Luật sư tư vấn:

1. Cơ sở pháp lý quy định về tiền gửi

- Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017

- Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2013)

- Thông tư 48/2018/TT-NHNN

- Thông tư 49/2018/TT-NHNN

 

2. Tiền gửi là gì?

Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng bao gồm các hình thức tiền gửi của tổ chức (trừ của tổ chức tín dụng), cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu - trái phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thởa thuận.

 

3. Phòng ngừa rủi ro tiền gửi

3.1. Quy định về phòng ngừa rủi ro tiền gửi

Theo quy định tại Điều 16 về “Xử lý các trưòng hợp rủi ro” tại Thông tư số 48/2018/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về tiền gửi tiết kiệm thì pháp luật chỉ quy định tương đối chung chung về việc xử lý rủi ro trong giao dịch tiền gửi, đó là: tổ chức tín dụng hướng dẫn việc xử lý đối với trường hợp nhàu nát, rách, mất Thẻ tiết kiệm hoặc hợp đồng tiền gửi và các trường hợp rủi ro khác đối với tiền gửi phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan, mô hình quản lý, đặc điểm, điều kiện kinh doanh của tổ chức tín dụng và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền.

Bên cạnh đó tại Điều 14 về “Xử lý các trưòng hợp rủi ro” tại Thông tư số 49/2018/TT- NHNN quy định về tiền gửi có kỳ hạn có quy định đối với tài khoản thanh toán, là loại tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, thì pháp luật quy định cụ thể hơn đối với rủi ro. Cụ thể là chủ tài khoản có một trong các nghĩa vụ là: “chịu trách nhiệm về những thiệt hại do sai sót hoặc bị lợi dụng, lừa đảo khi sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản do lỗi của mình”. Đồng thời ngân hàng cũng có một trong các nghĩa vụ tương tự là: “chịu trách nhiệm về những thiệt hại do sai sót hoặc bị lợi dụng, lừa đảo trên tài khoản thanh toán của khách hàng do lỗi của mình”. (Điểm g khoản 2 Điều 5 về “Quyền và nghĩa vụ của chủ tài khoản thanh toán”; điểm g khoản 2 Điều 6 về “Quyền và nghĩa vụ của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán”, Thông tư số 23/2014/TT-NHNN).

 

3.2. Thực tiễn áp dụng quy định về phòng ngừa rủi ro tiền gửi

Trên thực tế những năm 2010-2020 đã xảy ra rất nhiều vụ mất tiền gửi nói chung, tiền tiết kiệm nói riêng và gây ra tranh cãi rất phức tạp về trách nhiệm bồi thường.

Theo quy định trên, thì bên nào có lỗi, bên đó sẽ phải chịu thiệt hại. Tuy nhiên, cái khó ở chỗ, việc xác định lỗi của khách hàng hay của ngân hàng hầu như đều do phía ngân hàng kết luận. Trong khi lỗi thì có nhiều nhưng quan trọng đâu là lỗi chính yếu dẫn đến việc bị mất tiền do bị lợi dụng, lừa đảo? Đặc biệt là, nếu như cả hai bên cùng có sai sót thì đâu là sai sót quyết định dẫn đến việc mất tiền?

Do vậy, để hạn chế bớt những rủi ro không đáng có thì người gửi tiền cần lưu ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cẩn trọng đối với việc giao dịch tại nhà, đặc biệt là việc chỉ giao dịch với một người, dù việc giao dịch vẫn là hợp pháp, vì lợi ích của cả hai bên và nếu việc đó không an toàn, thì là do lỗi của ngân hàng chứ không phải là do khách hàng;

Thứ hai, luôn thực hiện đúng, đầy đủ thủ tục, quy trình theo đúng quy định của pháp luật và của ngân hàng (Thông tư số 23/2014/TT-NHNN)

Thứ ba, xem xét kỹ lưỡng nội dung giấy tờ giao dịch trước khi ký và khi nhận thẻ tiết kiệm, giấy tờ xác nhận tiền gửi, tài sản gửi. Không ký các giấy tờ không, cưng cấp mật khẩu giao dịch ngân hàng điện tở cho người khác, truy cập các đường link lạ, vì rất dễ bị lợi dụng rút, chuyển và chiếm đoạt tiền;

Thứ tư, để phát hiện và xử lý kịp thời rủi ro thì có thể thực hiện các biện pháp kiểm tra đối chiếu số dư tài khoản bằng cách trực tiếp đến nơi giao dịch, gọi điện, nhắn tin, truy cập internet.

