1. Khái niệm chính thể.

Chính thể là cách thức tổ chức và trình tự để lập ra các có quan tối cao của nhà nước và xác lập những mối quan hệ cơ bản của các cơ quan đó. Chính thể là một trong các yếu tố quan trọng cấu thành hình thức nhà nước, thường được quy định trong văn bản có giá trị pháp lí cao nhất - hiến pháp, Có hiến pháp quy định về chính thể trong một chương riêng, song có trường hợp nội dung về chính thể được quy định rải rác trong các điều của hiến pháp. Tuy được quy định trong hiến pháp nhưng trên thực tế vận hành thì chính thể có nhiều biến dạng.

2. Các mô hình chính thể đương đại.

Trong lịch sử tổ chức quyền lực nhà nước, có hai hình thức cơ bản của chính thể là chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà. Trong chính thể quân chủ, nguyên thủ quốc gia được thành lập bằng con đường truyền ngôi thế tập (thường được gọi là vua hay nữ hoàng). Trong chính thể cộng hoà, nguyên thủ quốc gia được thành lập bằng con đường bầu cử, có thể do dân hoặc cơ quan đại diện của dân bầu ra (thường được gọi là Tổng thống, Chủ tịch nước...).

Chính thể quân chủ - mô hình nhà nước tiêu biểu của xã hội phong kiến - được tổ chức thành quân chủ tuyệt đối và quân chủ hạn chế. Quân chủ hạn chế là mô hình tiến bộ hơn, nơi quyền lực của nhà vua bị hạn chế, các thiết chế nhà nước khác có thực quyền (quốc hội, nghị viện, chính phủ). Hiến pháp là văn bản thể hiện sự hạn chế này, do đó, mô hình quân chủ hạn chế còn được gọi là quân chủ lập hiến (như tại Nhật Bản, Thái Lan, Anh, Đan Mạch, Tây Ban Nha hiện nay...). Chính thế cộng hoà thường gồm hai loại: cộng hoà đại nghị và cộng hòa tổng thống. Cộng hoà đại nghị (như Ấn Độ, Đức..) là chính thể được tổ chức ở những nhà nước có nguyên thủ quốc gia do nghị viện bầu ra, chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Thủ tướng không chịu trách nhiệm trước nguyên thủ quốc gia, mà chịu trách nhiệm trước nghị viện. Nguyên thủ quốc gia trên thực tế không trực tiếp tham gia vào việc giải quyết các công việc của nhà nước. Cộng hòa tổng thống (như Hoa Kỳ, Philippin và hầu hết các quốc gia ở Nam Mỹ) là mô hình chính thể mà hành pháp và lập pháp không chịu trách nhiệm đối với nhau. Cơ quan lập pháp do dân bầu và người đứng đầu cơ quan hành pháp cũng do dân bầu. Với cách thức tổ chức này, nguyên thủ quốc gia (tổng thống không những là người đứng đầu nhà nước mà còn đứng đầu hành pháp. Ngoài ra, có một mô hình chính thể kết hợp những đặc điểm của cộng hoà tổng thống và cộng hoà đại nghị, được gọi là công hoà lưỡng tính (như Pháp và Nga). Chính thế này có những đặc điểm như: tổng thống do dân bầu; tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người lãnh đạo nội các; nội các do Thủ tướng đứng đầu, do Nghị viện thành lập, vừa chịu trách nhiệm trước Nghị viện vừa chịu trách nhiệm trước Tổng thống; tổng thống có quyền giải tán Nghị viện.

3. Chính thể quân chủ đại nghị.

Khái niệm: Chính thể quân chủ đại nghị ( hay quân chủ lập hiến) là chính thể trong đó nguyên thủ quốc gia là vua (hoàng đế, quốc trưởng), được thiết lập theo nguyên tắc kế truyền, bị hạn chế quyền lực bởi hiến pháp, có chức năng chủ yếu là lễ tân và ngoại gia

- Đặc điểm:

+ Nguyên thủ quốc gia được thiết lập theo nguyên tắc kế truyền nhưng quyền lực của nhà vua chỉ có tính chất tượng trưng, thường chỉ có chức năng lễ tân và ngoại giao, vì vậy thường có cách nói: "vua trị vì mà không cai trị”.

