- 1. Lịch sử Tòa án Gia đình
- 1.1. Mở ra thời đại mới của Tòa án Gia đình
- 1.2. Cải cách và phát triển chế độ của Tòa án Gia đình
- 1.3. Những thay đổi trong vai trò của Tòa án Gia đình và những bước tiến mới
- 2. Nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Tòa án Gia đình
- 3. Phân loại vụ việc hôn nhân và gia đình
- 3.1. Phân loại vụ việc hôn nhân và gia đình (khái quát)
- 3.2. Tố tụng về hôn nhân và gia đình
- 3.3. Việc về hôn nhân và gia đình
- 4. Việc về hôn nhân và gia đình
- 5. Hệ thống các cấp xét xử
Với mục đích tăng cường tính chuyên môn đối với các vụ án Hôn nhân và gia đình và vụ án bảo hộ người chưa thành niên để Tòa án có thể phục vụ người dân một cách tốt nhất, ngày 01/10/1963, Tòa án Gia đình đã ra đời với tư cách là một Tòa án độc lập tại Hàn Quốc. Tại Việt Nam, lần đầu tiên Luật Tổ chức TAND năm 2014 (có hiệu lực thi hành ngày 01/6/2015) có quy định về Tòa Gia đình và người chưa thành niên. Nhằm cung cấp thông tin, tham khảo, chia sẻ kinh nghiệm tại Hàn Quốc, chúng tôi xin đăng tải chuyên đề “Cơ cấu tổ chức và thực tiễn xét xử của Tòa án Gia đình Hàn Quốc” của Giáo sư, Thẩm phán Cho Soon Pyo, Viện Nghiên cứu và đào tạo Tư pháp thuộc Tòa án tối cao Hàn Quốc.
1. Lịch sử Tòa án Gia đình
1.1. Mở ra thời đại mới của Tòa án Gia đình
Cơ quan tư pháp đầu tiên đảm nhiệm công việc xử lý quy trình thủ tục bảo hộ người chưa thành niên đã ra đời với việc thành lập Tòa xét xử người chưa thành niên Kyung Sung vào ngày 25.3.1942. Năm 1946, 'Tòa xét xử người chưa thành niên' đã được đổi tên thành 'Viện thẩm tra người chưa thành niên’. Không chỉ được thành lập ở thành phố Seoul, Viện cũng được thành lập tại thành phố Daegu, Pusan, Gwangju. Sau đó, Viện được đổi tên thành chi nhánh Tòa án địa phương phụ trách vụ án về người chưa thành niên.
Ngày 1. 10 1963, Tòa án Gia đình ra đời với tư cách là Tòa án độc lập cùng với việc sửa đổi Luật tổ chức Tòa án và Luật về thành lập Tòa án cấp dưới và khu vực thẩm quyền.
Mục đích thành lập Tòa án Gia đình riêng biệt với Tòa án địa phương nhằm tăng cường tính chuyên môn đối với vụ án hôn nhân và gia đình (tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình trong đó cần sự hỗ trợ tích cực từ phía Tòa án) và vụ án bảo hộ người chưa thành niên (xử lý hành vi sai trái của người chưa thành niên)
1.2. Cải cách và phát triển chế độ của Tòa án Gia đình
Năm 1989, dự thảo sửa đổi Luật dân sự được thông qua có nội dung mấu chốt là thu hẹp quyền lợi nghĩa vụ của chủ hộ trên phạm vi rộng, điều chỉnh phạm vi thân tộc, thiết lập mới quyền yêu cầu phân chia tài sản sau ly hôn.
Cùng với việc này, Luật tố tụng hôn nhân và gia đình đã được ban hành sau khi bãi bỏ Luật tố tụng nhân sự (人事) và Luật xét xử hôn nhân và gia đình (luật pháp với nội dung chủ yếu về quy trình thủ tục tố tụng hôn nhân và gia đình). Luật sửa đổi dân sự được thi hành từ năm 1991.
Với việc sửa đổi Luật pháp chủ yếu liên quan như trên, quyền lợi của phụ nữ được mở rộng như với việc áp dụng chế độ yêu cầu phân chia tài sản. Bên cạnh đó, vai trò của Tòa án gia đình được củng cố với tư cách là Tòa án chuyên môn thông qua sự thay đổi đột phá về chế độ pháp luật và bối cảnh xã hội
1.3. Những thay đổi trong vai trò của Tòa án Gia đình và những bước tiến mới
Năm 2004, Ủy ban cải cách hôn nhân gia đình và người chưa thành niên đã được thành lập với trọng tâm là Tòa án Gia đình Seoul. Uỷ ban này đưa ra phương án cải thiện nhiều nội dung đa dạng liên quan tới sự phát triển dài hạn của Tòa án Gia đình. Vai trò chủ đạo của Ủy ban này là lập pháp và cải thiện những vấn đề trong toàn chế độ hôn nhân gia đình và người chưa thành niên như Luật dân sự, Luật tố tụng hôn nhân và gia đình, Luật về người chưa thành niên..
Sau khi áp dụng chế độ điều tra viên chuyên trách vào năm 2001, đương sự có thể nhận được tư vấn từ chuyên gia trong quá trình xét xử hôn nhân và gia đình. Cuối năm 2000, chức năng hỗ trợ, phúc lợi như tiến hành giáo dục bậc phụ huynh, các loại hình tư vấn trong vụ án ly hôn (tư vấn theo nhóm các cặp vợ chồng, tư vấn trẻ em), tổ chức họp nhóm với mục đích giải quyết vấn đề con cái trong gia đình trước và sau ly hôn bắt đầu được thực hiện rầm rộ.
Trong xét xử bảo hộ người chưa thành niên, với việc sửa đổi Luật về người chưa thành niên vào năm 2008, Tòa án có thể tiến hành hoạt động bảo hộ phù hợp và hướng đạo cho người chưa thành niên thông qua các biện pháp mới như: thiết lập mới chế độ khuyến khích hòa giải, đa dạng hóa loại hình xử lý bảo hộ, tổ chức phiên tòa với sự tham dự của người chưa thành niên, tổ chức hoạt động cắm trại cho người chưa thành niên.
Ngoài Tòa án Gia đình Seoul, tại các địa phương khác, chi nhánh Tòa án Gia đình hoặc Tòa án địa phương đảm nhiệm vụ án hôn nhân và gia đình, người chưa thành niên. Nhưng hiện nay, Tòa án Gia đình Pusan đã được thành lập vào tháng 4. 2011. Tòa án Gia đình Dae Jun, Dae Gu, Gwang Ju và các chi nhánh trực thuộc của các Tòa án này cũng đã được thành lập vào tháng 3. 2012. Như vậy, hệ thống Tòa án Gia đình trên toàn quốc đã được thành lập. Đây là một cơ hội để Tòa án Gia đình có thể phát triển lên một bước tiến mới với tư cách là Tòa án chuyên môn. Tòa án Gia đình Incheon được dự định sẽ thành lập vào năm 2016 và trong tương lai Tòa án Gia đình sẽ được thành lập tại mỗi khu vực tương ứng với Tòa án địa phương.
- Dự định sẽ thành lập Tòa án gia đình ở thành phố Incheon vào năm 2016, và dự định thành lập Tòa án gia đình ở thành phố Ulsan và thành phố Suwon có thẩm quyền đối với khu vực phía nam tỉnh Gyeong-gi vào năm 2018.
2. Nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Tòa án Gia đình
- Giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình theo Luật tố tụng hôn nhân và gia đình
- Giải quyết việc dân sự liên quan đến đăng ký quan hệ gia đình và giám sát việc đăng ký quan hệ gia đình theo Luật về đăng ký quan hệ gia đình
- Giải quyết vụ án về bảo hộ người chưa thành niên theo Luật về người chưa thành niên
- Các loại vụ việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án gia đình dựa theo các quy định pháp luật khác.
- Tòa án dành riêng cho người chưa thành niên chưa được thành lập. Do đó, việc xét xử các vụ án về người chưa thành niên được thực hiện theo “cơ cấu nhị nguyên”, trong đó Tòa án thông thường đảm nhận xét xử vụ án hình sự về người chưa thành niên và Tòa án gia đình đảm nhận xét xử vụ án bảo hộ người chưa thành niên.
