Trả lời:

1. Thực trạng của tội phạm là gì ?

Thực trạng của tội phạm là tình trạng thực tế của tội phạm đã xảy ra trong đơn vị không gian và thời gian nhất định xét về mức độ và về tính chất. Nghiên cứu thực trạng của tội phạm là nghiên cứu hai đặc điểm của thực trạng - Đặc điểm về mức độ được phản ánh qua số lượng tội phạm cũng như số lượng người phạm tội và đặc điểm về tính chất được phản ánh qua các cơ cấu của tội phạm cũng như của người phạm tội.

2. Thực trạng của tội phạm xét về mức độ

Thực trạng của tội phạm xét về mức độ được phản ánh qua các thông số: Tổng các tội phạm đã xảy ra và tổng những người đã phạm các tội đó trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian xác định. Ngoài ra, thuộc về các thông số phản ánh thực trạng của tội phạm xét về mức độ còn có thể là tổng các nạn nhân. Thông số này chỉ đặt ra đối với một số nhóm tội và tội nhất định như nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ với tội danh cụ thể như tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác hoặc như nhóm tội xâm phạm tình dục với tội danh cụ thể như tội hiếp dầm, tội cưỡng dâm.

Như vậy. đơn vị tính của tống phản ánh mức độ của tội phạm ở tất cả các trường hợp là: “tội phạm đã xảy ra” và “người phạm tội”. Để có được con số tổng chính xác cần phải hiểu thống nhất:

- Tội phạm đã xảy ra bao gồm tội phạm đã được phát hiện và tội phạm không hoặc chưa được phát hiện.

- Tội phạm đã được phát hiện bao gồm tội phạm được xét xử và tội phạm không hoặc chưa được xét xử.

- Tội phạm được xét xử gồm trường hợp bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật và trường hợp bản án kết tội chưa có hiệu lực pháp luật.

>> Xem thêm:  Các loại thực nghiệm điều tra ? Mục đích của thực nghiệm điều tra ?

- Cả hai trường hợp - bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật và trường hợp bản án kết tội chưa có hiệu lực pháp luật cũng bao gồm trường hợp đã được thể hiện trong thống kê tội phạm và trường hợp không được thể hiện trong thống kê tội phạm vì những lý do khác nhau.

Như vậy, tổng tội phạm cũng như tổng người phạm tội đã bị kết án có hiệu lực pháp luật và đã được thể hiện trong thống kê tội phạm mới chỉ phản ánh được một phần thực trạng của tội phạm xét về mức độ. Đó là thực trạng xét về mức độ của tội phạm rõ. Thực trạng thực xét về mức độ còn bao gồm thực trạng xét về mức độ của tội phạm ẩn còn lại.

Hiện nay có các quan niệm khác nhau về vấn đề này. Có quan niệm cho ràng thuộc về thực trạng của tội phạm có thông số về nạn nhâm có quan niệm không đồng ý như vậy vì cho ràng hiêu như thế nào là nạn nhân và thống kê sô lượng nạn nhân ở các tội phạm không rõ ràng, đơn giàn như xác định số tội phạm và số người phạm tội. Do vậy. dễ có sự không thống nhất trong cách hiểu về nạn nhân và số nạn nhân. Hơn nừa. ở những tội phạm nhất định mà việc xác định thông số này là có thê và cần thiết thì thông số này cỏ thế được xác định trong phần nghiên cứu thực trạng xét về tính chất.

Khi xác định tổng “tội phạm đã xảy ra” cũng như tổng “người phạm tội” cũng cần chú ý:

- Con số về tội phạm với con số về vụ án cũng như con số về người phạm tội không phải luôn luôn trùng nhau. Một vụ án có thể có nhiều tội phạm và một tội phạm có thể có nhiều người thực hiện tội phạm; ...

- Thời điểm tội phạm xảy ra và thời điểm tội phạm được xét xử cũng như thời điểm được đưa vào thống kê tội phạm là khác nhau.

