1. Tình tiết “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” theo Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019

Ngày 03/4/2019, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 64/TANDTC-PC thông báo kết quả giải đáp một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính. Tình tiết “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 được hiểu như sau:

Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 thì không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ nếu sau khi bị kết án đã nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

Tuy nhiên, đối với trường hợp bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn hoặc tù chung thân là loại hình phạt nhẹ hơn so với hình phạt tử hình, nên “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 được hiểu là đã bồi thường được ít nhất một phần hai nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp, người bị kết án bồi thường được ít hơn một phần hai nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án nhưng có văn bản miễn giảm một phần nghĩa vụ dân sự hoặc có thỏa thuận khác của phía bị hại (có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền) thể hiện người bị kết án đã bồi thường được một phần hai nghĩa vụ dân sự thì cũng được coi là “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự”.

Như vậy, theo quy định và hướng dẫn tham khảo áp dụng như trên, chúng ta phải xác định thống nhất nhận thức chung đó là: Đối với người bị kết án để được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù lần đầu sẽ phải chia ra 2 trường hợp:

- Một là, nếu khi xét xử mà người bị kết án bị kết án theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì khi người bị kết án đã chấp hành án phạt tù một thời gian nhất định và có nhiều tiến bộ sẽ được xem xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù mà không cần tiêu chí “đã thực hiện được ½ nghĩa vụ dân sự”;

- Hai là, nếu người bị kết án bị xét xử và kết án theo Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 thì khi người bị kết án đã chấp hành án phạt tù một thời gian nhất định và có nhiều tiến bộ sẽ được xem xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cần phải thỏa mãn điều kiện đó là: “đã thực hiện được ½ nghĩa vụ dân sự”, thì mới được xem xét đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù lần đầu.

Việc, chia ra 2 trường hợp như trên là căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017, cụ thể: "Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.” Do vấn đề điều kiện “đã thực hiện được một phần nghĩa vụ dân sự” là một tiêu chí mới hạn chế phạm vi áp dụng đối với giảm thời hạn chấp hành án phạt tù lần đầu nên tiêu chí này về nguyên tắc sẽ không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

2. Thực tiễn áp dụng tình tiết đã bồi thường một phần nghĩa vụ dân sự

Phạm nhân Nguyễn Văn A bị kết án 12 năm tù (tính từ ngày tạm giữ 01/01/2017 về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS năm 2015. Theo quyết định của bản án thì về nghĩa vụ dân sự buộc bị cáo phải BTTH cho bị hại 1,6 tỷ đồng; đã bồi thường 800.000.000 đồng; còn phải bồi thường 800.000.000 đồng. Phải thực hiện nghĩa vụ án phí dân sự 36.000.000 đồng và 200.000 án phí hình sự. Quá trình chấp hành án phạt tù phạm nhân Nguyễn Văn A đã rất cố gắng vận động gia đình thực hiện được một 100.000.000 đồng nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và thực hiện xong toàn bộ án phí hình sự và dân sự. Tính đến đợt xét giảm 30/4/2021 phạm nhân Nguyễn Văn A đã chấp hành được trên 1/3 mức án phạt (cụ thể đã chấp hành án phạt tù được 4 năm 3 tháng); có đủ năm xếp loại từ Khá trở lên, cụ thể 2 năm 2019, 2020 và quý 1 năm 2021: xếp loại cải tạo Khá. Trại đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù lần đầu cho phạm nhân với mức 8 tháng.

Trong quá trình nghiên cứu, giải quyết thì vấn đề phạm nhân có đủ điều kiện để được chấp nhận giảm thời hạn chấp hành án phạt tù lần đầu hay không, thì có 02 quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Phạm nhân Nguyễn Văn A không đủ điều để được xem xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù lần đầu. Vì mặc dù phạm nhân A đã chấp hành được trên 1/3 mức án phạt tù; có nhiều tiến bộ, cụ thể đã đủ thời gian xếp loại từ Khá trở lên, cụ thể là 02 năm. Tuy nhiên trong quá trình chấp hành án việc thực hiện nghĩa vụ dân sự mới thực hiện xong được nghĩa vụ án phí dân sự và hình sự nhưng mới chỉ thực hiện được bồi thường ở mức 1/8 nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Do vậy, không thỏa mãn khoản 1 Điều 63 BLHS nên Tòa án không chấp nhận giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân do không đủ điều kiện về việc thực hiện nghĩa vụ dân sự;

