Với mục đích tăng cường tính chuyên môn đối với các vụ án Hôn nhân và gia đình và vụ án bảo hộ người chưa thành niên để Tòa án có thể phục vụ người dân một cách tốt nhất, ngày 01/10/1963, Tòa án Gia đình đã ra đời với tư cách là một Tòa án độc lập tại Hàn Quốc. Tại Việt Nam, lần đầu tiên Luật Tổ chức TAND năm 2014 (có hiệu lực thi hành ngày 01/6/2015) có quy định về Tòa Gia đình và người chưa thành niên. Nhằm cung cấp thông tin, tham khảo, chia sẻ kinh nghiệm tại Hàn Quốc, chúng tôi xin đăng tải chuyên đề “Cơ cấu tổ chức và thực tiễn xét xử của Tòa án Gia đình Hàn Quốc” của Giáo sư, Thẩm phán Cho Soon Pyo, Viện Nghiên cứu và đào tạo Tư pháp thuộc Tòa án tối cao Hàn Quốc.

1. Lịch sử Tòa án Gia đình

1.1. Mở ra thời đại mới  của Tòa án Gia đình

Cơ quan tư  pháp  đầu  tiên  đảm  nhiệm  công  việc  xử  lý  quy  trình  thủ  tục  bảo hộ người chưa thành niên  đã ra đời với việc thành  lập Tòa xét  xử  người  chưa thành niên Kyung Sung vào ngày 25.3.1942.  Năm  1946,  'Tòa  xét  xử  người chưa thành  niên' đã được đổi tên thành 'Viện thẩm tra  người  chưa  thành niên’. Không chỉ được thành lập ở thành phố  Seoul,  Viện  cũng  được  thành  lập  tại thành phố Daegu, Pusan, Gwangju.  Sau  đó,  Viện  được  đổi  tên  thành  chi  nhánh Tòa án địa phương phụ trách vụ án về người chưa thành niên.

Ngày 1. 10 1963, Tòa  án  Gia  đình  ra đời  với  tư  cách  là  Tòa  án  độc  lập  cùng với việc sửa  đổi  Luật  tổ  chức  Tòa  án  và  Luật  về  thành  lập  Tòa  án  cấp  dưới và khu vực thẩm quyền.

Mục đích thành lập Tòa án  Gia  đình  riêng  biệt  với  Tòa  án  địa  phương  nhằm tăng cường tính chuyên môn đối  với  vụ  án  hôn  nhân  và  gia  đình  (tranh  chấp giữa các thành viên trong  gia  đình  trong  đó  cần  sự  hỗ  trợ  tích  cực  từ  phía Tòa án) và vụ án bảo hộ người chưa  thành  niên  (xử  lý  hành  vi  sai  trái  của người chưa thành niên)

1.2. Cải cách và phát triển chế độ của Tòa án Gia đình

Năm 1989, dự thảo sửa đổi  Luật  dân  sự  được  thông  qua  có  nội  dung  mấu chốt là thu hẹp quyền lợi nghĩa vụ  của  chủ  hộ  trên  phạm  vi  rộng,  điều  chỉnh phạm  vi  thân  tộc,  thiết  lập  mới  quyền  yêu  cầu  phân  chia  tài  sản  sau  ly  hôn.

Cùng  với  việc  này,  Luật  tố  tụng  hôn  nhân  và  gia  đình đã  được  ban  hành  sau khi  bãi  bỏ  Luật  tố  tụng  nhân  sự  (人事)  và  Luật  xét  xử  hôn  nhân  và  gia  đình (luật  pháp  với  nội  dung  chủ  yếu  về  quy  trình  thủ  tục  tố  tụng  hôn  nhân  và  gia đình). Luật sửa đổi dân sự được thi hành từ năm 1991.

Với việc sửa đổi Luật pháp chủ yếu liên quan  như  trên,  quyền  lợi  của phụ  nữ được mở rộng như với việc áp  dụng  chế  độ  yêu  cầu  phân  chia  tài  sản.  Bên cạnh đó, vai trò của Tòa án gia đình được củng  cố  với  tư  cách  là  Tòa  án chuyên môn thông  qua  sự  thay  đổi  đột  phá  về  chế  độ  pháp  luật  và  bối  cảnh xã hội

1.3. Những thay đổi trong vai trò của Tòa án Gia đình và những bước  tiến mới

Năm 2004, Ủy ban cải cách hôn  nhân  gia  đình  và  người  chưa  thành  niên  đã được thành lập với trọng tâm là Tòa án Gia đình Seoul.  Uỷ  ban  này  đưa  ra phương án cải thiện nhiều  nội  dung  đa  dạng  liên  quan  tới  sự  phát  triển  dài hạn của Tòa án Gia đình. Vai trò  chủ  đạo  của  Ủy  ban  này  là  lập  pháp  và  cải thiện những vấn đề trong toàn  chế  độ  hôn  nhân  gia  đình  và  người  chưa  thành niên như Luật dân sự, Luật tố tụng hôn nhân và gia  đình,  Luật về người  chưa thành niên..

Sau khi áp  dụng  chế  độ  điều  tra  viên  chuyên  trách  vào  năm  2001,  đương  sự có thể nhận được  tư  vấn  từ  chuyên  gia  trong  quá  trình  xét  xử  hôn  nhân  và gia đình. Cuối năm 2000,  chức  năng  hỗ  trợ,  phúc  lợi  như  tiến  hành  giáo  dục bậc phụ huynh,  các  loại  hình  tư  vấn  trong  vụ  án  ly  hôn  (tư  vấn  theo  nhóm các cặp vợ chồng, tư  vấn  trẻ  em),  tổ  chức  họp  nhóm  với  mục  đích  giải  quyết vấn đề con cái trong gia đình trước và sau ly hôn bắt đầu được thực hiện rầm rộ.

Trong xét xử bảo hộ người chưa  thành  niên,  với  việc  sửa  đổi  Luật  về  người chưa thành niên vào năm  2008,  Tòa  án  có  thể  tiến  hành  hoạt  động  bảo  hộ phù hợp và hướng đạo cho  người  chưa  thành  niên  thông  qua  các  biện  pháp mới như: thiết  lập  mới  chế  độ  khuyến  khích  hòa  giải,  đa  dạng  hóa  loại  hình xử lý  bảo  hộ,  tổ  chức  phiên  tòa  với  sự  tham  dự  của  người  chưa  thành  niên, tổ chức hoạt động cắm trại cho người chưa thành niên.

Ngoài Tòa án Gia đình  Seoul,  tại  các  địa  phương  khác,  chi  nhánh  Tòa  án Gia đình hoặc Tòa án địa phương đảm nhiệm  vụ  án  hôn  nhân  và  gia  đình, người chưa thành niên. Nhưng hiện nay, Tòa  án  Gia  đình  Pusan  đã  được thành lập vào  tháng  4.  2011.  Tòa  án  Gia  đình  Dae  Jun,  Dae  Gu,  Gwang  Ju và các chi nhánh trực thuộc của các Tòa án này cũng đã được thành lập vào tháng  3.  2012.  Như  vậy,  hệ  thống  Tòa  án  Gia  đình  trên  toàn  quốc  đã  được thành lập. Đây là một cơ hội  để  Tòa  án  Gia  đình  có  thể  phát  triển  lên  một bước tiến mới với tư cách là  Tòa  án  chuyên  môn.  Tòa  án  Gia  đình  Incheon được dự định sẽ thành lập vào  năm  2016  và  trong  tương  lai  Tòa  án  Gia đình sẽ được thành lập tại mỗi khu vực tương ứng với Tòa án địa phương.

- Dự định sẽ  thành  lập  Tòa  án  gia  đình  ở  thành  phố  Incheon  vào  năm  2016, và dự định thành lập Tòa án gia đình ở  thành  phố  Ulsan  và  thành  phố Suwon có thẩm quyền đối với khu vực  phía  nam  tỉnh  Gyeong-gi  vào  năm 2018.

2. Nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Tòa án Gia đình

- Giải quyết vụ án hôn nhân và  gia  đình  theo  Luật  tố  tụng  hôn  nhân  và  gia đình

- Giải quyết việc dân sự liên  quan  đến  đăng  ký  quan  hệ  gia  đình  và  giám  sát việc đăng ký quan hệ gia đình theo Luật về đăng ký quan hệ gia đình

- Giải quyết vụ án về bảo hộ người  chưa  thành  niên  theo  Luật  về  người  chưa thành niên

-  Các loại vụ việc khác  thuộc  thẩm  quyền  của  Tòa  án  gia  đình  dựa  theo  các quy định pháp luật khác.

- Tòa án dành riêng cho người  chưa  thành  niên  chưa  được  thành  lập.  Do  đó, việc xét xử các  vụ  án  về  người  chưa  thành  niên  được  thực  hiện  theo  “cơ  cấu nhị nguyên”, trong  đó  Tòa  án  thông  thường  đảm  nhận  xét  xử  vụ  án  hình  sự về người chưa thành niên và Tòa án gia  đình  đảm  nhận  xét  xử  vụ  án  bảo  hộ người chưa thành niên.

3. Phân loại vụ việc hôn nhân và gia đình

3.1. Phân loại vụ việc hôn nhân và gia đình (khái quát)

Thứ nhất: Tố tụng về hôn nhân và gia đình

- Quy trình thủ tục của  Tòa  án  phán  đoán  tính  chất  đúng  sai  về  quan  điểm của đương sự trong tranh chấp pháy lý

- Ly hôn thông qua xét xử, xác  nhận  tình  trạng  hôn  nhân  trên  thực  tế,  xác định tồn tại quan hệ cha, mẹ, con giữa  cha  mẹ  đẻ  và  con  đẻ,  xác  định không tồn tại quan hệ cha, mẹ, con giữa cha mẹ đẻ và con đẻ

- Vô hiệu hoặc  hủy bỏ quan hệ  hôn nhân, ly hôn, cha  mẹ đẻ  xác nhận con đẻ ngoài hôn nhân, nhận con nuôi, chám dứt quan hệ con nuôi

- Yêu cầu bồi thường  thiệt  hại  hoặc  yêu  cầu  khôi  phục  tình  trạng  ban  đầu  do tan vỡ quan hệ nhân thân

Thứ hai: Việc về hôn nhân và gia đình ngoài tố tụng

- Không lấy tiền đề là hai bên đương sự đang xảy ra tranh chấp;

- Xét về mặt chính sách, Tòa  án  đảm  nhận  hỗ  trợ,  giám  sát  và  xử  lý  vụ  việc một cách phù hợp theo mục đích bằng quyền hạn của mình

- Chế độ giám hộ thành niên, xác nhận  về  việc  nhận  con  nuôi  như  con  đẻ, quyết định về chỉ định  và  điều  hành  người  giám  hộ,  quyết  định  liên  quan đến thừa kế, di chúc(công nhận mang tính hỗ trợ, giám sát)

- Yêu cầu chi phí chăm sóc, chi phí nuôi dưỡng,  chỉ  định  người  giám  hộ đương nhiên, người nuôi dưỡng con,  quyền  thăm  non  con,  yêu  cầu  tiền  nuôi con, yêu  cầu phân  chia tài sản,  yêu cầu phân chia tài sản được thừa kế(mang tính đối chất, theo nhận định của Tòa án)

3.2. Tố tụng về hôn nhân và gia đình

- Đây là quy trình thủ tục trong  đó  Tòa  án  phán  đoán  tính  chất  đúng  sai  về quan điểm của hai bên  đương  sự  khi  áp  dụng  tiêu  chuẩn  phán  đoán  căn  cứ vào luật đặt quyền hạn và nghĩa vụ đối với  tranh  chấp  pháp  lý  giữa  hai  bên đương sự

- Luật tố tụng  về  hôn  nhân  và  gia  đình  phân  loại  thành  ba  loại  hình  vụ  việc  A, B, C (Khoản 1 Điều 2 Luật tố tụng về hôn nhân và gia đình)

Thứ nhất: Tố tụng về hôn nhân và gia đình loại  A

- Về nguyên tác, các vụ việc loại A tuân  theo  cơ  chế  tố  tụng  thẩm  vấn  nên không công nhận sự thừa nhận của đương sự  hoặc  việc  tự  định  đoạt  đối tượng tranh chấp hoặc hòa giải của hai bên đương sự

- Vô hiệu quan hệ hôn nhân, ly hôn,  cha  me  đẻ  xác  nhận  con  đẻ  ngoài  hôn nhân, nhận con  nuôi,  chấm  dứt  quan  hệ  con  nuôi  và  xác  định  tồn  tại  quan hệ cha, mẹ, con giữa cha mẹ đẻ và con đẻ.

