1. Nghĩa vụ của Việt Nam khi tham gia Công ước Ramsar

Tham gia Công ước Ramsar, Việt Nam xác định nghĩa vụ phải thực hiện các cam kết quốc tế về bảo tồn và sử dụng khôn ngoan các vùng đất ngập nước theo đúng nguyên tắc của quốc tế và đề xuất một số điểm đất ngập nước theo tiêu chuẩn Ramsar.

Công ước Ramsar đã xác định 4 nghĩa vụ chính của các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam là:

1) Đề xuất ít nhất 1 vùng đất ngập nước vào danh sách các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (Điều 21). Các vùng đất ngập nước nên chọn trên cơ sở ý nghĩa quốc tế về sinh thái học, thực vật học, động vật học, thuỷ học (Điều 2.2).

Các bên có nghĩa vụ thông báo các thay đổi về đặc điểm sinh thái của các vùng đã đăng kí (Điều 3.2).

Các bên có thể huỷ bỏ hoặc hạn chế giới hạn của các vùng ngập nước đã được đăng kí nhưng sau đó phải bồi thường (Điều 2.5 và 4.2).

2) Các bên phải ban hành tiêu chuẩn về đăng kí và về quản lí các vùng đã đăng kí.

3) Các bên phải đưa việc bảo tồn các vùng đất ngập nước và kể hoạch sử dụng khôn ngoan các vùng đất ngập nước trên lãnh thổ quốc gia (Điều 3.1).

Các bên lập chính sách về các vùng đất ngập nước quốc gia (gồm chính sách, pháp luật và các thể chế).

Các bên thúc đẩy sự hiểu biết về các vùng đất ngập nước và giá trị của chúng (gồm tiến hành các sáng chế, thực hiện kiểm soát, nghiên cứu, đào tạo và hiểu biết của cộng đồng).

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

Các bên thực hiện các hành động tại các vùng đất ngập nước đã được đăng kí (giải quyết các yếu tố sinh thái, các hoạt động của con người, hoà nhập lập kế hoạch quản lí và các vấn đề này).

Các bên phải lập bảo tồn thiên nhiên ở các vùng đất ngập nước (dù rằng vùng đó đã đăng kí hay chưa).

Các bên cử những người có ưách nhiệm bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên.

40 Các bên hợp tác và tư vấn lẫn nhau trong thực hiện Công ước, đặc biệt đối với các vùng đất ngập nước chung, các hệ thống nước chung và các loài chung (có nghĩa là các vùng đất ngập nước, các hệ thống hoặc các loài động thực vật mở rộng vượt ra khỏi lãnh thổ của một quốc gia thành viên) (Điều 5).

2. Các hoạt động tổ chức thực hiện Công ước Ramsar

+ Về tổ chức quản lý:

Để triển khai thực hiện Công ước về các vùng đất ngập nước, Chính phủ Việt Nam đã xác định:

Chính phủ thống nhất quản lí nhà nước về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước.

Bộ tài nguyên và môi trường là cơ quan đầu mối quốc gia thực hiện Công ước Ramsar, thực hiện chóc năng quản lí nhà nước về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước. Bộ tài nguyên và môi trường là cơ quan chủ trì, phối hợp với Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ thuỳ sản triển khai việc lập quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập;

>> Xem thêm:  Thực hiện điều ước quốc tế là gì ? Quy định pháp luật Việt Nam về thực thi điều ước quốc tế

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn chịu trách nhiệm về đất ngập nước trong phạm vi đất canh tác lúa nước, các khu rừng là vườn quốc gia hay khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước, các công trình thủy lợi, các hồ chứa; đất ngập nước ưong phạm vi diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản và vùng ven bờ biển.

Các bộ, cơ quan, ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm theo chức năng, nhiệm vụ được giao, ở địa phương, mỗi sở, ngành sẽ chịu trách nhiệm quản lí nhà nước về lĩnh vực của mình trong đó có vấn đề liên quan đất ngập nước theo quy định của pháp luật và sự phân công của ủy ban nhân dân tỉnh.

Một đậc điểm cơ bàn là các vùng đất ngập nước ờ Việt Nam là nơi sinh sống của các cộng đồng dân cư từ thế hệ này sang thế hệ khác, đã hình thành những giá trị văn hoá, tập quán canh tác đặc thù, vì vậy mà việc quàn lí đất ngập nước không thể tách biệt chuyên ngành với việc phát triển cộng đồng.

