1. Điều kiện kinh doanh bất động sản hiện nay là gì? Điều kiện cần phải đáp ứng khi đưa bất động sản vào kinh doanh

Theo quy định của Điều 10 Luật Kinh doanh bất động sản 2014, có sự điều chỉnh bởi điểm a khoản 2 của Điều 75 Luật Đầu tư 2020, điều kiện về tổ chức và cá nhân kinh doanh bất động sản được xác định rõ. Điều này đặt ra yêu cầu chính đối với những tổ chức và cá nhân này.
Theo đó, các tổ chức và cá nhân kinh doanh bất động sản được quy định phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, chung được gọi là doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp đặc biệt được miễn khỏi yêu cầu này, như quy định tại khoản 2 của Điều 10. Điều này tạo điều kiện cho sự linh hoạt và đa dạng trong các hoạt động kinh doanh bất động sản.
Điều 10 cũng quy định rằng tổ chức, hộ gia đình và cá nhân thực hiện các hoạt động như bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy mô nhỏ và không thường xuyên, thì không bắt buộc phải thành lập doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều này không miễn trách nhiệm về việc kê khai và nộp thuế theo quy định của pháp luật, đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ các nguyên tắc thuế.
Như vậy, các quy định này không chỉ tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của thị trường bất động sản mà còn đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho những người tham gia vào lĩnh vực này mà không gặp nhiều rắc rối pháp lý.
Theo quy định của Điều 9 Luật Kinh doanh bất động sản 2014, để bất động sản được đưa vào kinh doanh, cần phải đáp ứng một số điều kiện cụ thể. Điều này nhằm đảm bảo tính chắc chắn và minh bạch trong quá trình kinh doanh bất động sản. Dưới đây là một số điều kiện quan trọng mà bất động sản cần đáp ứng:
Đối với Nhà, công trình xây dựng đưa vào kinh doanh:
- Đăng ký quyền sở hữu: Bất động sản cần phải có đăng ký quyền sở hữu nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất trong giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất. Trong trường hợp nhà, công trình xây dựng có sẵn trong dự án đầu tư kinh doanh bất động sản, chỉ cần có giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Không tranh chấp quyền sử dụng đất: Bất động sản không được phép có tranh chấp về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất.
- Không bị kê biên: Bất động sản không được kê biên để bảo đảm thi hành án.
Đối với các loại đất được phép kinh doanh quyền sử dụng đất:
- Có giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất: Các loại đất cần phải có giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Không tranh chấp quyền sử dụng đất: Đất không được phép có tranh chấp về quyền sử dụng đất.
- Không bị kê biên: Quyền sử dụng đất không được kê biên để bảo đảm thi hành án.
- Trong thời hạn sử dụng đất: Quyền sử dụng đất phải được duy trì trong thời hạn quy định.
Những điều kiện này giúp tạo ra một môi trường kinh doanh bất động sản ổn định và công bằng, đồng thời bảo vệ quyền lợi của cả người kinh doanh và người sử dụng bất động sản.
 

2. Tổ chức tín dụng có được kinh doanh bất động sản hay không?

Theo quy định tại Điều 132 Luật Tổ chức tín dụng 2010, tổ chức tín dụng bị nghiêm cấm kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản, trừ khi đáp ứng được một số điều kiện cụ thể. Các trường hợp mà tổ chức tín dụng vẫn được phép tham gia kinh doanh bất động sản bao gồm:
- Mua, đầu tư, sở hữu bất động sản cho mục đích sử dụng nội bộ: Tổ chức tín dụng được phép mua, đầu tư, và sở hữu bất động sản để làm trụ sở kinh doanh, địa điểm làm việc hoặc cơ sở kho tàng, phục vụ trực tiếp cho các hoạt động nghiệp vụ của tổ chức.
- Cho thuê phần trụ sở kinh doanh chưa sử dụng hết: Tổ chức tín dụng có quyền cho thuê một phần trụ sở kinh doanh chưa sử dụng hết, miễn là phần đó thuộc sở hữu của tổ chức tín dụng. Điều này là một chính sách linh hoạt, mang lại nhiều lợi ích cả cho tổ chức tín dụng và cho các bên thuê.

Trước hết, quyền cho thuê một phần trụ sở chưa sử dụng hết mang lại nguồn thu nhập bổ sung cho tổ chức tín dụng. Việc tận dụng không gian trống trải dài trong trụ sở kinh doanh giúp tối ưu hóa nguồn lợi của tài sản, tạo ra một nguồn thu nhập cụ thể từ tài sản không hoạt động đầy đủ.

Ngoài ra, quyết định cho thuê một phần trụ sở cũng có thể mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu thuê mặt bằng kinh doanh. Việc này không chỉ giúp họ tiết kiệm chi phí so với việc thuê toàn bộ một không gian lớn mà họ có thể không cần sử dụng hết, mà còn tạo ra cơ hội tiếp cận vị trí kinh doanh lý tưởng mà họ có thể không có khả năng chi trả nếu phải thuê toàn bộ.

Quy định này cũng thể hiện tinh thần hỗ trợ và sự hợp tác giữa tổ chức tín dụng và cộng đồng kinh doanh. Bằng cách này, không gian kinh doanh trở nên linh hoạt và có thể phản ánh nhanh chóng sự biến động trong nhu cầu thị trường, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của cả cộng đồng kinh doanh và tổ chức tín dụng

- Nắm giữ bất động sản do việc xử lý nợ vay: Trong trường hợp nắm giữ bất động sản do việc xử lý nợ vay, tổ chức tín dụng được phép giữ lại tài sản này trong thời hạn tối đa là 03 năm từ ngày quyết định xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản. Sau thời gian này, tổ chức tín dụng phải tiến hành bán, chuyển nhượng hoặc mua lại bất động sản này để đảm bảo tỷ lệ đầu tư vào tài sản cố định và mục đích sử dụng tài sản cố định theo quy định tại Điều 140 của Luật Tổ chức tín dụng.
Những quy định này giúp xây dựng một khung pháp luật linh hoạt, giúp tổ chức tín dụng tham gia vào các hoạt động liên quan đến bất động sản một cách có trách nhiệm và đảm bảo tính minh bạch trong quản lý tài sản.
 

3. Doanh thu từ hoạt động kinh doanh bất động sản của tổ chức tín dụng có phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp ?

Dựa trên quy định của Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2014, người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm các tổ chức và đơn vị thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế. Trong danh sách này, đặc biệt nhấn mạnh đến tổ chức tín dụng, mà theo quy định cụ thể của luật, cũng thuộc diện người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.
Theo đó, các trường hợp cụ thể của tổ chức tín dụng bao gồm:
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam: Đây là các doanh nghiệp hoạt động theo quy định của pháp luật nước nhà.
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (doanh nghiệp nước ngoài): Bao gồm các doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
- Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã: Áp dụng cho các tổ chức được hình thành dưới hình thức hợp tác xã.
- Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam: Bao gồm các đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật nước nhà.
- Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập: Đối với các tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh và có thu nhập, cũng nằm trong phạm vi người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Vì vậy, tổ chức tín dụng, nếu tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và có thu nhập, sẽ phải tuân thủ quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2014 và nộp thuế theo quy định của pháp luật. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ luật pháp trong các hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
 
Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn