho hưởng án treo chiếm 10% trong tổng số các bị cáo đã được đưa ra xét xử về các tội danh này, nhưng từ sau khi có Chỉ thị, số lượng này chỉ chiếm 0,6%, giảm 0,4%).
Công tác xét xử lưu động các vụ án về mua bán người luôn được ngành Toà án quan tâm, coi trọng. Mặc dù còn nhiều khó khăn về kinh phí, phương tiện nhưng Toà án nhân dân tối cao luôn chỉ đạo các Toà án nhân dân địa phương chú trọng, làm tốt việc tổ chức các phiên toà xét xử lưu động tại những địa bàn trọng điểm, các địa phương giáp với vùng biên giới, rất nhiều phiên toà được tổ chức các xã vùng sâu, vùng xa ...các phiên toà đều được chuẩn bị kỹ lưỡng về nội dung cũng như việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua đó nâng cao ý thức pháp luật trong quần chúng nhân dân và nâng cao ý thức cảnh giác cho người dân, đặc biệt là đối tượng là phụ nữ và trẻ em ở vùng có nguy cơ cao, phát huy tác dụng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Một số địa phương làm tốt công tác này như: ngành Toà án nhân dân thành phố Hà Nội và các Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Lạng Sơn, Tây Ninh...
Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Toà án nhân dân tối cao đã làm tốt công tác giám đốc việc xét xử các vụ án mua bán người của các Tòa án cấp dưới, thông qua đó kịp thời phát hiện các sai sót để rút kinh nghiệm hoặc kháng nghị giám đốc thẩm để xét xử lại vụ án, nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đúng pháp luật. Ban thanh tra của Toà án nhân dân tối cao trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình đã tiến hành kiểm tra lồng ghép việc thực hiện chương trình phòng chống tội phạm mua bán người của các Toà án địa phương.
Như vậy có thể thấy số lượng các vụ án mua bán người mà ngành Toà án nhân dân phải thụ lý giải quyết trong 5 năm gần đây ngày càng gia tăng. Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng các Toà án các cấp đã có nhiều cố gắng nên việc giải quyết các vụ án mua bán người đạt tỷ lệ cao và chất lượng giải quyết ngày càng tiến bộ, đặc biệt là không có án tồn đọng và quá hạn luật định. Việc xét xử các vụ án mua bán người về cơ bản đã đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nhiều vụ án nghiêm trọng đã được các Toà án phối hợp chặt chẽ với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát để khẩn trương đưa ra xét xử công khai, nghiêm minh; các hình phạt áp dụng đối với người phạm tội nghiêm khắc, đúng mức, được dư luận nhân dân đồng tình. Công tác xét xử các vụ án mua bán người của ngành Toà án đã góp phần thực hiện tốt Chương trình Quốc gia về phòng, chống tội phạm mua bán mua bán người, thông qua đó góp phần giáo dục nhân dân nâng cao ý thức pháp luật, tinh thần cảnh giác và đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người.