Pháp luật quy định, ngân hàng phải cung cấp một biện pháp để người gửi tiền tra cứu khoản tiền gửi tiết kiệm. Ngoài ra, ngân hàng và ngưòi gửi tiền được thởa thuận về các biện pháp khác để người gửi tiền tra cứu khoản tiền gửi tiết kiệm và biện pháp ngân hàng thông báo cho người gửi tiền khi có thay đổi đối với khoản tiền gửi tiết kiệm (Điều 11 Thông tư số 48/2018/ TT-NHNN). Tương tự là việc quy định đối với tiền gửi có kỳ hạn (Điều 8 Thông tư số 49/2018/TT- NHNN ngày 31/12/2018).

Quy định trên dễ bị hiểu nhầm thành trách nhiệm bảo đảm an toàn tiền gửi là của người gửi tiền. Thực ra, việc kiểm tra số dư không có tác dụng bảo đảm an toàn, mà chỉ để biết tiền gửi còn hay đã bị mất. Chưa kể nếu khách hàng thường xuyên phải kiểm tra số dư tiền gửi để biết có bị mất tiền hay không, thì cũng đồng nghĩa với việc không tin tưởng vào sự an toàn của ngân hàng.

Việc kiểm tra, tra soát số dư tiền gửi là quyền chứ không phải là nghĩa vụ của khách hàng. Kiểm tra hằng ngày, tuần, tháng, năm hay không kiểm tra thì cũng không vi phạm quy định nào và không phải chịu trách nhiệm rủi ro do không kiểm tra.

Không có quy định nào của pháp luật, kể cả trong số các nghĩa vụ của chủ tài khoản thanh toán về trách nhiệm của khách hàng trong việc kiểm tra thông tin tài khoản nói chung và thông tin tiền gửi nói riêng.

Vì thế, khách hàng có quyền tiếp nhận hay không tiếp nhận các biện pháp này và có quyền tra cứu hay không tra cứu khoản tiền gửi mà không có lỗi trong việc bị mất tiền gửi.

Trách nhiệm bảo đảm chính xác và an toàn tiền gửi hoàn toàn là của ngân hàng. Việc kiểm tra không có tác dụng phòng tránh rủi ro, mà chỉ để góp phần xử lý, khắc phục hậu quả và quy kết trách nhiệm kịp thời.

 

4. Quy định về bảo hiểm tiền gửi

Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho ngưòi gửi tiền khi tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi hoặc phá sản.

Bảo hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thông cầc tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng .

Tổ chức tín dụng có trách nhiệm tham gia tổ chức bảo toàn, bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật và niêm yết công khai bản sao Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi tại tất cả các điểm giao dịch có nhận tiền gửi1.

Đến năm 2019 mới chỉ triển khai cơ chế tham gia bảo hiểm một phần tiền gửi, chứ chưa bảo hiểm toàn bộ tiền gửi.

Pháp luật quy định về bảo hiểm tiền gửi như sau:

Thứ nhất, người được bảo hiểm tiền gửi chỉ là cá nhân.

Như vậy pháp nhân gửi tiền không được bảo hiểm tiền gửi. Theo đó, khoản tiền gửi là quỹ bảo trì của nhà chung cư, tuy được Luật quy định là “gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm mở tại tổ chức tín dụng”, nhưng cũng không được bảo hiểm tiền gửi, cho dù do chủ đầu tư hay ban quản trị nhà chung cư gửi, vì đó không phải là tiền gửi tiết kiệm và không phải là tiền gửi của cá nhân theo quy định của pháp luật ngân hàng.