3. Phân loại vụ việc hôn nhân và gia đình
3.1. Phân loại vụ việc hôn nhân và gia đình (khái quát)
Thứ nhất: Tố tụng về hôn nhân và gia đình
- Quy trình thủ tục của Tòa án phán đoán tính chất đúng sai về quan điểm của đương sự trong tranh chấp pháy lý
- Ly hôn thông qua xét xử, xác nhận tình trạng hôn nhân trên thực tế, xác định tồn tại quan hệ cha, mẹ, con giữa cha mẹ đẻ và con đẻ, xác định không tồn tại quan hệ cha, mẹ, con giữa cha mẹ đẻ và con đẻ
- Vô hiệu hoặc hủy bỏ quan hệ hôn nhân, ly hôn, cha mẹ đẻ xác nhận con đẻ ngoài hôn nhân, nhận con nuôi, chám dứt quan hệ con nuôi
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu khôi phục tình trạng ban đầu do tan vỡ quan hệ nhân thân
Thứ hai: Việc về hôn nhân và gia đình ngoài tố tụng
- Không lấy tiền đề là hai bên đương sự đang xảy ra tranh chấp;
- Xét về mặt chính sách, Tòa án đảm nhận hỗ trợ, giám sát và xử lý vụ việc một cách phù hợp theo mục đích bằng quyền hạn của mình
- Chế độ giám hộ thành niên, xác nhận về việc nhận con nuôi như con đẻ, quyết định về chỉ định và điều hành người giám hộ, quyết định liên quan đến thừa kế, di chúc(công nhận mang tính hỗ trợ, giám sát)
- Yêu cầu chi phí chăm sóc, chi phí nuôi dưỡng, chỉ định người giám hộ đương nhiên, người nuôi dưỡng con, quyền thăm non con, yêu cầu tiền nuôi con, yêu cầu phân chia tài sản, yêu cầu phân chia tài sản được thừa kế(mang tính đối chất, theo nhận định của Tòa án)
3.2. Tố tụng về hôn nhân và gia đình
- Đây là quy trình thủ tục trong đó Tòa án phán đoán tính chất đúng sai về quan điểm của hai bên đương sự khi áp dụng tiêu chuẩn phán đoán căn cứ vào luật đặt quyền hạn và nghĩa vụ đối với tranh chấp pháp lý giữa hai bên đương sự
- Luật tố tụng về hôn nhân và gia đình phân loại thành ba loại hình vụ việc A, B, C (Khoản 1 Điều 2 Luật tố tụng về hôn nhân và gia đình)
Thứ nhất: Tố tụng về hôn nhân và gia đình loại A
- Về nguyên tác, các vụ việc loại A tuân theo cơ chế tố tụng thẩm vấn nên không công nhận sự thừa nhận của đương sự hoặc việc tự định đoạt đối tượng tranh chấp hoặc hòa giải của hai bên đương sự
- Vô hiệu quan hệ hôn nhân, ly hôn, cha me đẻ xác nhận con đẻ ngoài hôn nhân, nhận con nuôi, chấm dứt quan hệ con nuôi và xác định tồn tại quan hệ cha, mẹ, con giữa cha mẹ đẻ và con đẻ.
Thứ hai:Tố tụng về hôn nhân và gia đình loại B
- Dù tố tụng theo loại B áp dụng cơ chế tố tụng thẩm vấn nhưng vẫn cho phép tiến hành hòa giải;
- Ly hôn thông qua xét xử, xác nhận tình trạng quan hệ hôn nhân trên thực tế.
- Hủy bỏ quan hệ hôn nhân, ly hôn, cha mẹ đẻ xác nhận con đẻ ngoài hôn nhân, nhận con nuôi, chấm dứt quan hệ con nuôi
- Tố tụng liên quan đến việc như cha mẹ đẻ yêu cầu xác nhận con đẻ ngoài hôn nhân, tố tụng yêu cầu xác định không tồn tại mối quan hệ cha, mẹ, con giữa cha mẹ đẻ và con đẻ,...
Thứ ba: Tố tụng về hôn nhân và gia đình loại C
- Là loại vụ án mà Tòa án xử lý yêu cầu thông qua xét xử đơn thuần, bản chất là vụ án dân sự. Vụ án loại C áp dụng cơ chế tố tụng tranh tụng chứ không phải cơ chế tố tụng thẩm vấn;
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu khôi phục tình trạng ban đầu do nguyên nhân tan vỡ quan hệ nhân thân như ly hôn
- Không chỉ bao gồm yêu cầu đối với bên đối phương trong ly hôn, mà bao gồm cả yêu cầu đối với bên thứ ba có trách nhiệm về nguyên nhân tan vỡ quan hệ hôn nhân.
3.3. Việc về hôn nhân và gia đình
- Tranh chấp pháp lý giữa hai bên đương sự không nhất thiết phải là tiền đề của việc về hôn nhân và gia đình. Nhà nước trao nhiệm vụ cho Tòa án hỗ trợ, giám sát việc xử lý các nội dung pháp lý của cá nhân theo góc nhìn chính sách nhà nước, Tòa án xử lý việc về hôn nhân và gia đình một cách phù hợp, hợp lý bằng quyền hạn của mình.
