1. Nhiệm vụ bảo vệ quyền con người của Tòa án
Hiến pháp 1992 đã long trọng tuyên bố: Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân. Chính vì vậy, việc tổ chức quyền lực nhà nước cũng phải đảm bảo theo mô hình của nhà nước pháp quyền. Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công phân nhiệm giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một trong những nguyên tắc quan trọng trong việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước và tổ chức bộ máy nhà nước ta. Như vậy, Hiến pháp đã khẳng định quyền tư pháp là một trong ba bộ phận của quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở nhận thức về vị trí, vai trò của quyền lực tư pháp như quy định của hiến pháp, việc tổ chức của hệ thống toà án phải đảm bảo cho nó đảm nhiệm được nhiệm vụ của tòa án trong nhà nước pháp quyền. Nói cách khác tòa án trong nhà nước pháp quyền phải có nhiệm vụ bảo vệ quyền con người.
Về tổ chức toà án, Điều 126 Hiến pháp 1992 quy định: Toà án nhân dân trong phạm vi chức năng của mình có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do danh dự, nhân phẩm của công dân. Như vậy, trong rất nhiều nhiệm vụ của toà án mà Hiến pháp đã liệt kê, bảo vệ tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm - những quyền con người đã được quan tâm. Về thực chất bảo vệ chế độ cũng bao gồm bảo vệ quyền con người khi có sự hiện diện của một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân.
Hiến pháp 2013 có quy định tại Điều 102 như sau:
" 1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
2. Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định.
3. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân."
2. Nguyên tắc tổ chức Tòa án
Nhiệm vụ bảo vệ quyền con người của tòa án của chúng ta không thể không đề cập đến nguyên tắc tổ chức tòa án, trong đó có các nguyên tắc cơ bản như: Độc lập xét xử, nguyên tắc tổ chức theo đơn vị hành chính, nguyên tắc chịu sự giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân... đồng thời, đòi hỏi việc tổ chức của toà án trong nhà nước pháp quyền phải đảm nguyên tắc độc lập xét xử nhằm mục tiêu bảo vệ quyền con người. Điều 10 Tuyên ngôn nhân quyền 1948 và Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị đã tuyên bố: Mọi người đều có quyền được xét xử một cách công khai, đàng hoàng và công bằng bởi một tòa án độc lập, có thẩm quyền, khách quan và được thành lập theo quy định của pháp luật. Tiếp thu tư tưởng văn minh và tiến bộ này của nhân loại, Điều 130 Hiến pháp 1992 quy định: Khi xét xử, thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập chỉ tuân theo pháp luật. Quy định này thực chất là nguyên tắc hoạt động chứ không phải nguyên tắc tổ chức của toà án. Tuy nhiên, muốn hoạt động của tòa án độc lập thì nó phải được tổ chức độc lập trong cơ cấu của một tòa án, trong quan hệ giữa tòa án với cơ quan khác và giữa các toà án với nhau.
Theo Hiến pháp 2013 thì nguyên tắc hoạt động tòa án được quy định tại Điều 103:
"1. Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.
2. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.
3. Tòa án nhân dân xét xử công khai. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín.
4. Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.
5. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm.
6. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm.
7. Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm."
3. Việc tổ chức các cơ quan toà án phải đảm bảo tính độc lập
Kết quả của việc xử lý hành vi xâm phạm đến quyền con người, giải quyết các tranh chấp khác trong xã hội phải dựa trên bản án, quyết định đảm bảo sự thật khách quan, công bằng, công minh, đúng pháp luật, đạt đến chuẩn công lý. Muốn có được những tiêu chí như vậy, đòi hỏi chủ nhân của những bản án, quyết định đó phải có sự độc lập, vô tư và khách quan. Ngược lại sẽ không có những bản án, quyết định như vậy thì hậu quả logic là không đảm bảo được quyền con người nếu toà án còn bị can thiệp, chịu sức ép từ bất cứ phương diện nào đặc biệt là sức ép từ công quyền. Chính vì vậy, việc tổ chức các cơ quan toà án phải đảm bảo tính độc lập chính là tiêu chuẩn để đánh giá đó có phải là tòa án trong nhà nước pháp quyền hay không, đồng thời cũng là tiêu chí đầu tiên để đánh giá một hệ thống toà án có đủ năng lực bảo vệ quyền con người hay không.