Trả lời:

1. Thoả thuận khai thác chung Malaysia - Thái Lan

Theo thoả thuận tại Bản ghi nhớ giữa Malaysia và Vương quốc Thái Lan năm 19791, vùng khai thác chung Malaysia - Thái Lan có diện tích rộng khoảng 7.250km2, được giới hạn bởi 7 điểm được đánh dấu từ điểm A đến điểm G với các tọa độ được ghi nhận cụ thể. Trung tâm của vùng khai thác chung nằm cách bờ biển Pattani (Thái Lan) khoảng 180km, cách Songkhla (Thái Lan) khoảng 260km và cách Kota Bahru (Malaysia) khoảng 150 km.

Để điều hành các hoạt động trong khu vực khai thác chung, hai quốc gia quyết định thành lập Cơ quan quản lý chung với thành phần gồm hái đồng chủ tịch và số lượng thành viên như nhau đến từ hai quốc gia (7 thành viên mỗi bên). Cơ quan này đảm nhận tất cả các quyền và trách nhiệm đại diện cho hai bên ký kết trong việc khai thác tài nguyên phi sinh vật của đáy biển và lòng đẩt dưới đáy biển tại khu vực khai thác chung, đồng thời chịu trách nhiệm quản lý và kiểm soát hoạt động khai thác trong khu vực này. Cơ quan quản lý chung có quyền ký kết họp đồng với các doanh nghiệp để trực tiếp khai thác tài nguyên phi sinh vật của khu vực khai thác chung. Tuy nhiên, Cơ quan quản lý chung không có trách nhiệm đối với các vấn đề khác như hoạt động nghề cá, hàng hải, nghiên cứu khoa học biển, ô nhiễm môi trường biển... Thời hạn hoạt động của Cơ quan quản lý chung là 50 năm kể từ ngày Bản ghi nhớ có hiệu lực.

Bản ghi nhớ Malaysia - Thái Lan cũng xác định đường ranh giới phân chia quyền tài phán hình sự giữa hai quốc gia. Đường ranh giới phân chia quyền tài phán hình sự chính là đường chia đôi khu vực khai thác chung, chạy từ đỉnh đến đáy của khu vực. Thái Lan có quyền tài phán hình sự ở phía Bắc đường ranh giới, còn Malaysia có quyền tài phán hình sự ở phía Nam đường ranh giới. Đường ranh giới này chỉ có ý nghĩa phân chia quyền tài phán hình sự giữa hai quốc gia mà không được coi là đường phân định vùng thềm lục địa, và nó cũng không làm phương hại đến yêu sách về quyền chủ quyền của hai quốc gia.

Bản ghi nhớ cũng đề cập đến khả năng có mỏ dầu khí nằm trải rộng ra ngoài vùng khai thác chung. Khi đó các bên phải có trách nhiệm thông báo cho nhau và cùng nhau tìm cách giải quyết sao cho có thể khai thác một cách hiệu quả nhất và không làm ảnh hưởng đến lợi ích của các bên.

Bản ghi nhớ Malaysia - Thái Lan là một thoả thuận đề cập đến khá nhiều vấn đề liên quan đến hoạt động khai thác chung, trong đó có các quy định chi tiết về việc thiết lập Cơ quan quản lý chung, quy định quyền và nghĩa vụ của cơ quan này. Bản ghi nhớ đã góp phần củng cổ và tăng cường quan hệ chính trị, kinh tế giữa hai quốc gia, trở thành một hình mẫu cho sự hợp tác về khai thác chung trong khu vực và trên thế giới, thúc đẩy các bên trong việc hợp tác cùng phát triển.

2. Thoả thuận khai thác chung Bahrain - Saudi Arabia

Thoả thuận khai thác chung Bahrain - Saudi Arabia được đề cập trong Điều 2 của Hiệp định phân định thềm lục địa giữa hai quốc gia năm 1958. Hiệp định gồm Phần mở đầu và 6 điều khoản. Theo Hiệp định, ranh giới phân định thềm lục địa được xác định theo nguyên tắc cách đều, chạy quá 14 điểm, cách đều các điểm được xác định trên lãnh thổ của hai quốc gia. Khu vực khai thác chung Fashtu Bu Saafa Hexagon được xác lập bởi 6 điểm với các tọa độ cụ thể được quy định trong Hiệp định. Khoảng cách trung bình giữa 6 điểm của Fashtu Bu Saafa Hexagon là 14,21 hải lý, với khoảng cách tối đa và tối thiểu giữa các điểm là 0,5 và 28,25 hải lý.

Điểm đặc biệt của khu vực Fashtu Bu Saafa Hexagon là nằm hoàn toàn phía bên trái đường ranh giới hoạch định thềm lục địa giữa hai quốc gia và do đó nằm trọn trong vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Saudi Arabia. Theo quy định của Công ước luật biển năm 1982, Saudi Arabia có toàn quyền khai thác tài nguyên của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của khu vực này. Tuy nhiên, hai quốc gia đã thoả thuận xác lập khu vực khai thác chung.

Mô hình khai thác chung Bahrain - Saudi Arabia là mô hình đại diện quản lý. Theo thỏa thuận, khu vực Fashtu Bu Saafa Hexagon nằm dưới quyền quản lý của Saudi Arabia, nguồn tài nguyên dầu khí trong khu vực này sẽ được khai thác khi Saudi Arabia xét thấy phù họp. Lợi nhuận thu được từ việc khai thác sẽ được phân chia ngang bằng giữa hai quốc gia.

Kết quả thỏa thuận nêu trên thể hiện rõ sự dung hoà về lợi ích giữa các quốc gia trong quá trình phân định biển. Trong thực tiễn, quốc gia thường chỉ xác lập khu vực khai thác chung với quốc gia khác trong vùng biển thuộc chủ quyền hoặc quyền chủ quyền của mình nếu như quốc gia chưa đủ khả năng khai thác, nhưng trong trường hợp này Saudi Arabia hoàn toàn có khả năng khai thác (trong Hiệp định cũng đã xác định) nhưng vẫn đồng ý thỏa thuận với Bahrain để xác lập vùng khai thác chung. Ngoài ra, khu vực khai thác chung trong thực tiễn của các quốc gia thường chỉ được xác lập tại nơi đã có đường ranh giới phân định biển nếu như có sự hiện diện của mỏ tài nguyên nằm vắt ngang. Khu vực khai thác chung Bahrain - Saudi Arabia cũng không giống với cảc trường hợp mang tính phổ biển này. Mặc dù vậy, theo thỏa thuận trong Hiệp định, việc xác lập vùng khai thác chung và phân chia lợi nhuận giữa các bên không làm ảnh hưởng tới việc thực hiện quyền chủ quyền củạ Saudi Arabia đối với vùng biển Fashtu Bu Saafa Hexagon.

3. Thỏa thuận khai thác chung Nhật Bản - Hàn Qụốc

Hiệp định nghề cá Nhật Bản - Hàn Quốc được ký kết vào năm 1965, sau đố được thay thế bởi Hiệp định khai thác chung nghề cá năm 1999. Đây là Hiệp định được ký kết nhằm xác lập khu vực khai thác chung ở nơi vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn giữa hai quốc gia nhưng chưa có đường ranh giới phân định.

Hiệp định khai thác chung nghề cá Nhật Bản - Hàn Quỗc năm 1999 xác lập các khu vực khai thác chung (khu vực số 1 và khu vực số 2 trong Bản đồ bên dưới), tại đó mỗi bên cho phép ngư dân và tàu cá của bên kia được quyền khai thác cá trong vùng đặc quyền kinh tế của mình phù hợp với quy định của Hiệp định và các quy định có liên quan khác. Hai quôc gia cũng đã thiết lập ủy ban nghề cá Nhật Bản - Hàn Quốc nhằm đưa ra các tư vấn, khuyến nghị và các quyết định ràng buộc đối với Chính phủ của hai bên về những vấn đề liên quan đến hoạt động nghề cá trong khu vực khai thác chung như: Các loài cá được phép đánh bắt, trữ lượng cá được phép đánh bắt, các khu vực đánh bắt cũng như các điều kiện khác... ủy ban cũng có thể đưa ra các ý kiến tư vấn, khuyển nghị đối với việc bảo tồn và quản lý nguồn tài nguyên cá và các sinh vật biển khác.

Mô hình quản lý khu vực khai thác chung của Hiệp định nghề cá Nhật Bản - Hàn Quốc là mô hình cùng quản lý. Hai quốc gia trực tiếp cử đại diện tham gia quản lý hoạt động khai thác chung thông qua ủy ban nghề cá Nhật Bản - Hàn Quốc. Mô hình này thể hiện tính chặt chẽ của cơ chế hợp tác, đảm bảo sự công bằng trong phân chia quyền quản lý và nhanh chóng giải quyết các vấn đề phát sinh. Trong trường hợp có tranh chấp, các bên sẽ giải quyết bằng biện pháp trọng tài. Tuy nhiên, biện pháp này không mang tính bắt buộc đối với các bên.

Trong khu vực Đông Bắc Á, ngoài Hiệp định khai thác chung nghề cá Nhật Bản - Hàn Quốc, các quốc gia trong khu vực cũng đã ký kết các thỏa thuận tương tự như Hiệp định khai thác chung nghề cá Hàn Quốc - Trung Quốc năm 1993, Hiệp định ngư nghiệp Nhật Bản - Trung Quốc năm 1997. Nhìn chung, mô hình khai thác trong các hiệp định này tương tự nhau, đều là mô hình cùng quản lý với sự tham gia quản lý và khai thác của các quốc gia liên quan. Điều này cũng thể hiện tính phổ biển của mô hình khai thác không chỉ ở khu vực Đông Bắc Á mà cả ở các khu vực khác trên thể giới.

4. Hiện trạng khai thác chung trên Biển Đông

Là một trong những biển nửa kýn lớn nhất thế giới, Biển Đông được coi là một trong những khu vực chiến lược hàng đầu với những tuyến đường hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới, nối khu vực Đông Bắc Á và Tây Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương và Trung Đông, đồng thời là kho tài nguyên quý giá với tiềm năng dầu khí, khí đốt thiên nhiên và là nguồn cung cấp hải sản quan trọng cho các đội tàu đánh cá của nhiều quốc gia trong khu vực. Công ước luật biển năm 1982 với những quy định tạo điều kiện cho quốc gia ven biển mở rộng các vùng biển của mình đã khiến cho Biển Đông được bao phủ bởi các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển. Ý nghĩa hàng hải chiến lược, sự giàu có về tài nguyên và vai trò trong chiến lược kinh tế, an ninh, quốc phòng của các quốc gia trong khu vực cũng như các cường quốc hàng đầu đã khiến nơi đây trở thành vùng biển chứa đựng những tranh chấp phức tạp nhất trên thế giới.

Tranh chấp tại Biển Đông về mặt pháp lý chủ yếu xoay quanh những tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển trong đó có những tranh chấp về phân định biển, đặc biệt là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa các các quốc gia. Hiện tại, tám quốc gia và vùng lãnh thổ cùng tuyên bố yêu sách chủ quyền đổi với các đảo, quần đảo trên Biển Đông:

- Singapore và Malaysia tranh chấp chủ quyền đối với đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, vốn có một trí chiến lược trong vùng biển Malacca và eo biển Singapore;

- Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Việt Nam cùng tranh chấp chủ quyền đổi với quần đảo Hoàng Sa;

- Đài Loan (Trung Quốc) và Trung Quốc tranh chấp về chủ quyền đối với đảo Pratas và bãi Macclesfield;

- Đối với quần đảo Trường Sa, sáu quốc gia và vùng lãnh thổ đều nhận mình có chủ quyền một phần hay toàn bộ, bao gồm: Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Việt Nam tuyên bố chủ quyền với toàn bộ quần đảo; Philippines, Malaysia và Brunei tuyên bố có chủ quyền đối với từng phần của quần đảo, trừ Brunei, các quốc gia và vùng lãnh thổ đều có sự hiện diện về mặt quân sự trên quần đảo Trường Sa.

Bên cạnh đó, còn phải kể đến hàng loạt các tranh chấp liên quan đến phân định biển, bao gồm, tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ và khu vực ngoài cửa Vịnh; giữa Thái Lan và Việt Nam, Thái Lan và Campuchia trong Vịnh Thái Lan; tranh chấp phân định vùng đặc quyền kinh tế vả thềm lục địa giữa Việt Nam và Malaysia trong Vịnh Thái Lan và phía Nam Biển Đông; tranh chấp phân định thềm lục địa giữa Việt Nam - Indonesia phía Tây Nam Biển Đông; tranh chấp các vùng biển chồng lấn của Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Việt Nam...

Xuất phát từ yêu cầu phải giải quyết các tranh chap song song với nhu cầu khai thác tài nguyên nhưng không làm phức tạp thêm các khu vực tranh chấp, đến nay, một số hoạt động khai thầc chung đã được tiến hành giữa các quốc gia tạỉ khu vực Biển Đông;

- Bản ghi nhớ giữa Malaysia và Vương quốc Thái Lan về việc thiêt lập cơ quan chung khai thác tài nguyên trên đáy biển của khu vực xác định tại thềm lục địa hai nước trong Vịnh Thái Lan năm 1979;

- Hiệp định Vùng nước lịch sử chung Việt Nam và Campuchia ngày 07 tháng 7 năm 1982;

- Bản ghi nhớ giữa Việt Nam và Malaysia năm 1992 về khai thác chung dầu khí tại khu vực xác định trong thềm lục địa liên quan đến hai quốc gia;

- Hiệp định hợp tác nghề cá Việt Nam và Trung Quốc ngày 25 tháng 12 năm 2000...

5. Thỏa thuận khai thác chung giữa Việt Nam vói các quốc gia trong khu vực

a) Hiệp định vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia

Ngày 07 tháng 7 năm 1982, Việt Nam và Campuchia đã ký Hiệp định về vùng nước lịch sử giữa hai quốc gia. Hiệp định có các nội dung quan trọng, cụ thể là:

- Thiết lập một vùng nước lịch sử nằm giữa bờ biển tỉnh Kiên Giang, đảo Phú Quốc đến quần đảo Thổ Chu của Việt Nam và bờ biển tỉnh Kampot đến nhóm đảo Poulo Wai của Campuchia. Vùng nước lịch sử đặt dưới chế độ nội thuỷ chung của cả hai quốc gia. Ngoài vùng nước này là các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền riêng của mỗi quốc gia;

- Lấy đường Brévié được vạch ra năm 1939 làm đường phân chia đảo trong khu vực. Đây là lần đầu tiên hai quốc gia thừa nhận chủ quyền của mỗi bên đối với các đảo. Hiệp định này đã nâng đường Brévié từ ranh giới quản lý hành chính và cảnh sát 282 thành đường phân chia chủ quyền đảo giữa hai quốc gia, tuy nhiên, đây chưa phải là đường biển giới biển giữa hai quốc gia;

- Sau khi ký Hiệp định vùng nước lịch sử, hai quốc gia sẽ thương lượng vào thời gian thích họp trên cơ sở bình đẳng, hữu nghị, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau để hoạch định đường biển giới biển giữa hai quốc gia;

- Việc tuần tiễu, kiểm soát vùng nước lịch sử do cả hai bên cùng tiến hành. Các hoạt động của ngư dân địa phương, vẫn được tiếp tục theo tập quán truyền thống từ trước. Đối với việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên trong khu vực sẽ do hai bên cùng nhau thỏa thuận; khi không có thỏa thuận, không bên nào được đơn phương tiến hành các hoạt động khai thác tài nguyên trong ỵùng nước lịch sử chung.

Hiệp định vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia chính là hiệp định đầu tiên của Việt Nam thể hiện ý tưởng về khai thác chung. Việc ký kết Hiệp định có ý nghĩa rất quan trọng. Hiệp định đã giải quyết được vấn đề chủ quyền các đảo giữa hai quốc gia, một tranh chấp phức tạp kéo dài nhiều năm. Hiệp định cũng đã tạo cơ sở pháp lý để hai quốc gia cùng nhau quản lý, bảo vệ, khai thác các vùng biển của mình, góp phẩn tạo môi trường an ninh, trật tự chung trên biển, củng cố môi quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, điểm hạn chế của Hiệp định là cho phép ngư dân hai nước duy trì tập quán đánh bắt cũ và không quy định cụ thể mô hình, so lượng đánh bắt. Hơn nữa, cho đến nay, hai quốc gia chưa có thêm một thỏa thuận nào về cơ chế phối hợp quản lý hay thành lập một uỷ ban quản lý chung hoạt động nghề cá. Các hoạt động khai thác cá “truyền thống” của ngư dân hai quốc giạ. không được quản lý có thể là nguyên nhân gây ra những bất ổn nhất định trên biển.

b) Thỏa thuận khai thác chung Việt Nam - Malaysia

Giữa Việt Nam và Malaysia tồn tại một vùng biển chồng lấn thềm lục địa rộng khoảng 2.800km2 do đường ranh giới thềm lục địa nêu trong Tuyên bố năm 1971 của Chính phủ Việt Nam Cộng hoà công bố chồng lấn với đường ranh giới thềm lục địa theo Tuyên bố của Malaysia năm 1979. Nhận thức được tiềm năng tài nguyên to lớn của khu vực này, ngày 05 tháng 6 năm 1992, hai bên đã ký kết Bản ghi nhớ thiết lập một Khu vực xác định (Defined Area) để tiến hành khai thác chung dầu khí. Khu vực này được giới hạn bởi các đoạn thẳng nối 6 điểm, được đánh dấu từ điểm A đến điểm F, với tọa độ cụ thể được xác định trong Bản ghi nhớ. Vùng khai thác chung dầu khí chỉ liên quan đến khu vực chồng lấn giữa hai bên, loại bỏ -tất cả những vùng chồng lấn liên quan đến yêu sách của nước thứ ba như vùng chồng lấn theo yêu sách của ba quốc gia Thái Lan, Việt Nam và Malaysia.

Bản ghi nhớ Việt Nam - Malaysia bao gồm những nội dung chính:

- Xác lập Khu vực xác định để hợp tác khai thác chung dầu khí chỉ là một sự dàn xếp tạm thời trước khi tiến đến phân định cuốỉ cùng đối với vùng chồng lấn.

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

- Trong trường hợp có mỏ dầu khí nằm một phần tại khu vực khai thác chung, một phần ngoài khu vực đó nhưng trên thềm lục địa của Malaysia hoặc Việt Nam, thì hai bên sẽ cùng thỏa thuận để đi đến nhất trí trong việc cùng khai thác mỏ dầu khí đó.

- Hai quốc gia ủy quyền cho các công ti dầu khí quốc'gia của mình là PETRO VIETNAM của Việt Nam và PETRONAS của Malaysia đại diện cho các quốc gia quản lý và vận hành việc thăm dò và khai thác dầu khí trong vùng khai thác chung. PETRO VIETNAM và PETRONAS tiến hành thăm dò và khai thác dầu khí bằng việc ký kết và thực hiện một Thỏa thuận thương mại có nội dung được hai quốc gia phê chuẩn.

Trong Thỏa thuận thương mại xác định rõ PETROVIETNAM và PEÍRONAS cùng chịu trách nhiệm, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí. Hai bên thống nhất thiết lập ủy ban Liên hợp và ủy ban Điều phối giải quyết các vấn đề như: Xác định tỉ lệ đóng góp của mỗi bên, cung cấp dịch vụ cho các nhà thầu, giám sát hoạt động của các nhà thầu trong khu vực... Mọi chi phí vả lợi nhuận thu được từ quá trình khai thác dầu khí tại khu vực khai thác chung sẽ được phân chia cho cả hai bên theo tỉ lệ công bằng. Chỉ một điểm đặc biệt là PETRO VIETNAM ủy quyền cho PETRONAS điều hành trực tiếp việc khai thác dầu khí trong Vùng khai thác chung dưới sự chỉ đạo của ủy ban Điều phối, đảm nhận mọi hoạt động tài chính, tiến hành đóng thuế theo thỏa thuận giữa hai Chính phủ và phân đôi lợi tức cho PETROVIETNAM, mà PETROVIETNAM không trực tiếp tham giạ hoạt động khai thác, quản lý.

Khai thác chung Việt Nam - Malaysia theo Bản ghi nhớ ký kết năm 1992 là sự hợp tác về thăm dò và khai thạc dầu khí trong một vùng biển có diện tích nhỏ. Việc xác lập mô hình khai thác chung thông qua ủy quyền cho các tổ chức kinh tế của quốc gia đại diện tiến hành được đánh giá là phù hợp và năng động nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng dầu khí trong khu vực chồng lấn. Tuy nhiên, Bản ghi nhớ không quy định về thời hạn hiệu lực và các trường hợp chẩm dứt hiệu lực, do đó hoạt động khai thác chung có thể bị đình chỉ bất kì lúc nào. Vấn đề này có thể tạo ra khó khăn nhất định trong việc thu hút đầu tư; đồng thời, nó không tạo nên tính hoàn chỉnh đối với một điều ước quốc tế về hợp tác khai thác chung các tài nguyên trên biển.

c) Hiệp định hợp tác nghề cá Việt Nam và Trung Quốc

Song song với các nỗ lực của Việt Nam và Trung Quốc trong việc phân định Vịnh Bắc Bộ, sau 6 vòng đàm phán (từ tháng 4 đến tháng 12 năm 2000), ngày 25 tháng 12 năm 2000, hai bên đã ký Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động khai thác chung nghề cá giữa hai nước này. Hiệp định bao gồm những nội dung cơ bản sau:

- Thiết lập vùng đánh cá chung: Điều 3 Hiệp định quy định rất chi tiết về vị trí, các điểm tọa độ địa lý của Vùng đánh cả chung. Theo đó, Vùng đánh cá chung được thiết lập trong vùng đặc quyền kinh tế của mỗi quốc gia, nằm về phía Bắc của đường đóng cửa Vịnh Bắc Bộ, về phía Nam của vĩ tuýến 20° Bắc và cách đường phân định được xác định trong Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ 30,5 hải lý về mỗi phía, có tổng diện tích 33.500km2, chiếm khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Phạm vi cụ thể của Vùng đánh cá chung là vùng nước nằm trong các đoạn thẳng tuần tự nổi liền 15 điểm có tọa độ địa lý xác định tại khoản 2 Điều 3 Hiệp định.

- về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên: Để đảm bảo cho hoạt động hợp tác nghề cá đạt hiệu quả cao, các bên đã thỏa thuận thiết lập một số quyền và nghĩa vụ nhất định tại Vùng đánh cá chung liên quan tới vấn đề cấp phép tàu thuyền của mỗi bên, kiểm tra và kiểm soát tàu thuyền tại Vùng đánh cá chung, liên doanh hợp tác với bên thứ ba trong khu vực đánh cá chung...

Theo quy định tại Điều 7 Hiệp định thì mỗi bên sẽ thực hiện chế độ cấp phép đánh bắt đối với tàu cá của quốc gia mình tiến hành hoạt động nghề cá trong Vùng đánh cá chung. Tuy nhiên, việc cấp phép đánh bắt phải được thực hiện một cách hệ thống, minh bạch, căn cứ theo số lượng tàu cá hoạt động đánh bắt mà ủy ban Liên hợp định ra cho năm đó, đồng thời mỗi bên phải có trách nhiệm thông báo cho bên kia tên, số hiệu tàu cá được cấp phép. Ngoài ra, hai bên còn có nghĩa vụ giáo dục và đào tạo những ngư dân của mình vào tiến hành hoạt động nghề cá trong Vùng đánh cá chung về pháp luật biển, kĩ thuật đánh bắt, các vấn đề về bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên cá... để đảm bào hiệu quả, tránh lãng phí trong khai thác, giảm thiểu ô nhiễm môi trường biển và hạn chế xung đột giữa tàu thuyền hai nước.