Thứ hai:Tố tụng về hôn nhân và gia đình loại B

- Dù tố tụng theo loại B áp  dụng  cơ  chế  tố  tụng  thẩm  vấn  nhưng  vẫn  cho phép tiến hành hòa giải;

- Ly hôn thông  qua  xét  xử,  xác  nhận  tình  trạng  quan  hệ  hôn  nhân  trên  thực tế.

- Hủy bỏ quan hệ hôn nhân, ly hôn,  cha  mẹ  đẻ  xác  nhận  con  đẻ  ngoài  hôn nhân, nhận con nuôi, chấm dứt quan hệ con nuôi

- Tố tụng liên quan đến  việc  như  cha  mẹ  đẻ  yêu  cầu  xác  nhận  con  đẻ  ngoài hôn nhân, tố tụng yêu cầu  xác  định  không  tồn  tại  mối  quan  hệ  cha,  mẹ,  con giữa cha mẹ đẻ và con đẻ,...

Thứ ba: Tố tụng về hôn nhân và gia đình loại C

- Là loại vụ án mà Tòa  án  xử  lý  yêu  cầu  thông  qua  xét  xử  đơn  thuần,  bản chất là vụ án dân sự. Vụ án loại  C  áp  dụng  cơ  chế  tố  tụng  tranh  tụng  chứ không phải cơ chế tố tụng thẩm vấn;

- Yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu khôi phục  tình  trạng  ban  đầu  do nguyên nhân tan vỡ quan hệ nhân thân như ly hôn

- Không chỉ bao gồm yêu cầu đối  với  bên  đối  phương  trong  ly  hôn,  mà  bao gồm cả yêu cầu đối với bên  thứ  ba  có  trách  nhiệm  về  nguyên  nhân  tan  vỡ quan hệ hôn nhân.

3.3. Việc về hôn nhân và gia đình

- Tranh  chấp  pháp  lý  giữa  hai  bên  đương  sự  không  nhất  thiết  phải  là  tiền  đề của  việc  về  hôn  nhân  và  gia  đình.  Nhà  nước  trao  nhiệm  vụ  cho  Tòa  án  hỗ trợ, giám sát việc xử lý các nội  dung  pháp  lý  của  cá  nhân  theo  góc  nhìn chính sách nhà nước, Tòa  án  xử  lý  việc  về  hôn  nhân  và  gia  đình  một  cách phù hợp, hợp lý bằng quyền hạn của mình.

- Luật tố tụng về hôn  nhân  và  gia  đình  phân  loại  việc  về  hôn  nhân  và  gia  đình này thành hai loại D và E (Khoản  1  Điều  2  Luật  tố  tụng  về  hôn  nhân  và  gia đình)

- Việc về hôn nhân và gia đình loại D

+ Việc loại D không có tính chất  tranh  tụng  mà  là  quy  trình  thủ  tục  cần  sự công nhận mang tính hỗ trợ hoặc  xử  lý  mang  tính  giám  sát  của  Tòa  án. Việc loại  D không phải  là đối tượng của thủ tục hòa giải.

+ Quyết định giám hộ thành niên,  tuyên  bố  mất  tích,  thay  đổi  tên,  nhận  con nuôi như con đẻ, chỉ định người  giám  hộ,  người  quản  lý  tài  sản,  người  chấp hành di chúc, người  quản  lý  tài  sản  thừa  kế,  công  nhận  hạn  chế  trong  thừa kế, từ bỏ thừa kế

- Việc về hôn nhân và gia đình loại E

+ Là tranh chấp mang tính đối chất,  phải  có  mặt  hai  bên.  Việc  loại  B  là  quy trình thủ tục cần đến nhận  định  của  Tòa  án  gia  đình  theo  khía  cạnh  hỗ  trợ. Đây là đối tượng của thủ tục hòa giải.