2. Thực trạng trong công tác phối hợp truy tố, xét xử các tội phạm về mua bán người

Trong những năm qua, việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết các vụ án mua bán người về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của việc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này.
Chính vì vậy hầu hết các vụ án mua bán người đều được các cơ quan tiến hành tố tụng xác định là các vụ án điểm nên đã cử cán bộ, Thẩm phán phối hợp chặt chẽ với các Công an, Viện kiểm sát để nắm bắt hồ sơ vụ án từ giai đoạn điều tra, nên việc tổ chức phiên tòa xét xử vụ án có nhiều thuận lợi, vừa đảm bảo đúng thời hạn xét xử do Luật quy định, vừa đảm bảo xét xử, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với những vụ án được lựa chọn là án điểm, xét xử lưu động tại địa phương xảy ra vụ án, các Tòa án đã có phương án phối hợp với Công an, Viện kiểm sát, chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan để làm tốt công tác chuẩn bị mở phiên tòa, đảm bảo an toàn tại các phiên tòa và đề cao tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa của phiên tòa. Một số Tòa án đã phối hợp với chính quyền địa phương để tổ chức truyền thanh trực tiếp diễn biến của phiên tòa để nhân dân địa phương theo dõi. Các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương đều đưa tin, tuyên truyền về kết quả xét xử của Tòa án đã có tác dụng rất tốt trong đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng.
Tuy nhiên, công tác phối hợp ở một số nơi cũng chưa tốt nên một số vụ án mua bán người vẫn phải trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung (trong 05 năm có 61 vụ án phải yêu cầu điều tra bổ sung chiếm hơn 6% tổng số vụ án đã thụ lý), thậm chí có vụ án phải trả hồ sơ tới hai lần, gây kéo dài vụ án; một số vụ án phải hoãn phiên tòa vì việc chuẩn bị phiên tòa chưa chu đáo, không lường trước được những khả năng có thể xảy ra tại phiên tòa; một số vụ án do công tác chuẩn bị phiên tòa chưa tốt nên việc trang trí phiên tòa lưu động chưa nghiêm túc, công tác bảo vệ chưa chu đáo nên mất trật tự, dẫn giải bị cáo đến phiên tòa muộn so với thời gian Tòa án mở phiên tòa. Một số nơi do không đủ kinh phí mở các phiên tòa lưu động và không có sự phối hợp, giúp đỡ của chính quyền địa phương nên hạn chế tác dụng của việc xác định vụ án điểm vì không tổ chức xét xử lưu động được.
Hiện nay, một số cơ quan bổ trợ tư pháp chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác giải quyết các vụ án hình sự nói chung và các vụ án mua bán người nói riêng, nên các cơ quan tiến hành tố tụng còn gặp khó khăn, thậm chí kéo dài vụ án.
Đối với một số vướng mắc trong giải quyết các vụ án mua bán người chưa được liên ngành Tư pháp trung ương quan tâm tổng kết và có hướng dẫn cụ thể, vì vậy một số vụ án Tòa án trả hồ sơ yêu cầu điều tra nhưng cơ quan điều tra không đáp ứng được (chẳng hạn như yêu cầu làm rõ số tiền mua bán, lấy lời khai của người bị hại khi họ không có mặt tại Việt Nam vv...).


3. Kinh nghiệm trong hoạt động phối hợp truy tố, xét xử các tội phạm về mua bán người
Từ thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm về mua bán người trong những năm qua, chúng ta có thể rút ra được một số kinh nghiệm, đó là:
- Chỉ đạo chặt chẽ sâu sát việc thực hiện Chương trình đấu tranh phòng chống các tội phạm về mua bán người cũng như Chỉ thị số 16/2007/CT-TTg ngày 27 tháng 6 năm 2007 của Thủ tướng chính phủ về việc tăng cường thực hiện chương trình hành động mua bán người; Kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các ngành, các cấp;
- Phối hợp với các cơ quan tư pháp trung ương ban hành các văn bản pháp luật nhằm hướng dẫn áp dụng đúng và thống nhất pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Cùng với việc khẩn trương nghiên cứu, ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, Toà án nhân dân tối cao luôn quan tâm nghiên cứu, giải đáp những vấn đề về nghiệp vụ hoặc những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật, giúp cho các Toà án các cấp áp dụng đúng pháp luật để ngày càng nâng cao chất lượng công tác xét xử các vụ án mua bán người;
- Phân công cán bộ, Thẩm phán có năng lực, trình độ và kinh nghiệm chuyên môn để xét xử các vụ án mua bán người; thường xuyên phối hợp, họp bàn với các cơ quan tiến hành tố tụng để đề ra những biện pháp tháo gây vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải quyết các vụ án, đảm bảo nâng cao chất lượng xét xử các vụ án mua bán người và các vụ án liên quan đến tội phạm mua bán người; Đảm bảo các vụ án này được tiến hành chính xác, đúng pháp luật không để quá hạn luật định, tồn đọng; kiên quyết không xét xử oan hoặc bỏ lọt tội phạm;
- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng để lựa chọn một số vụ án trọng điểm về mua bán người đưa ra xét xử lưu động tại các địa bàn phức tạp, các vùng giáp biên, các xã vùng sâu, vùng xa ...
Mặc dù còn nhiều khó khăn về kinh phí, phương tiện nhưng trong 5 năm qua Toà án nhân dân tối cao luôn chỉ đạo các Toà án nhân dân địa phương chủ động, tích cực phối hợp với chính quyền địa phương để tranh thủ sự quan tâm, hỗ trợ về kinh phí và các điều kiện cần thiết khác để tổ chức tốt các phiên toà xét xử lưu động, đảm bảo an toàn và hiệu quả. Thời gian qua các Tòa án đã tổ chức xét xử lưu động hơn 300 phiên toà, trong đó có nhiều phiên tòa được tổ chức ở các xã vùng sâu, vùng xa ...các phiên toà đều được chuẩn bị kỹ lưỡng về nội dung cũng như việc phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng ở trung ương và địa phương kịp thời tuyên truyền kết quả xét xử các vụ án về mua bán người thông qua đó nâng cao ý thức pháp luật, ý thức cảnh giác cho người dân, nhất là phụ nữ và trẻ em ở vùng có nguy cơ cao, phát huy tác dụng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Một số địa phương làm tốt công tác này như: ngành Toà án nhân dân thành phố Hà Nội và các Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Lạng Sơn, Tây Ninh...