+ Xây dựng hệ thống pháp luật:

Hiện tại, những vấn đề pháp lý về quản lí đất ngập nước được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật có liên quan, như: Luật bào vệ môi trường, Luật tài nguyên nước, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật thủy sản, Luật đất đai... Tuy nhiên, những văn bản này thường chỉ đề cập từng khía cạnh về bảo tồn, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên đất ngập nước và hệ sinh thái đất ngập nước còn vấn đề quản lí tổng thể về đất ngập nước thì được đề cập trong Nghị định của Chính phủ số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 về bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập nước Việt Nam. Đồng thời, theo chức năng, nhiệm vụ được giao, ngày 5/4/2004 Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường đã ban hành Quyết định số 04/2004/QĐ-BTNMT phê duyệt Kê hoạch hành động về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước giai đoạn 2004-2010, với mục tiêu: Bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập nước ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu phát ttiển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và đa dạng sinh học.

Ngoài ra, các bộ, ngành khác cũng đã ban hành nhiều hướng nẫn kĩ thuật có liên quan tới việc quản lí, sử dụng bền vững đất ngập nước: Quy trình kĩ thuật về sản xuất cây ttồng, vật nuôi và các kĩ thuật khuyến nông, Quy trình kĩ thuật liên quan đến quản lí rừng, trong đó có các khu rừng liên quan đến các vùng đất ngập nước, nhất là rừng đặc dụng, Quy trình kĩ thuật quản lí các công trình thủy lợi, tính toán cân bằng nước và kiểm soát lũ, cung cấp nước cho các ngành nuôi ưồng thủy sản và nông nghiệp, Quy trình kĩ thuật về quản lí nguồn lợi thủy sàn và nuôi ttồng thủy sản ở vùng nước mặn và nước ngọt.

+ Các hoạt động triển khai khác:

- Tuyên truyền, giáo dục, đào tạo về đất ngập nước

Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về đất ngập nước, từ khái niệm thế nào là đất ngập nước đến những vấn đề liên quan tới quản lí đất ngập nước, chính sách và thể chế ở cấp trung uơng và cấp địa phương về đất ngập nước và trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội đối với việc bảo tôn và sử dụng hợp lí tài nguyên đất ngập nước. Các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức được tiến hành thường xuyên, đặc biệt là vào khoảng thời gian kỉ niệm ngày đất ngập nước quốc tế.

Đã bước đầu hình thành các chương trình, các khoá đào tạo về đất ngập nước ở các trường đại học. Các khoá tập huấn được tổ chức thường xuyên.

>> Xem thêm:  Phê duyệt điều ước quốc tế là gì ? Các nguyên tắc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế

- Các hoạt động bảo tồn đất ngập nước

Việt Nam đã đề xuất được một vùng đất ngập nước vào danh sách các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đó là vùng đất ngập nước Xuân Thủy, tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam ' Định, với tổng diện tích 12.000 ha và duy trì chế độ bảo tồn theo quy chế pháp lý quốc tế từ đó đến nay. Đây là khu Ramsar đầu tiên ở Đông Nam á và là khu thứ 50 trên thế giới. Việt Nam cũng đang ’ có những nỗ lực để có thể đưa thêm các vùng đất ngập nước vào trong Danh sách này đồng thời quyết định thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước. Trong 68 vùng đất ngập nước được thống kê bao gồm các hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo, các đầm, phá, cửa sông, các sân chim, các khu rừng ngập nước, các trảng cỏ ngập nước theo mùa, có 17 vùng đất ngập nước đã được Chính phù công nhận và 20 vùng đất ngập nước đã được đề nghị trong hệ thống khu bảo tồn rừng.

- Kiểm kê, quy hoạch các vùng đất ngập nước trên toàn quốc.

Việc kiểm kê đất ngập nước của Việt Nam được thực hiện từ những năm 1990 và được cập nhật bổ sung, hoàn thiện. Ngoài ra, các vùng đất ngập nước Việt Nam cũng được đưa vào trong “Danh mục các vùng đất ngập nước châu á” (A Dữectory of Asian Wetlands). Việc xây dựng quy hoạch tổng thể về bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập nước cấp quốc gia (tương thích với bản đồ đất ngập nước tỉ lệ 1/1.000.000) và cấp vùng sinh thái (tương thích với bản đồ đất ngập nước tỉ lệ 1/250.000) đang được thực hiện để sớm hoàn chỉnh, công bố.

Đây sẽ là những cơ sở quan trọng cho việc hoạch định chủ trương, đường lối sử dụng các vùng đất ngập nước một cách bền vững.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Ký tắt điều ước quốc tế là gì ? Tên gọi, cơ cấu, ngôn ngữ của điều ước quốc tế