- Luật tố tụng về hôn nhân và gia đình phân loại việc về hôn nhân và gia đình này thành hai loại D và E (Khoản 1 Điều 2 Luật tố tụng về hôn nhân và gia đình)
- Việc về hôn nhân và gia đình loại D
+ Việc loại D không có tính chất tranh tụng mà là quy trình thủ tục cần sự công nhận mang tính hỗ trợ hoặc xử lý mang tính giám sát của Tòa án. Việc loại D không phải là đối tượng của thủ tục hòa giải.
+ Quyết định giám hộ thành niên, tuyên bố mất tích, thay đổi tên, nhận con nuôi như con đẻ, chỉ định người giám hộ, người quản lý tài sản, người chấp hành di chúc, người quản lý tài sản thừa kế, công nhận hạn chế trong thừa kế, từ bỏ thừa kế
- Việc về hôn nhân và gia đình loại E
+ Là tranh chấp mang tính đối chất, phải có mặt hai bên. Việc loại B là quy trình thủ tục cần đến nhận định của Tòa án gia đình theo khía cạnh hỗ trợ. Đây là đối tượng của thủ tục hòa giải.
+ Quyết định về chi phí chăm sóc giữa vợ chồng, thân tộc..
+ Chỉ định hoặc thay đổi người giám hộ đương nhiên theo ly hôn, quyết định hoặc thay đổi về việc nuôi dưỡng con, hạn chế hoặc loại bỏ quyền thăm nom con;
+ Định đoạt liên quan đến phân chia tài sản theo ly hôn;
+ Định đoạt liên quan tới phân chia tài sản thừa kế và quyết định về tỉ lệ đóng góp.
4. Việc về hôn nhân và gia đình
- Tranh chấp pháp lý giữa hai bên đương sự không nhất thiết phải là tiền đề của việc về hôn nhân và gia đình. Nhà nước trao nhiệm vụ cho Tòa án hỗ trợ, giám sát việc xử lý các nội dung pháp lý của cá nhân theo góc nhìn chính sách nhà nước, Tòa án xử lý việc về hôn nhân và gia đình một cách phù hợp, hợp lý bằng quyền hạn của mình.
- Luật tố tụng về hôn nhân và gia đình phân loại việc về hôn nhân và gia đình này thành hai loại D và E (Khoản 1 Điều 2 Luật tố tụng về hôn nhân và gia đình)
- Việc về hôn nhân và gia đình loại D
+ Việc loại D không có tính chất tranh tụng mà là quy trình thủ tục cần sự công nhận mang tính hỗ trợ hoặc xử lý mang tính giám sát của Tòa án. Việc loại D không phải là đối tượng của thủ tục hòa giải.
+ Quyết định giám hộ thành niên, tuyên bố mất tích, thay đổi tên, nhận con nuôi như con đẻ, chỉ định người giám hộ, người quản lý tài sản, người chấp hành di chúc, người quản lý tài sản thừa kế, công nhận hạn chế trong thừa kế, từ bỏ thừa kế
- Việc về hôn nhân và gia đình loại E
+ Là tranh chấp mang tính đối chất, phải có mặt hai bên. Việc loại B là quy trình thủ tục cần đến nhận định của Tòa án gia đình theo khía cạnh hỗ trợ. Đây là đối tượng của thủ tục hòa giải.
+ Quyết định về chi phí chăm sóc giữa vợ chồng, thân tộc..
+ Chỉ định hoặc thay đổi người giám hộ đương nhiên theo ly hôn, quyết định hoặc thay đổi về việc nuôi dưỡng con, hạn chế hoặc loại bỏ quyền thăm nom con;
+ Định đoạt liên quan đến phân chia tài sản theo ly hôn;
+ Định đoạt liên quan tới phân chia tài sản thừa kế và quyết định về tỉ lệ đóng góp.
5. Hệ thống các cấp xét xử
- Tòa án gia đình đảm nhận xét xử phúc thẩm đối với vụ án được xét xử sơ thẩm bởi Hội đồng một Thẩm phán của Tòa án gia đình.
- Tòa án cấp cao đảm nhận xét xử phúc thẩm đối với vụ án được xét xử sơ thẩm bởi Hội đồng ba Thẩm phán của Tòa án gia đình. Việc xét xử chung thẩm đối với tất cả các vụ án hôn nhân và gia đình do Tòa án tối cao đảm nhận.
Bài viết tham khảo: Cơ cấu tổ chức và thực tiễn xét xử của Tòa án Gia đình Hàn Quốc Kì 1; Hải Đăng - Trang thông tin điện tử Học viện Tòa án