Tổng tội phạm đã xảy ra cũng như tổng người phạm tội (trong phạm vi đối tượng, phạm vi không gian và phạm vi thời gian) là các con số phản ánh thực trạng của tội phạm về mức độ. Bên cạnh các thông số này còn có các thông số khác cùng thể hiện thực trạng của tội phạm về mức độ. Đó là:

- Tổng số tội phạm và tổng số người phạm tội từng năm trong đơn vị thời gian đã xác định.

- Tổng số tội phạm vă tổng số người phạm tội bình quân năm trong đơn vị thời gian đã xác định.

Để làm rõ hơn thực trạng của tội phạm về mức độ cần đặt các thông số này trong sự so sánh với các thông số khác có liên quan. Ví dụ:

>> Xem thêm:  Thực nghiệm điều tra là gì ? Quy định mới về thực nghiệm điều tra

- Trong trường hợp nghiên cứu tình hình tội phạm của một quốc gia, sự so sánh có thể là so sánh với các thông số tương ứng của thế giới, của khu vực và của một số quốc gia khác.

- Trong trường hợp tình hình tội phạm được giới hạn trong đơn vị không gian nhất định thì sự so sánh cần được thực hiện với toàn quốc và với các đơn vị không gian khác, đặc biệt là với các đơn vị không gian có các thông số cao nhất cũng như thấp nhất cũng như các đơn vị không gian có các điều kiện về kinh tế - xã hội tương tự.

Ví dụ: Khi nghiên cứu tình hình tội phạm của thành phố Hài Phòng, có thể so sánh các thông số của Hải Phòng với các thông số tương ứng của Việt Nam, của thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nằng và thành phố Hồ Chí Minh cũng như của các địa phương (cấp tỉnh) có thông số tương ứng cao nhất và thấp nhất.

- Trong trường hợp nghiên cứu tình hình tội phạm của nhóm tội nhất định thì có thể so sánh với các thông số tương ứng của tất cả các tội phạm và của các nhóm tội phạm khác, đặc biệt là của các nhóm tội phạm có số tổng lớn nhất hoặc nhỏ nhất để qua đó xác định vị trí về mức độ của nhóm tội phạm nghiên cứu.

- Trong trường hợp nghiên cứu tình hình tội phạm của một tội phạm nhất định thì sự so sánh có thể là so sánh với các thông số tương ứng của tình hình tội phạm của tất cả các tội và của cả nhóm tội mà tội đang nghiên cứu là bộ phận hợp thành cũng như của từng tội trong nhóm, đặc biệt là của các tội có số tổng lớn nhất và nhỏ nhất để qua đó xác định vị trí (trong phạm vi tất cả các tội phạm và trong phạm vi nhóm tội phạm) về mức độ của tội phạm nghiên cứu ...

Ví dụ: Khi nghiên cứu tội trộm cắp tài sản, có thể so sánh các thông số của tội phạm này với các thông số tương ứng của nhóm tội chiếm đoạt, của nhóm tội xâm phạm sở hữu cũng như của các tội trong nhóm có số tổng lớn nhất và nhỏ nhất.

Các thông số trên tuy phản ánh "bức tranh” tội phạm xét về mức độ. Nhưng “bức tranh” này chưa cho phép đánh giá cũng như so sánh được thật chính xác mức độ nghiêm trọng của tội phạm xét về mức độ vì các thông số này chưa được đặt trong mối liên hệ với số dân cư. Cùng tổng tội phạm đã xảy ra cũng như cùng tổng người phạm tội nhưng thuộc các không gian có số dân cư khác nhau thì không thể được đánh giá như nhau và do vậy cũng không thể rút ra được kết luận chính xác từ sự so sánh các con số này với nhau được. Để khắc phục tình trạng này, tội phạm học cần phải sử dụng đến thông số khác thể hiện được mối quan hệ với dân cư khi nghiên cứu về tình hình tội phạm. Thông số này có thể là con số thể hiện tổng tội phạm, tổng người phạm tội trong một năm trên 100.000 người dần hoặc 100.000 người dân trong độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Con số này (mà không phải là tổng tội phạm hay tổng người phạm tội) mới phản ánh được mức độ phổ biến của tội phạm trong dân cư. Đồng thời con số này mới cho phép so sánh được chính xác tình hình tội phạm ở các đơn vị không gian và thời gian khác nhau. Đó là chì số tội phạm và chỉ số người phạm tội. Tên gọi của thông số này hiện chữa có sự thống nhất trong các tài liệu nghiên cứu về tội phạm học. Trong các tài liệu, các tác giả có thể sử dụng các khái niệm cơ số tội phạm, hệ số tội phạm hoặc chỉ số tội phạm nhưng các khái niệm này thường cùng được hiểu là số tội phạm của một năm trên 100.000 người dân. Bên cạnh đó, số người phạm tội của một năm trên 100.000 người dân cũng là thông số cần thiết khi so sánh số người phạm tội ở các phạm vi không gian hoặc thời gian khác nhau.

Công cụ hỗ trợ việc mô tả thực trạng của tội phạm xét về mức độ có thể được sử dụng là các bảng số liệu và các loại biểu đồ. Như vậy, các con số phàn ánh thực trạng của tội phạm xét về mức độ cần được thể hiện trên các bảng số liệu và các biểu đồ thống kê. Đây là hai hình thức trình bày các số liệu thống kê có tính khoa học - hệ thống và rõ ràng, giúp người nghiên cứu dễ dàng phát hiện ra những biểu hiện có tính quy luật, tính bản chất để đưa ra đánh giá chính xác thực trạng của tội phạm xét về mức độ. Nó cũng giúp thuyết phục người đọc chấp nhận các nhận xét của người nghiên cứu dễ dàng hơn. Tuỳ thuộc vào nội dung cụ thể cần khảo sát nghiên cứu mà có thể sử dụng số lượng bảng số liệu cũng như quy mô của bảng số liệu và các kiểu biếu đồ thống kê phù hợp.

3. Thực trạng của tội phạm xét về tính chất

>> Xem thêm:  Khám xét là gì ? Quy định pháp luật về khám xét người, khám xét chỗ ở ?

Đây là đặc điểm thứ hai của thực trạng của tội phạm. Đặc điểm này được nghiên cứu trên cơ sở nghiên cứu các cơ cấu của tội phạm. Qua cơ cấu của tội phạm theo tiêu thức nhất định có thể rút ra được nhận xét về tính chất của tội phạm.

Tội phạm là thể thống nhất của các tội phạm cụ thể đã xảy ra trong đơn vị không gian và thời gian xác định, trong đó tồn tại đan xen các hệ thống thống nhất khác nhau. Mỗi hệ thống thống nhất này là một loại cơ cấu của tội phạm theo một đặc điểm nhất định của tội phạm. Hay nói cách khác, tội phạm có hệ các cơ cấu theo hệ các tiêu thức khác nhau. Xem xét cơ cấu là xem xét tỉ trọng của từng bộ phận của mỗi cơ cấu để từ đó có thể rút ra được những nhận xét nhất định về tính chất của tội phạm. Như vậy, những cơ cấu của tội phạm có thể được xem xét là những cơ cấu có thể phản ánh ở mức độ nhất định thực trạng của tội phạm xét về tính chất. Cụ thể CÓ thể là những cơ cấu sau:

- Cơ cấu theo các chương tội phạm của Bộ luật hình sự: Theo cơ cấu này phải xác định tỉ trọng tội phạm đã thực hiện thuộc từng chương cũng như tỉ trọng người phạm tội của các tội đó so với tổng thể.

- Cơ cấu theo các tội danh (tội cụ thể) của Bộ luật hình sự: Theo cơ cấu này phải xác định tỉ trọng tội phạm đã thực hiện thuộc từng tội danh cũng như tỉ trọng người phạm tội của tội đó so với tổng thể.

- Cơ cấu theo 4 loại tội - Tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng (Điều 8 Bộ luật hình sự): Theo cơ cấu này phải xác định tỉ trọng của tội phạm đã thực hiện thuộc từng loại tội cũng như tỉ trọng người phạm tội của các loại tội đó so với tổng thể.

- Cơ cấu theo 2 loại tội - Tội cố ý, tội vô ý: Theo cơ cấu này phải xác định tỉ trọng của tội phạm cố ý, tội phạm vô ý đã thực hiện cũng như tỉ trọng người phạm tội của các loại tội đó so với tổng thể.

- Cơ cấu theo đơn vị không gian xảy ra tội phạm: Đó là cơ cấu theo địa phương hoặc ngành, lĩnh vực.

- Cơ cấu theo hình thức thực hiện - Phạm tội riêng lẻ hay đồng phạm hay đồng phạm có tổ chức: Theo cơ cấu này phải xác định tỉ trọng của các hình thức phạm tội (đặc biệt là hình thức phạm tội có tổ chức) so với tổng thể.

- Cơ cấu theo loại (và mức) hình phạt đã tuyên: Theo cơ cấu này phải xác định tỉ trọng của các loại hình phạt đã áp dụng (đặc biệt là hình phạt tử hình, tù chung thân và hình phạt tù ở mức cao) so với tổng thể.

- Cơ cấu theo một số đặc điểm của hành vi phạm tội: Theo cơ cấu này thì đặc điểm của hành vi phạm tội cần được xác định và thống kê trước hết là: Công cụ, phương tiện phạm tội; thủ đoạn phạm tội; thời gian, địa điểm phạm tội; hoàn cảnh, động cơ cũng như lý do dẫn đến hành vi phạm tội...

>> Xem thêm:  Chiến thuật hỏi cung bị can là gì ? Các bước tiến hành việc hỏi cung bị can

- Cơ cấu theo loại và mức độ hậu quả của tội phạm: Theo cơ cấu này thì hậu quả của tội phạm cần xác định và thống kê là thiệt hại về thể chất (chết người; thương tích và mức độ thương tích) và thiệt hại về vật chất (tính ra tiền).

- Cơ cấu theo một số đặc điểm nhân thân của người phạm tội: Theo cơ cấu này thì đặc điểm nhân thân của người phạm tội cần được xác định và thống kê trước hết là: Người phạm tội là người chưa thành niên, là người tái phạm, tái phạm nguy hiểm; hoặc là đặc điểm về nghề nghiệp, về địa vị xã hội, về trình độ văn hoá, về hoàn cảnh gia đình...

- Cơ cấu theo một số đặc điểm nhân thân của nạn nhân: Theo cơ cấu này thì nạn nhân cần được xác định và thống kê trước hết là phụ nữ, trẻ em.

Các số liệu phục vụ nghiên cứu các cơ cấu của tội phạm một phần cũng đã được thể hiện trong thống kê tội phạm và phần còn lại buộc người nghiên cứu phải tự thu thập, thống kê theo yêu cầu riêng. Đây là công việc không đơn giản và trong nhiều trường hợp không thể có được dữ liệu một cách đầy đủ.

Công cụ hỗ trợ việc mô tả cơ cấu của tội phạm có thể được sử dụng là các bảng số liệu và các loại biểu đồ cũng giống như khi mô tả thực trạng của tội phạm xét về mức độ.

Trên cơ sở kết quả mô tả các cơ cẩu cần thiết có thể phân tích để rút ra các đánh giá đối với thực trạng của tội phạm xét về tính chất.

Khi nghiên cứu tình hình tội phạm theo phạm vi cụ thể, người nghiên cứu cần chú ý một số điểm sau:

- Khi nghiên cứu thực trạng của tội phạm xét về mức độ, thông số về tổng tội phạm và tổng người phạm tội là yêu cầu chung cho mọi trường hợp; thông số về nạn nhân có thể được đặt ra trong các trường hợp có thể và cần thiết; các thông số khác cần có để so sánh với thông số về tống tội phạm và tổng người phạm tội có thể không giống nhau giữa các trường hợp nghiên cứu vì mỗi trường hợp có nội dung nghiên cứu cụ thể riêng.