+ Quyền lực thực sự nằm trong tay thủ tướng, vì thủ tướng thường là thủ lĩnh của đảng chiếm ưu thế trong nghị viện, là người quyết định đường lối chính trị của chính phủ.

+ Đảm bảo tính ổn định của các giá trị xã hội: các quốc gia có chính thể quân chủ đại nghị ( như Anh, Thái Lan,...) đều có được sự kết hợp giá trị truyền thống của chính thể quân chủ với giá trị mới của nền dân chủ tư sản như nhà vua là đại diện cho sự thống nhất ý chí và đoàn kết dân tộc với chế độ bầu cử tự do, phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín để thành lập nghị viện – cơ quan lập pháp.

- Ví dụ: Anh, Thụy Điển, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Hà Lan, Đan Mạch,...

4. Chính thể cộng hòa đại nghị.

-Khái niệm: Chính thể cộng hòa đại nghị (hay cộng hòa nghị viện) là chính thể mà ở đó nguyên thủ quốc gia được hình thành không thông qua con đường thế tập truyền ngôi, mà bằng phương pháp bầu cử và nghị viện, về nguyên tắc, là cơ quan đóng vai trò quan trọng hơn mọi cơ quan nhà nước khác trong việc thực hiện quyền lực nhà nước.

- Đặc điểm:

+ Nguyên thủ quốc gia : được hình thành thông qua bầu cử (thường là dựa trên cơ sở của nghị viện). Nguyên thủ quốc gia không tham gia vào việc lãnh đạo quốc gia, không có quyền đích thực ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và cũng không có những quyền hạn đặc biệt nào. Giống với địa vị của nhà vua hoặc nữ hoàng trong chính thế quân chủ đại nghị, theo nguyên tắc: “Nhà Vua trị vì nhưng không cai tri".

+ Chính phủ do Thủ tướng đứng đầu không chịu trách nhiệm trước nguyên thủ quốc gia, mà chỉ chịu trách nhiệm trước nghị viện.

+ Quyền lực của tổng thống không lớn, quyền lực chính trị tập trung vào thủ tướng bởi thủ tướng là người quyết định và chịu trách nhiệm về đường lối chính trị của chính phủ.

+ Chính phủ được thành lập trên cơ sở Đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện. Thủ tướng chính phủ là thủ lĩnh của Đảng cầm quyền – đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện, vì vậy quyền hạn của thủ tướng rất lớn.

+ Chính quyền hành pháp được chia sẻ giữa tổng thống và thủ tướng.

+ Hạt nhân hợp lí trong tổ chức và hoạt động của chính thể cộng hòa nghị viện đó là cơ chế tạo ra sự thống nhất giữa chính phủ và nghị viện do chính phủ luôn được số đông trong nghị viện ủng hộ.

- Ví dụ: nền cộng hòa thứ tư ở Pháp (từ năm 1946 đến năm 1958), hiện nay đang tồn tại ở Italia, Đức, Áo, Hy Lạp,...

4. Chính thể cộng hòa tổng thống.

Cộng hòa tổng thống là chính thể cộng hòa mà Tổng thống được trao những quyền hành rất lớn, vừa đứng đầu Nhà nước, vừa đứng đầu chính phủ. Cộng hòa tổng thống là hình thức chính thể hiện nay của nhiều nhà nước tư nhân dân trực tiếp bầu ra, không phụ thuộc vào bầu cử cơ quan lập pháp. Tổng thống có quyền thành lập Chính phủ, các thành viên của Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm trước Tổng thống chứ không chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Tổng thống có quyền phủ quyết các dự luật do cơ quan lập pháp thông qua. Khi dự luật bị phủ quyết, lập pháp phải thảo luận lại và được thông qua khi có đủ từ 2/3 số nghị sĩ trở lên bỏ phiếu thuận.

Cộng hòa tổng thống là hình thức chính thể, mà ở đó quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân chia "rạch ròi". Cơ quan lập pháp không có quyền giải tán Chính phủ và ngược lại Tổng thống không có quyền giải tán cơ quan lập pháp. Thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời nên mang tính độc lập cao. Tổng thống có thể bị xét xử theo thủ tục đàn hạch nếu vi phạm pháp luật.

5. Chính thể cộng hòa hỗn hợp.

Chính thể cộng hòa lưỡng tính là chính thể mà ở đó việc tổ chức nhà nước vừa có đặc điểm của cộng hòa đại nghị, vừa có những đặc điểm của cộng hòa tổng thống.

- Tính tổng thông thể hiện ở chỗ:

+ Thứ nhất, Tống thông do nhân dân bầu lên và Tổng thống không chịu trách nhiệm trước Nghị viện;

+ Thứ hai, Tổng thống vừa là Nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu nhánh quyền hành pháp.

- Tính đại nghị được đặc trưng bởi:

+ Thứ nhất, Chính phủ được thành lập nhiều có ảnh hưởng của Nghị viện.

+ Thứ hai, Chính phủ ít nhiều phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện;

+ Thứ ba, Nghị viện, Chính phủ, có thể bị giải tán bài Nguyên thủ quốc gia (Tống thông). sự thành lập Chính phủ giống như chính thể đại nghị - tức Chính phủ thành lập trên cơ sở của Hạ viện (Tổng thống buộc phải bổ nhiệm thủ lĩnh của Trong lĩnh vực lập pháp, Tổng thống có quyền sáng kiến pháp luật, công bố luật và có quyền phủ quyết luật. Ngoài ra, Tổng thống được quyền ban hành những văn bản pháp quy về mặt hành pháp có tính chất luật  + và ban hành những văn bản luật uỷ quyền. Chính phủ cũng có quyền sáng kiến pháp luật.

Trong lĩnh vực hành pháp, Chính thể "cộng hòa lương tính" thể hiện rõ nét nhất tính "hành pháp hai đầu". Tống thông và Chính phủ cùng san sẻ quyển hành pháp. Tổng thống chủ toạ các phiên họp của Chính phủ và đề ra các chính sách quan trọng về đối nội, đối ngoại.

+Thủ tướng điều hành Chính phủ để thực hiện các chính sách mà Tổng thống đưa ra.

Về mặt lý thuyết, mục đích của chính thể lưỡng tính là thiết lập một quyền hành pháp mạnh (một tổng thống đứng đầu hành pháp có thực quyền để quyết định nhanh chóng) đồng thời hạn chế sự chuyển quyền (quyền hành pháp được chia cho tổng thống và thủ tướng). Tuy nhiên, thực tiễn chính trị ở các nước khá đa dạng, chính thể lưỡng tính biên dạng thành nhiều trạng thái nhiều khi khác hẳn quy định của hiện pháp.

+ Trạng thái 1 Tổng thống nắm toàn quyền hành pháp, Thủ tướng chi như "người trợ lý" cho Tổng thống. (Nga thì luôn luôn còn nước Pháp thì thường xuyên trong trạng thái này) Trong trạng thái đó, chính thể”cộng hòa lưỡng tính" rất giống với chính thể cộng hòa tống thông.

+ Trạng thái 2: Tổng thống và Thủ tướng bất đồng vì thuộc hai đảng khác nhau, dẫn đến quyền hành pháp bị chia tách (Pháp thời kỳ 1986-1988)