Điều 9 Hiệp định đã trao cho các quốc gia một quyền hạn tương đối lớn trong việc kiểm tra, kiểm soát và tiến hành xử lý vi phạm (nếu có) đối với công dân và tàu cá của hai bên ký kết ở Vùng đánh cá chung thuộc vùng nước của mình. Việc kiểm tra, kiểm soát, xử lý này căn cứ vào các quy định do ủy ban Liên hợp đặt ra trên cơ sở phù hợp với đặc điểm của Vùng đánh cá chung cũng như phù hợp với luật pháp của mỗi nước về bảo tồn và quản lý nguồn lợi thuỷ sản. Khi cơ quan có thẩm quyền của một bên phát hiện công dân và tàu cá bên ký kết kia vi phạm các quy định của ủy ban Liên hợp ở Vùng đánh cá chung thuộc vùng nước của mình thì có quyền xử lý các hành vi vi phạm đó theo các quy định của ủy ban Liên hợp, và có trách nhiệm nhanh chóng thông báo cho bên kia tình hình liên quan và kết quả xử lý. Ngoài ra, khoản 4 Điều 9 Hiệp định còn quy định cho phép các quốc gia được quyền áp dụng pháp luật nước mình để tiến hành xử phạt đối với tàu cá vi phạm, không phân biệt tàu cá đó mang quốc tịch của bên nào.

>> Xem thêm:  Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân định biển của các quốc gia ?

Bên cạnh quyền hạn, các bên còn phải thực hiện một sổ nghĩa vụ nhất định được quy định cụ thể tại khoản 5 Điều 9 Hiệp định. Những quy định này của Hiệp định một mặt tạo ra cơ chế giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan có thẩm quyền của hai bên, mặt khác đảm bảo cho quá trình thực thi pháp luật được minh bạch, nghiêm chỉnh; đồng thời nó cũng góp phần tạo ra vị thế công bằng, bình đẳng trong quá trình hoạt động nghề cá của ngư dân hai nước tại Vùng đánh cá chung.

Thiết lập Vùng đánh cá chung tại Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam - Trung Quốc không có nghĩa là khu vực khai thác chung đó chỉ có duy nhất tồn tại sự hợp tác nghề cá của hai nước thành viên mà Hiệp định còn cho phép mỗi bên đều có thể áp dụng bất kì một phương thức họp tác hoặc liên doanh

quốc tế nào trong khuôn khổ quy mô đánh bắt cá của bên mình tại đó (Điều 10 Hiệp định). Quy định này thể hiện tính linh hoạt, mềm dẻo của Hiệp định, mở ra cơ hội liên doanh hợp tác đánh cá với bên thứ ba, góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế biển của hai quốc gia.

- Vùng dàn xếp quá độ: Theo Điều 11 Hiệp định, Vùng dàn xếp quá độ của mỗi bên sẽ nằm trong vùng đặc quyền kinh tế nước mình và nằm về phía Bắc Vùng đánh cá chung, tính từ vĩ tuyến 20° Bắc. Trong thời hạn 4 năm kể từ ngày Hiệp định này có hiệu lực, tàu cá của mỗi bên sẽ được hoạt động tại Vùng dàn xếp quá độ, đồng thời, hai bên cam kết cắt giảm số lượng tàu cá của mình được phép hoạt động hằng năm tại khu vực này theo thỏa thuận cụ thể. Năm 2004, trải qua nhiều vòng đàm phán, hai bên đã đi đến thống nhất ký kết Nghị định thư bổ sung Hiệp định hợp tác nghề cá với nội dung tập trung chủ yếu liên quan tới Vùng dàn xếp quá độ. Nghị định thư bổ sung Hiệp định đã giải quyết được phần lớn các điểm còn tồn tại, để ngỏ xung quanh thỏa thuận Vùng dàn xếp quá độ tại Điều 11 Hiệp định: Phạm vi Vùng dàn xếp quá độ, số lượng tàu cá được phép hoạt động tại Vùng dàn xếp quá độ cũng như lộ trình cắt giảm số lượng tàu cá, cơ quan có thẩm quyền của mỗi bên sẽ tiến hành cấp giấy phép đánh bắt trong Vùng dàn xếp quá độ... Thời hạn hiệu lực của Nghị định thư bổ sung là 4 năm. Sau khi Vùng dàn xếp quá độ hết hiệu lực, Việt Nam và Trung Quốc đã tiếp tục tiến hành đàm phán về hoạt động của tàu cá hai nước trong vùng đặc quyền kinh tế của nhau tại Vịnh Bắc Bộ.

- Vùng đệm cho tàu cá nhỏ: Hiệp định đã thiết lập một vùng đệm giữa Vùng khai thác chung và vùng biển chủ quyền quốc gia để hạn chế các tranh chấp xảy ra do việc các tàu cá loại nhỏ của hai bên ký kết đi nhầm vào lãnh hải của bên ký kết kia. Căn cứ vào Điều 12 Hiệp định, Vùng đệm cho tàu cá loại nhỏ ở vùng giáp giới lãnh hải của hai nước, chiều dài tính từ điểm đầu tiên của đường phân định kéo về phía Nam theo đường phân định 10 hải lý, chiều rộng lùi về mỗi phía 3 hải lý tính từ đường phân định, phạm vi cụ thể được tạo thành bởi các đoạn thẳng tuần tự nối cấc điểm có tọa độ địa lý được xác định dựa trên Tổng đồ toàn diện Vịnh Bắc Bộ và Bản đồ chuyên đề cửa sông Bắc Luân.

Về tàu cá loại nhỏ của hai bên được phép đi lại trong Vùng đệm cho tàu cá nhỏ ở vùng giáp giới lãnh hải của hai nước ngoài cửa sông Bắc Luân, hai bên đã thỏa thuận là những tàu này không được lắp máy hoặc tàu lắp máy có chiều dài toàn bộ không quá 15m và công suất máy tàu không quá 60CV. Tại Vùng dàn xếp quá độ, công suất tối đa của tàu được phép hoạt động là 200CV, trong khi đó công suất tối đa của tàu cá tại Vùng đệm lại nhỏ hơn rất nhiều chỉ 60CV. Tàu cá loại nhỏ chỉ được phép đi lại trong Vùng đệm nhưng không được tiến hành các hoạt động nghề cá. Khoản 2 Điều 12 Hiệp định cho phép cơ quan có thẩm quyền của hai bên khi phát hiện tàu cá loại nhỏ của bên ký kết kia vào hoạt động nghề cá trong Vùng đệm thuộc vùng nước của mình có thể cảnh cáo và áp dụng các biện pháp cần thiết để buộc tàu đó rời khỏi vùng nước đó. Quy định
này hết sức cần thiết để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật quốc gia cũng như mục đích của việc thiết lập Vùng đệm - tránh tranh chấp xảy ra do tàu cá loại nhỏ của hai bên đi nhầm vào lãnh hải của nhau.

- Ủy ban Liên hợp nghề cá Vịnh Bắc Bộ Việt - Trung: Đây là cơ quan chuyên trách chung giải quyết mọi van đề liên quan tới quá trình hợp tác nghề cá giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hiệp định không quy định cụ thể số lượng thành viên của ủy ban Liên hợp nhưng trong cơ cấu bộ máy của cơ quan này bắt buộc phải có ít nhất một đại diện do Chính phủ của mỗi bên ký kết bổ nhiệm, ủy ban Liên hợp có quyền được xây dựng cho mình cơ chế hoạt động cụ thể sau khi thành lập. Tuy nhiên, hoạt động của ủy ban Liên hợp phải tuân thủ nguyên tắc:

“Tất cả mọi kiến nghị và quyết định của ủy ban Liên hợp nghề cá đều phải được sự nhất trí của đại diện hai bên ký kết” (khoản 4 Điều 13 Hiệp định).

Yêu cầu này nhằm hạn chế sự lạm quyền của ủy ban Liên hợp trong việc quyết định một số vấn đề quan trọng có liên quan đến chủ quyền quốc gia và phù hợp với nguyên tắc mà các bên đã thỏa thuận tại Điều 2 Hiệp định. Hằng năm, ủy ban tiến hành họp từ một đến hai lần và được tổ chức luân phiên tại hai nước. Trong trường hợp cần thiết, ủy ban có thể triệu tập hội nghị bất thường sau khi có sự nhất trí của đại diện hai nước.

Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban Liên hợp được ghi nhận cụ thể tại khoản 3 Điều 13 Hiệp định. Theo đó, ủy ban Liên hợp nghề cá có trách nhiệm tổ chức các cuộc hiệp thương, đồng thời, đề xuất kiến nghị với Chính phủ hai nước liên quan tới vấn đề bảo tồn, khai thác bền vững nguồn lợi thủy sản trong Vùng đánh cá chung, vấn đề hợp tác nghề cá của hai nước... Mặt khác, ủy ban Liên hợp còn có thẩm quyền trong việc xây dựng các quy định về bảo tồn, quản lý nguồn lợi thủy sản trong Vùng đánh cá chung cũng như các biện pháp thực thi quy định đó; thẩm quyền xác định số lượng tàu cá hằng năm của mỗi bên được phép hoạt động tại Vùng đánh cá chung; đặc biệt, trong trường hợp phát sinh tranh chấp liên quan tới hoạt động nghề cá xảy ra trong Vùng đệm cho tàu cá nhỏ thì thâm quyền giải quyết sẽ được trao cho ủy ban Liên hợp. Ngoài ra, ủy ban còn đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tình hình chấp hành Hiệp định và báo cáo Chính phủ hai nước; trong trường hợp cần thiết có thể kiến nghị với Chính phủ hai nước về việc bổ sung, sửa đổi Hiệp định, Phụ lục của Hiệp định, Nghị định thư bổ sung Hiệp định.

Hiệp định hợp tác nghề cá Việt Nam - Trung Quốc tạo ra một khuôn khổ pháp lý quốc tế rõ ràng, thuận lợi cho việc mỗi quốc gia bảo vệ, quản lý, sử dụng, khai thác và phát triển kinh tế các vùng biển của mình trong Vịnh Bắc Bộ; đồng thời cũng tạo điều kiện cho hai bên có cơ sở thúc đẩy hợp tác nhằm phát triển bền vững, duy trì ổn định trong Vịnh Bắc Bộ, tăng cường sự tin cậy và phát triển quan hệ chung giữa hai quốc gia. Qua đó, thể hiện nỗ lực và thiện chí cũng như sự quan tâm đến lợi ích của nhau một cách thỏa đáng, phù hợp với luật pháp quốc tế và điều kiện cụ thể của Vịnh.

>> Xem thêm:  Eo biển quốc tế là gì ? Chế độ pháp lý eo biển quốc tế

d) Một số thỏa thuận khác

Bên cạnh các hoạt động khai thác chung được tiến hành trên cơ sở các điều ước quốc tế riêng biệt giữa Việt Nam vởi các quốc gia trong khu vực, khai thác chung còn được ghi nhận trong các điều ước về phân định biển với nội dung của một điều khoản thỏa thuận cùng họp tác để khai thác và phân chia sản phẩm trong trường hợp có các mỏ tài nguyên nằm vắt ngang đường phân định như Hiệp định phân định Vịnh Thái Lan giữa Việt Nam - Thái Lan năm 1997; Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa Việt Nam - Indonesia năm 2003; Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa Việt Nam - Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ... Chẳng hạn, Điều 4 Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa Việt Nam - Indonesia năm 2003 quy định:

“Trong trường hợp có một cẩu tạo mỏ dầu hoặc khí tự nhiên, hoặc mỏ khoáng sản khác dưới đáy biển nằm vắt ngang đường ranh giới nêu tại khoản 1 Điểu 1, các Bên ký kết sẽ thông báo cho nhau mọi thông tin liên quan và thỏa thuận về cách thức khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc mỏ nói trên và về việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác đó".

Không dừng lại ở các thỏa thuận khai thác chung tài nguyên sinh vật và phi sinh vật, Việt Nam còn có các thỏa thuận hợp tác nghiên cứu khoa học biển,1 hợp tác tìm kiếm cứu nạn, triển khai hoạt động tuần tra chung, bảo đảm an toàn, an ninh trên biển (Thỏa thuận hợp tác khảo sát địa chấn biển chung ba bên Việt Nam - Philippines - Trung Quốc năm 2005 và Quy chế tuần tra chung Việt Nam - Thái Lan năm 1999, Thỏa thuận Việt Nam - Campuchia năm 2002... với các quốc gia trong khu vực. Các hoạt động hợp tác nhìn chung khá đa dạng và phong phú.

Trước khi Công ước luật biển năm 1982 có hiệu lực, Việt Nam đã có những bước đi phù hợp với tinh thần và quy định của Công ước trong việc tuyên bố thiết lập các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia. Sau khi Công ước có hiệu lực, Việt Nam là một trong số các quốc gia đi tiên phong trong việc áp dụng Công ước để giải quyết tranh chấp với các quốc gia trong khu vực. Thực tiễn phân định biển của Việt Nam đã làm sáng tỏ hơn các quy định của Công ước luật biển năm 1982. Việt Nam có đóng góp không nhỏ trong việc áp dụng và hoàn thiện lý thuyết về các dàn xếp tạm thời, với các mô hình khai thác chung về dầu khí và tài nguyên cá. Một mô hình khai thác chung phù họp phải đáp ứng được các nhu cầu, lợi ích của các bên và điều kiện tiên quyết là không được làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết các yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền cũng như phân định biển giữa các bên. Trong bổi cảnh những tranh chấp Biển Đông dường như đang có xu hướng ngày càng phức tạp, để có thể tiến hành khai thác chung, đòi hỏi sự thiện chí rất lớn của tất cả các bên có liên quan. Đương nhiên, điều này không thể có được trong một sớm một chiều mà đòi hỏi phải có các hoạt động cụ thể xây dựng lòng tin, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, đặc biệt là sự kiềm chế và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật quốc tế có liên quan, đặc biệt là nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực, đe doạ sử dụng vũ lực và hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)

>> Xem thêm:  Quần đảo là gì ? Quốc gia quần đảo là gì ? Vùng nước quần đảo được hiểu thế nào ?