+ Quyết định về chi phí chăm sóc giữa vợ chồng, thân tộc..

+ Chỉ định hoặc thay đổi người giám  hộ  đương  nhiên  theo  ly  hôn,  quyết  định hoặc thay đổi về việc nuôi dưỡng  con,  hạn  chế  hoặc  loại  bỏ  quyền  thăm nom con;

+ Định đoạt liên quan đến phân chia tài sản theo ly hôn;

+ Định đoạt liên quan tới phân chia  tài  sản  thừa  kế  và  quyết  định  về  tỉ  lệ đóng  góp.

4. Việc về hôn nhân và gia đình

- Tranh  chấp  pháp  lý  giữa  hai  bên  đương  sự  không  nhất  thiết  phải  là  tiền  đề của  việc  về  hôn  nhân  và  gia  đình.  Nhà  nước  trao  nhiệm  vụ  cho  Tòa  án  hỗ trợ, giám sát việc xử lý các nội  dung  pháp  lý  của  cá  nhân  theo  góc  nhìn chính sách nhà nước, Tòa  án  xử  lý  việc  về  hôn  nhân  và  gia  đình  một  cách phù hợp, hợp lý bằng quyền hạn của mình.

- Luật tố tụng về hôn  nhân  và  gia  đình  phân  loại  việc  về  hôn  nhân  và  gia  đình này thành hai loại D và E (Khoản  1  Điều  2  Luật  tố  tụng  về  hôn  nhân  và  gia đình)

- Việc về hôn nhân và gia đình loại D

+ Việc loại D không có tính chất  tranh  tụng  mà  là  quy  trình  thủ  tục  cần  sự công nhận mang tính hỗ trợ hoặc  xử  lý  mang  tính  giám  sát  của  Tòa  án. Việc loại  D không phải  là đối tượng của thủ tục hòa giải.

+ Quyết định giám hộ thành niên,  tuyên  bố  mất  tích,  thay  đổi  tên,  nhận  con nuôi như con đẻ, chỉ định người  giám  hộ,  người  quản  lý  tài  sản,  người  chấp hành di chúc, người  quản  lý  tài  sản  thừa  kế,  công  nhận  hạn  chế  trong  thừa kế, từ bỏ thừa kế

- Việc về hôn nhân và gia đình loại E

+ Là tranh chấp mang tính đối chất,  phải  có  mặt  hai  bên.  Việc  loại  B  là  quy trình thủ tục cần đến nhận  định  của  Tòa  án  gia  đình  theo  khía  cạnh  hỗ  trợ. Đây là đối tượng của thủ tục hòa giải.

+ Quyết định về chi phí chăm sóc giữa vợ chồng, thân tộc..

+ Chỉ định hoặc thay đổi người giám  hộ  đương  nhiên  theo  ly  hôn,  quyết  định hoặc thay đổi về việc nuôi dưỡng  con,  hạn  chế  hoặc  loại  bỏ  quyền  thăm nom con;

+ Định đoạt liên quan đến phân chia tài sản theo ly hôn;

+ Định đoạt liên quan tới phân chia  tài  sản  thừa  kế  và  quyết  định  về  tỉ  lệ đóng  góp.

5. Hệ thống các cấp xét xử

- Tòa án gia đình đảm nhận xét  xử  phúc  thẩm  đối  với  vụ  án  được  xét  xử  sơ thẩm bởi Hội đồng một Thẩm phán của Tòa án gia đình.

- Tòa án cấp cao đảm nhận xét  xử  phúc  thẩm  đối  với  vụ  án  được  xét  xử  sơ thẩm bởi Hội đồng ba Thẩm phán  của  Tòa  án  gia  đình.  Việc  xét  xử  chung thẩm đối với tất cả các vụ án  hôn  nhân  và  gia  đình  do  Tòa  án  tối  cao  đảm nhận.

Bài viết tham khảo: Cơ cấu tổ chức và thực tiễn xét xử của Tòa án Gia đình Hàn Quốc Kì 1; Hải Đăng - Trang thông tin điện tử Học viện Tòa án