4. Một số kiến nghị và đề xuất

Từ thực tiễn công tác xét xử các vụ án mua bán người, để hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm này đạt hiệu quả hơn nữa, bước đầu chúng tôi có một số kiến nghị, đề xuất như sau:
- Cần nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố để tạo cơ sở thuận lợi cho hoạt động xét xử của Toà án, tránh việc trả lại hồ sơ vụ án giữa các cơ quan tiến hành tố tụng dẫn tới kéo dài việc giải quyết vụ án.
- Các cơ quan tiến hành tố tụng cần tăng cường hơn nữa sự phối hợp trong công tác để nhanh chóng điều tra, truy tố, xét xử các vụ án mua bán người theo đúng quy định của pháp luật; Đối với các vụ án mua bán người cần được xác định, lựa chọn là các vụ án điểm, từ đó cần phải tăng cường sự phối hợp giữa Công an, Viện kiểm sát, Tòa án từ giai đoạn điều tra. Các cơ quan tiến hành tố tụng cần tổ chức họp bàn để giải quyết các vướng mắc phát sinh từ giai đoạn điều tra, có như vậy sẽ tránh được việc trả hồ sơ vụ án để yêu cầu điều tra bổ sung.
Trong giai đoạn điều tra, Tòa án được tiếp cận với các tài liệu điều tra và có ý kiến đóng góp với cơ quan điều tra cả về nội dung và hình thức. Chẳng hạn như cần điều tra thêm những gì, thu thập thêm những chứng cứ nào hoặc cần đảm bảo các quy định về tố tụng như quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa của bị can, người bị hại…
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án có thể phối hợp với Viện kiểm sát, Công an trong việc cần phải thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo, đặc biệt là việc bắt tạm giam để đảm bảo xét xử các vụ án điểm, án lưu động; trong việc áp giải người làm chứng; trong việc dẫn giải bị cáo đến phiên tòa, trong việc bảo vệ phiên tòa…, phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan để đảm bảo tổ chức tốt phiên tòa.
Trong phiên tòa, Tòa án phải đảm bảo điều hành phiên tòa đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyết định của bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Sau phiên tòa, Tòa án phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật về kháng cáo, kháng nghị hoặc đảm bảo ra quyết định thi hành bản án, quyết định kịp thời…

- Thường xuyên rà soát, phát hiện sớm tội phạm, tấn công để triệt phá, bóc dỡ tận gốc các tổ chức, đường dây tội phạm loại này. Tổ chức rút kinh nghiệm về công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án mua bán người ở một số địa phương trọng điểm, từ đó có thể rút kinh nghiệm, chỉ đạo chung trong toàn quốc.

- Cần tiếp tục tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán người, phải coi đó là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân và được các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các tổ chức, đoàn thể xã hội và mọi người dân quyết tâm thực hiện. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia phòng chống tội phạm mua bán người, đặc biệt là tăng cường công tác tuyên truyền, đề cao cảnh giác cho các phụ nữ, trẻ em ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng giáp biên đối với các thủ đoạn của bọn tội phạm mua bán người. Làm tốt công tác giải quyết việc làm cho các phụ nữ là nạn nhân các vụ án mua bán phụ nữ đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

- Đầu tư thích đáng về con người và cơ sở vật chất, phương tiện cho các lực lượng chủ chốt trong công tác phòng chống tội phạm mua bán người và các lực lượng liên quan, trong đó cần đảm bảo kinh phí hỗ trợ cho Toà án các cấp để tổ chức xét xử các vụ án điểm, tăng cường công tác xét xử lưu động, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân.

Lê Phương An – Tòa án nhân dân tối cao

(MINH KHUE LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn về thu hồi đất, bồi thường đất và thủ tục khiếu nại ?