Năm 2005, pháp luật bảo hiểm tiền gửi đã từng quy định, cá nhân được bảo hiểm bao gồm cả “hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh”. Sau đó, quy định này đã hết hiệu lực, nhưng vẫn được hiểu là cá nhân là bao gồm cả hộ gia đình, tổ hợp tác và doanh nghiệp tư nhân, vì có địa vị pháp lý tương tự như cá nhân. Riêng công ty hợp danh, tại thòi điểm nám 2005 thì không có tư cách pháp nhân , nhưng từ năm 2006 thì đã có tư cách pháp nhân1, nên được hiểu là không còn được bảo hiểm tiền gửi, vì không còn là cá nhân;

Thứ hai, tổ chức tín dụng nhận tiền gửi của cá nhân bắt buộc phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, trừ đôì với Ngân hàng chính sách;

Thứ ba, người được -bảo hiểm tiền gửi không phải nộp phí bảo hiểm. Tổ chức tín dụng phải nộp phí bảo hiểm tiền gửi cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi với mức phí theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận;

Thứ tư, tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam của cá nhân dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức tiền gửi khác theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng.

Như vậy, tiền gửi bằng đồng ngoại tệ dưới bất kỳ hình thức nào tại các tổ chức tín dụng cũng không được bảo hiểm tiền gửi;

Thứ năm, tiền gửi không được bảo hiểm trong các trường hợp sau đây:

+ Tiền gửi của cá nhân là người sở hữu trên 5% vốn điều lệ (là cổ đông lón) của tổ chức tín dụng nhận tiền gửi;

+ Tiền gửi của cá nhân là thành viên Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc, Phó Tổng giám đốc hoặc Phó Giám đốc của chính tổ chức tín dụng;

+ Tiền mua các giấy tờ có giá vô danh do tổ chức tín dụng phát hành;

Thứ sáu, số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của mỗi ngưòi tại một tổ chức tín dụng bao gồm tiền gốc và tiền lãi, tôì đa bằng hạn mức trả tiền bảo hiểm.

Hạn mức trả tiền bảo hiểm là số tiền tối đa mà tổ chức bảo hiểm tiền gửi trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của một ngưòi tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm.

Năm 1999, số tiền bảo hiểm tối đa là 30 triệu đồng, năm 2005, tăng lên 50 triệu đồng. Từ năm 2017 số’ tiền bảo hiểm tối đa được tăng lên 75 triệu đồng.

Số tiền gửi vượt quá hạn mức trả tiền bảo hiểm sẽ được giải quyết phân chia như đốĩ với khoản nợ không có bảo đảm trong quá trình xử lý tài sản của tổ chức tín dụng bị phá sản theo quy định của pháp luật;

Thứ bảy, người gửi tiền gửi được nhận tiền bảo hiểm trong thời hạn 60 ngày kể từ thời điểm Ngân hàng Nhà nước chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng vẫn lâm vào tình trạng phá sản.

Như vậy, để đảm bảo an toàn trong hoạt động nhân tiền gửi của ngân hàng đồng thời bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền, pháp luật ngân hàng và các quy định pháp luật liên quan có ghi nhận các phương án đó là phòng ngừa rủi ro tiền gửi và bảo hiểm tiền gửi. Tuy vậy, các quy định này đến nay vẫn chưa thật sự chặt chẽ. Trong thời đại kinh tế số, rủi ro trong hoạt động ngân hàng sẽ càng cao bởi vậy các quy định về đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng hơn bao giờ hết cần được rà soát và quy chuẩn để thống nhất áp dụng hiệu quả trên thực tế.

 

5. Câu hỏi thường gặp về tiền gửi, bảo hiểm tiền gửi

5.1 Người được bảo hiểm tiền gửi là ai?

Người được bảo hiểm tiền gửi là cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.

 

5.2 Người điều hành tổ chức tín dụng là ai?

Người điều hành tổ chức tín dụng bao gồm Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc), Kế toán trưởng, Giám đốc chi nhánh và các chức danh tương đương theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng.

 

5.3 Tổ chức nào phải tham gia bảo hiểm tiền gửi?

Căn cứ Điều 4 Nghị định 68/2013/NĐ-CP hướng dẫn luật bảo hiểm tiền gửi thì: (i) Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi của cá nhân, bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng. (ii) Tổ chức tài chính vi mô phải tham gia bảo hiểm tiền gửi đối với tiền gửi của cá nhân bao gồm cả tiền gửi tự nguyện của khách hàng tài chính vi mô, trừ tiền gửi tiết kiệm bắt buộc theo quy định của tổ chức tài chính vi mô.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về các biện pháp bảo đảm an toàn tiền gửi. Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật ngân hàng, hoạt động ngân hàng Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng trực tuyến. Đội ngũ luật sư luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn. Trân trọng./.