- Khi nghiên cứu thực trạng của tội phạm xét về tính chất, việc khảo sát các cơ cấu ỉà yêu cầu chung cho mọi trường hợp nhưng khảo sát cơ cấu theo tiêu chí nào có thể không giống nhau giữa các trường hợp nghiên cứu. Việc chọn các cơ cấu nhất định để khảo sát là nhằm mục đích làm rõ thực trạng của tội phạm xét về tính chất cũng như cung cấp cơ sở cho việc giải thích nguyên nhân của tội phạm.

Tóm lại, nghiên cứu thực trạng của tội phạm theo phạm vi cụ thể đòi hỏi người nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết chung về tình hình tội phạm phải xác định rõ các thông số cần thu thập và nguồn cũng như cách thức thu thập các thông số đó sao cho các thông số này đủ cho phép mô tả được “bức tranh” tĩnh, toàn cảnh về đối tượng được nghiên cứu xét cả về mức độ (mặt định lượng) và về tính chất (mặt định tính) cũng như đủ cho phép giải thích được các nguyên nhân của tội phạm là đối tượng được nghiên cứu.

>> Xem thêm:  Hỏi cung bị can là gì ? Phân tích quy định pháp luật về hỏi cung bị can ?

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)

>> Xem thêm:  Phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm như thế nào ?

Câu hỏi thường gặp về thực trạng của tội phạm ?

Câu hỏi: Khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu tội phạm ẩn ?

Trả lời:

Tội phạm ẩn là tổng thể các hành vi phạm tội (cùng các chủ thể của các hành vi đó) đã xảy ra trong thực tế, song không được phát hiện, không bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự hoặc không có trong thống kê hình sự.

Ý nghĩa của việc nghiên cứu tội phạm ẩn là để phản ánh chính xác thực trạng tội phạm trong xã hội. Từ đó đưa ra những chính sách pháp luật phù hợp, đưa ra những biện pháp phòng ngừa tội phạm thích hợp, làm giảm thiểu tội phạm trong xã hội.

Câu hỏi: Khái niệm tình hình tội phạm ?

Trả lời:

Tình hình tội phạm được hiểu là một hiện tượng tiêu cực mang thuộc tính xã hội, thường xuyên thay đổi, có tính giai cấp và pháp luật hình sự, được phản ánh qua các thông số về tình hình, cơ cấu, diễn biến của toàn bộ các loại hoặc của một loại tội phạm cùng các chủ thể thực hiện chúng đã xảy ra trong một khoảng thời gian và trong một phạm vi không gian nhất định.

Câu hỏi: Căn cứ phân loại, dạng người phạm tội ?

Trả lời:

– Theo căn cứ xã hội học, việc phân loại dạng người phạm tội căn cứ vào: giới tính, lứa tuổi, trình độ văn hóa, mức độ bảo đảm về vật chất, địa vị xã hội, có gia đình, nguồn gốc xuất xứ xã hội, nghề nghiệp, loại công việc, có chuyên môn nơi sống:

+ Phân loại theo giới tính: chia người phạm tội ra làm 2 loại: nam giới và nữ giới.

+ Lứa tuổi: 2 loại người chưa thành niên và người đã thành niên

+ Địa vị xã hội: 5 nhóm: nông dân; công chức viên chức; học sinh,sinh viên; quân nhân; người về hưu,mất sức

– Theo căn cứ pháp lý: tính chất,mức độ nguy hiểm của tội phạm được thưc hiện, thực hiện tội phạm lần đầu hay nhiều lần. đơn lẻ hay theo nhóm, độ dài của hoạt động phạm tội,khách thể bị xâm hại,hình thức lỗi.