6. So sánh chính thể đại nghị (cộng hòa và quần chủ đại nghị) với chính thể cộng hòa hỗn hợp.

Thể chế đại nghị hoặc Đại nghị chế với đặc điểm là nhánh hành pháp của chính quyền phụ thuộc vào sự cho phép trực tiếp hoặc gián tiếp của quốc hội, thường được biểu thị qua quyền bỏ phiếu tín nhiệm. Như thế, không có sự phân biệt rạch ròi giữa nhánh hành pháp và nhánh lập pháp, dẫn đến tình trạng thiếu sự giám sát và cân bằng quyền lực là nguyên lý căn bản trong thể chế tổng thống. Tuy nhiên, đại nghị chế thường được tán dương, khi so sánh với tổng thống chế, là do tính linh hoạt và nhanh nhạy đối với phản ứng của công luận. Mặc khác, hệ thống này thường bị xem là thiếu ổn định như trong trường hợp của nền Cộng hòa Weimar của Đức và Đệ Tứ Cộng hòa của Pháp.

Trong thể chế đại nghị có sự phân biệt rõ ràng giữa chức danh đứng đầu chính phủ và chức danh đứng đầu nhà nước, với thủ tướng là người đứng đầu chính phủ và người đứng đầu nhà nước thường là một nhân vật được bổ nhiệm hoặc một quân vương với chút ít quyền lực hoặc chỉ là một vị trí có tính nghi lễ. Dù vậy, một số quốc gia theo đại nghị chế đã thiết lập chức vụ tổng thống dân cử là người đứng đầu nhà nước với một số thẩm quyền nhằm duy trì thế cân bằng quyền lực cho hệ thống chính trị (gọi là thể chế cộng hòa đại nghị).

Cộng hòa lưỡng tính là Hình thức chính thể cộng hòa pha trộn giữa cộng hòa tổng thống và cộng hòa nghị viện. Tổng thống do nhân dân bầu ra; tổng thống chỉ đứng đầu nhà nước chứ không đứng đầu Chính phủ; Tổng thống có quyền bổ nhiệm thủ tướng Chính phủ nhưng phải được nghị viện phê chuẩn. Chính phủ vừa chịu trách nhiệm trước tổng thống vừa chịu trách nhiệm trước nghị viện, nghị viện có thể bỏ phiếu thể giải tán hạ nghị viện. không tín nhiệm Chính phủ, buộc Chính phủ giải tán. Tổng thống có Cộng hòa lưỡng tính là mô hình chính thể ra đời trên cơ sở hòa trộn giữa hai mô hình cộng hòa đại nghị và cộng hòa tổng thống. Nó mang những đặc điểm của cả hai mô hình chính thể cộng hòa trên.

Về cơ bản, hai chế độ đại nghị và cộng hòa lưỡng tính có điểm khác biệt ở nhà cầm quyền (quốc hội và tổng thống), ngoài ra chính thể đại nghị do cầm quyền bởi nghị viện nên việc lập pháp và hành pháp thường chưa được rạch ròi, tuy nhiên chế độ hỗn hợp lại ngược lại khi tách hai bộ phận này ra để quản lý nhà nước (Một cơ quan hành pháp mạnh, thực chất và đủ điều kiện để nhanh chóng quyết định các vấn đề cấp bách. Đồng thời, quyền hành pháp cũng được phân chia cho Thủ tướng và Tổng thống để tránh tình trạng chuyển quyền trong lĩnh vực

7. Sự biến dạng của chính thể.

Với biến dạng của chính thể đại nghị, tính tối cao của Quốc hội đã bị thay thế bởi chính phủ; chính phủ trên lý thuyết thì chịu trách nhiệm trước Quốc hội nhưng thực tế chính phủ lại quay lại gây ảnh hưởng, chỉ huy Quốc hội; vấn đề tín nhiệm của chính phủ trước nghị viện thay thế bởi tín nhiệm của chính phủ với Đảng cầm quyền; sự phân chia quyền lực giữa luật pháp và hành pháp không còn; nguyên thủ quốc gia là người bổ nhiệm thủ tướng chính phủ nhưng không thể bổ nhiệm ai khác hành pháp.) ngoài thủ lĩnh đảng cầm quyền; nguyên thủ quốc gia không có thực quyền như trong hiến pháp và chức năng giám sát của nghị viện đối với chính phủ trên thực tế là giám sát của đảng đối lập.

 
 
Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê