1. Thực thi quyền con người và các nhân tố ảnh hưởng
Vấn đề tính đặc thù của việc thực thi quyền con người ở mỗi khu vực, mỗi bối cảnh bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như tôn giáo, chính trị, dân tộc, kinh tế, lịch sử.... Ví dụ, với quyền bình đẳng nam nữ, được quy định trong Điều 3 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR - 1966 và trong Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW - 1979), các quốc gia Hồi giáo hoặc có đạo Hồi chiếm ưu thế khó mà thực thi giống như các quốc gia khác. Bởi vì những giáo luật Hồi giáo có sự xung khắc với những nguyên tắc bình đẳng nam nữ được đặt ra trong các văn kiện này. Cùng với đó, ngay cả trong đạo Phật cũng có những giới luật không chấp nhận sự tham gia của phụ nữ. Có lẽ đây là lý do khiến cho có một số nước ở Đông Nam Á (như Brunei) vẫn chưa tham gia ICCPR, và vối CEDAW mới chỉ tỏ thái độ dè dặt (như Myanmar, Thái Lan, Malaysia). Gần đây, báo giới hay nhắc đến những vụ việc phạt bằng roi hay giam cầm đối với những phụ nữ phạm tội ngoại tình theo giáo luật Hồi giáo ở Indonesia hay Malaysia. Đây là những hình thức về mặt nguyên tắc là vi phạm các quyền cấm tra tấn và quyền chông phân biệt đối xử với phụ nữ, nhưng lại được chấp nhận thông qua các toà án tôn giáo ở các quốc gia này. Ớ đây những ví dụ được nêu ra không phải để tán thành hay phản đối ý kiến nào, mà chỉ muốn nhấn mạnh rằng, trong những khu vực tồn tại rất nhiều khác biệt, cách thức nhìn nhận về quyền con người có thể sẽ khác nhau và dẫn đến những vấn đề phức tạp trong cơ chế bảo vệ quyền con người.
Đó là những vấn đề quyền con người có liên quan đến tôn giáo, ở các lĩnh vực khác, sự khác biệt và đa dạng cũng tạo nên nhiều vấn đề thậm chí có thể gây tranh cãi. Ta có thể nói đến các quyền tự do trong ICCPR và thực tiễn ở Brunei. Ở Brunei, theo như những đánh giá của các tổ chức quốc tế, không có tự do ngôn luận, không có tự do lập hội. Bởi đây là quốc gia quân chủ chuyên chế, nhà vua và hoàng tộc nắm toàn bộ quyền điều hành quốc gia, trong đó có cả quyền đối với các cơ quan ngôn luận. Tuy nhiên, chính quyền Brunei rất ít khi phải chịu sự chỉ trích của báo giổi quốc tế hoặc những tố cáo từ trong nước về tình trạng tự do ở nước mình. Cũng là những vấn đề về bảo vệ quyền tự do và dân chủ cho người dân, những nước như Myanmar còn bị chỉ trích nhiều hơn. Người ta cho rằng nguyên nhân của việc Brunei vẫn hoàn toàn yên ổn trong chế độ chuyên chế, là bởi đây là một đất nước có hệ thống phúc lợi được đảm bảo, người dân được chăm sóc về đời sống, y tế và giáo dục rất chu đáo.
2. Hành động của các quốc gia
Trên những điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hoá... rất khác biệt, các chính phủ của các quốc gia Đông Nam Á đã làm được những gì để bảo vệ quyền con người cho công dân của nước mình?
Mặc dù vẫn còn nhiều ý kiến phê bình, chỉ trích, lên án đồi vối thực trạng bảo vệ quyền con người ở Đông Nam Á (như vân đệ thảm họa nhân đạo sau cơn bão Nargis năm 2008 ở Myanmar, các vấn đề buôn bán phụ nữ và trẻ em, mại dâm, đối xử thiên lệch về sắc tộc, v.v...), nhưng không thể không nhận thấy rằng các chính phủ của các quốc gia Đông Nam Á đã có nhiều nỗ lực thực thi quyền con người thông qua các chính sách và thiết chế của mình.
Trong số 11 quốc gia khu vực Đông Nam Á, có 4 nước theo chính thể quân chủ, 4 nước theo đường lối cộng hoà, 2 nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa và 1 nước còn do chính quyền quân sự nắm nhưng đang trên con đường tiến tới chính quyền dân sự. Trong số các nước quân chủ (Brunei, Malaysia, Thái Lan và Campuchia), chỉ có Brunei là nhà nước quân chủ chuyên chế. Các thông tin chính thức về cơ chế bảo vệ quyền con người ở Brunei hầu như không có. Hiến pháp sửa đổi năm 1984 của Brunei thừa nhận quyền hành không hạn chế của quốc vương Hồi giáo (gọi là Sultan và Yang di-Pertuan), ở mọi lĩnh vực lập pháp, hành pháp, các quyền về quốc phòng, tài chính và thông tin. Trong Hiến pháp tuy quy định rằng Hồi giáo là quốc giáo, nhưng cũng vẫn cho phép các tôn giáo khác tồn tại hoà bình. Brunei mới chỉ tham gia vào hai công ước: Công ước quốc tế về chống phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và Công ước về quyền trẻ em (CRC). Ớ Brunei chưa có cơ quan đảm nhiệm các vấn để về quyền con người.
3. Cơ chế bảo vệ quyền con người trong Hiến chương ASEAN
Hiến chương ASEAN là một dạng hiến pháp dùng cho Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Ý định của việc thảo ra hiến chương này được chính thức bàn đến ở Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 11 diễn ra tại Kuala Lumpur, Malaysia Tháng 12 năm 2005. Mười lãnh đạo khối ASEAN đã được nhiệm vụ thảo hiến chương này.
Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12 diễn ra tại Cebu, Philippines vào Tháng Giêng năm 2007, có vài kiến nghị căn bản được đưa ra. Một trong những kiến nghị đó là việc tháo gỡ chính sách không can thiệp lẫn nhau có từ khi ASEAN được thành lập vào năm 1967.
Hiến chương này được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 13 vào Tháng Mười một năm 2007.
Hiến chương ASEAN đã đề cập đến quyền con người như một trong những nội dung trọng tâm. Trong Hiến chương, vấn đề bảo vệ và thúc đẩy quyền con người và các quyền tự do cơ bản được nhắc lại nhiều lần, như trong Lời mở đầu, phần 7 của Điều 1 (Mục tiêu), phần 2(i) của Điều 2 (Những nguyên tắc). Đặc biệt, Hiến chương trực tiếp xem xét việc thành lập một cơ quan quyền con người của khu vực trong Điều 14:
- Phù hợp với các mục tiêu và nguyên tắc của Hiến chương ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản, ASEAN sẽ lập một cơ quan nhân quyền ASEAN.
- Cơ quan nhân quyền ASEAN này sẽ hoạt động theo Quy chế do Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN quyết định.
Điều 14 này trong Hiến chương ASEAN được đánh giá là tạo ra một bước ngoặt lịch sử trong quá trình thực thi quyền con người nói chung và thiết lập cơ chế khu vực về bảo vệ quyền con người nói riêng.
4. Uỷ ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR)
Năm 2009, cơ quan nhân quyền được đề cập trong Hiến chương đã chính thức được thành lập, vối tên gọi uỷ ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Trước đó, một Nhóm đặc trách cao cấp (HLP) được hình thành với nhiệm vụ soạn thảo một Quy chế hoạt động cho cơ quan nhân quyền tương lai. Nhóm đặc trách đã tiến hành rất nhiều cuộc họp để thảo luận về Quy chế nói trên. Đến tháng 7/2009, Quy chế này đã được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN. Quy chế của AICHR xác định rõ mục tiêu và các nguyên tắc mà AICHR theo đuổi, cùng vối những chức năng được ASEAN thừa nhận cho tổ chức này. Theo đó, mục tiêu của AICHR là ủng hộ và đẩy mạnh việc thực thi nhân quyền đối với nhân dân các quốc gia thành viên ASEAN, góp phần xây dựng ASEAN thành khu vực hoà bình và phồn vinh trên nền tảng tôn trọng những đặc trưng riêng biệt; AICHR có những chức năng: thúc đẩy sự thực thi quyền con người nói chung, thúc đẩy sự hiểu biết về quyền con người trong dân chúng ở khu vực, khuyến khích các quốc gia thành viên tham gia các công ước quốc tế, tư vấn, bàn bạc, thu thập thông tin, báo cáo về tình hình nhân quyền ở ASEAN lên Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao, v.v... Từ khi thành lập cho đến nay, AICHR đã tiến hành hai cuộc họp chính thức và một vài cuộc họp bổ sung, và đã hình thành kế hoạch hoạt động cho 5 năm đầu tiên, theo đúng Quy chế đã công bố.
Việc hình thành một cơ quan nhân quyền mang tầm khu vực đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình thực thi (bảo đảm và bảo vệ) quyền con người ở Đông Nam Á. Trước mắt, cơ quan nhân quyền này sẽ giống như tiếng nói thống nhất và chính thức của tổ chức ASEAN về các vấn đề quyền con người trong khu vực và giúp đỡ cho các hoạt động bảo vệ và bảo đảm quyền con người ỏ các nước thành viên.
5. Chức năng và nhiệm vụ của AICHR
Điều khoản tham chiếu của AICHR quy định 14 nhiệm vụ của AICHR.
- Xây dựng các chiến lược thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản nhằm hỗ trợ cho tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN;
- Xây dựng một Tuyên bố ASEAN về Nhân quyền nhằm tạo khung khổ hợp tác nhân quyền thông qua nhiều Công ước ASEAN khác nhau và các văn kiện khác liên quan đến nhân quyền;
- Nâng cao nhận thức của người dân ASEAN về nhân quyền thông qua giáo dục, nghiên cứu và phổ biến thông tin;
- Tăng cường xây dựng năng lực nhằm thực hiện hiệu quả các nghĩa vụ của các Quốc gia Thành viên ASEAN từ các điều ước quốc tế về nhân quyền;
- Khuyến khích các Quốc gia Thành viên ASEAN xem xét việc gia nhập và phê chuẩn các văn kiện quốc tế về nhân quyền;
- Tăng cường thực hiện đầy đủ các văn kiện ASEAN liên quan đến nhân quyền;
- Cung cấp các dịch vụ tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật về các vấn đề nhân quyền cho các Cơ quan chuyên ngành ASEAN theo đề nghị;
- Tham gia đối thoại và tham vấn với các Cơ quan ASEAN khác và các Thực thể có quan hệ liên kết với ASEAN, bao gồm các tổ chức xã hội dân sự và các bên liên quan khác, như quy định tại Chương V của Hiến chương;
- Tham vấn, khi phù hợp, với các cơ quan và thực thể quốc gia, khu vực và quốc tế khác liên quan đến việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền;
- Thu thập thông tin từ các Quốc gia Thành viên ASEAN về việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền;
- Xây dựng các cách tiếp cận và quan điểm chung về các vấn đề nhân quyền thuộc quan tâm của ASEAN;
- Thực hiện các nghiên cứu chuyên đề về nhân quyền trong ASEAN;
- Đệ trình Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN báo cáo thường niên về các hoạt động của cơ quan này, hoặc các báo cáo khác nếu thấy cần thiết; và
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN giao.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)