Quan điểm thứ hai lại cho rằng: Phạm nhân Nguyễn Văn A đủ điều kiện để được xem xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Vì, ngoài tiêu chí về điều kiện đã chấp hành án phạt từ được 1/3 mức án phạt; có đủ thời gian xếp loại từ Khá trở lên, cụ thể là 02 năm: 2019 và năm 2020 và đã thực hiện được một phần nghĩa vụ dân sự mặc dù ít hơn ½ nghĩa vụ phải thực hiện (phải thực hiện 800.000.000 nghĩa vụ BTTH đã thực hiện được 100.000.000 đồng). Trong khi đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà A phải thực hiện là 1,6 tỷ đồng (đã bồi thường trước xét xử 800.000.000 đồng; còn phải bồi thường tiếp 800.000.000 đồng, đã bồi thường được 100.000.000 đồng) và đã thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ án phí với tổng số tiền là 36.200.000 đồng). Như vậy, nếu tính tổng bồi thường ở các giai đoạn khác nhau thì phạm nhân Nguyễn Văn A đã bồi thường được ½ nghĩa vụ.

Vì vậy, kể cả trong trường hợp vận dụng hướng dẫn Công văn 64 cũng không trái. Kể cả trong trường hợp hiểu nghĩa vụ bồi thường chỉ được tính ở giai đoạn chấp hành án thì theo khoản 1 Điều 63 BLHS chỉ quy định “đã thực hiện được một phần nghĩa vụ dân sự” mà hiểu thế nào là “một phần” là ½ hay 1/8 … thì cũng đều là một phần. Mặc dù, Công văn 64 có hướng dẫn là phải thực hiện được nghĩa vụ dân sự ½ hoặc là có văn bản miễn giảm hay thỏa thuận khác của bị hại thì dù thực hiện ít hơn ½ mới đủ điều kiện. Tuy nhiên, lập luận cho quan điểm này cho rằng: “Công văn 64 không phải là văn bản quy phạm pháp luật” mà chỉ là văn bản mang tính chất tham khảo nội bộ của Tòa án nên việc áp dụng khoản 1 Điều 63 BLHS chấp nhận đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân Nguyễn Văn A là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Qua 2 quan điểm về việc có chấp nhận đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù lần đầu cho phạm nhân Nguyễn Văn A không? Việc áp dụng quan điểm thứ nhất sẽ hợp lý hơn, đó là phạm nhân Nguyễn Văn A chưa thỏa mãn điều kiện tiêu chí về đã thực hiện được một phần nghĩa vụ dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 63 BLHS để được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù lần đầu.

3. Người phạm tội phải bồi thường thiệt hại bao nhiêu mới được xem là tự nguyện bồi thường thiệt hại?

Trong rất nhiều vụ án hình sự, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, việc bồi thường thiệt hại của người phạm tội trong từng vụ án là khác nhau. Có trường hợp người phạm tội bồi thường thiệt hại không đáng kể, có trường hợp người phạm tội bồi thường gần một nửa hoặc nhiều hơn…Số tiền bồi thường thiệt hại cũng khác nhau, chẳng hạn có trường hợp người phạm tội bồi thường 100% thiệt hại với số tiền 2.100.000 đồng nhưng có trường hợp người phạm tội bồi thường 10% thiệt hại nhưng với số tiền 100.000.000 đồng. Vậy người phạm tội phải bồi thường thiệt hại bao nhiêu mới được áp dụng tình tiết “người tự nguyện bồi thường thiệt hại”.

Có quan điểm cho rằng, chỉ cần người phạm tội có thiện chí và tự nguyện bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra là được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” mà không cần phân biệt người phạm tội bồi thường bao nhiêu. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng nếu người phạm tội chỉ bồi thường thiệt hại với số tiền không đáng kể so với thiệt hại gây ra như 10 - 20% thiệt hại thì không thể coi là đã tự nguyện bồi thường thiệt hại. Do đó, cần có một quy định cụ thể về tỷ lệ phần trăm mức bồi thường thiệt hại mà người phạm tội đã thực tế bồi thường. Tỷ lệ bồi thường này có thể ít nhất là từ 50% thiệt hại trở lên.

Bài viết tham khảo: Đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự là gì?

Bài viết trên Luật Minh Khuê đã gửi tới bạn đọc chi tiết về vấn đề Tình tiết “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” theo Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019. Trong bài viết có mục nào chưa hiểu hay bạn đọc có bất kỳ thắc mắc về vấn đề pháp lý có thể liên hệ qua số tổng đài 1900.6162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ.