1. Tòa án nhân dân bác đơn yêu cầu ly hôn khi nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Vợ chồng tôi đã sống hạnh phúc một thời gian, không xuất hiện một mâu thuẫn nào. Tuy nhiên, một tháng gần đây chồng tôi bỗng dưng đặt vấn đề đòi ly hôn với lý do sang nước ngoài học tập và chăm sóc cho em gái bị ốm.
Vậy xin hỏi luật sư, tòa có bác đơn ly hôn với lý do trên của chồng tôi hay không ?
Cảm ơn!

Tòa án nhân dân bác đơn yêu cầu ly hôn khi nào?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo thống kê của TANDTC, hiện nay các vụ án hôn nhân gia đình là nhiều nhất và tăng cao nhất trong suốt thời gian qua mà trong đó chủ yếu là ly hôn đơn phương. Có những đương sự ra tòa xin ly hôn với những lý do hết sức nhỏ nhặt mà người trong cuộc lấy đó làm nguyên nhân để chấm dứt quan hệ gia đình. Từ đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân gia đình hiện nay đang bị xem nhẹ trong xã hội hiện đại.

Gia đình là tế bào của xã hội, hôn nhân-gia đình là bến đỗ và là công cụ bảo vệ và nuôi dưỡng con người từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành, bảo vệ mối quan hệ hôn nhân gia đình chính là góp phần làm phát triển xã hội. Nếu chỉ vì những lý do nhỏ nhặt và một phút suy nghĩ chưa thấu đáo mà dẫn đến việc ly hôn thì đó là điều không thỏa đáng.

Vì vậy, bác đơn xin ly hôn đối với các trường hợp chưa chính đáng là hợp lẽ, và góp phần giúp đương sự tìm lại được tiếng nói chung, suy nghĩ lại hành động của mình. Tuy nhiên hiện nay, có nhận định cho rằng, nhiều đương sự khi đã quyết định ly hôn tức là họ đã không còn muốn duy trì đời sống gia đình nữa (nhất là trong giới trí thức), nhưng họ lại bị Tòa án bác đơn ly hôn với nhận định rằng nguyên nhân chưa chính đáng. Điều này gây ra những hệ lụy như để được ly hôn, đương sự phải làm ra những hành vi thô lỗ để làm bằng chứng xin Tòa án cho ly hôn nhằm đạt được mục đích của mình. Câu hỏi đặt ra là liệu Tòa án giải quyết như vậy có chính xác và hợp tình hợp lẽ không, khi ly hôn thực chất là quyền của đương sự muốn được giải thoát mọi ràng buộc của quan hệ hôn nhân, và trong trường hợp nào thì Tòa án cần phải linh động xét xử.

Ngoại tình có phải là căn cứ để Tòa án bác đơn ly hôn?

Ngoại tình là 1 trong những nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn của vợ chồng, có rất nhiều thắc mắc liên quan đến việc cho rằng ngoại tình là căn cứ để Tòa án cho ly hôn.

Theo quy định tại Điều 53 của Luật Hôn nhân gia đình 2014 thì Tòa án sẽ thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đối với trường hợp không đăng ký kết hôn nếu có yêu cầu ly hôn, Tòa án thụ lý và ra tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng bởi nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân gia đình chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Tuy nhiên, quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định.

Điều 53. Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn

1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

Khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Căn cứ để Tòa cho ly hôn là:

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Có thể thấy, căn cứ này khá chung chung và không có khả năng áp dụng cụ thể. Tức là nếu tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì xử cho ly hôn. Nhưng ngay cả việc xác định như thế nào là tình trạng trầm trọng cũng rất khó. Do vậy, đôi khi việc Tòa án bác đơn xin ly hôn của đương sự chủ yếu do cảm tính và dựa vào sự trình bày của đương sự tại tòa. Nếu thẩm phán thấy mâu thuẫn của đương sự chưa thực sự như những gì họ khai, thì thường bác đơn xin ly hôn. Mặt khác, trên thực tế, nếu một trong hai bên có quan hệ ngoại tình (nhất là người chồng) thì khả năng tòa án bác đơn là rất cao.

Điều 2 .Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành một số quy định của luật hôn nhân và gia đình số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 06/01/2016

Điều 2. Căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật

Khi giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình để xem xét, quyết định xử lý việc kết hôn trái pháp luật và lưu ý một số điểm như sau:

1. “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp nam đã đủ hai mươi tuổi, nữ đã đủ mười tám tuổi trở lên và được xác định theo ngày, tháng, năm sinh.

Trường hợp không xác định được ngày sinh, tháng sinh thì thực hiện như sau:

a) Nếu xác định được năm sinh nhưng không xác định được tháng sinh thì tháng sinh được xác định là tháng một của năm sinh;

b) Nếu xác định được năm sinh, tháng sinh nhưng không xác định được ngày sinh thì ngày sinh được xác định là ngày mùng một của tháng sinh.

Ví dụ: Chị B sinh ngày 10-01-1997, đến ngày 08-01-2015 chị B đăng ký kết hôn với anh A tại Ủy ban nhân dân xã X. Tại thời điểm đăng ký kết hôn chị B chưa đủ 18 tuổi (ngày chị B đủ 18 tuổi là ngày 10-01-2015), như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì chị B đã đủ tuổi kết hôn, tuy nhiên vì ngày chị B đăng ký kết hôn Luật hôn nhân và gia đình đã có hiệu lực (ngày 01-01-2015) nên chị B đã vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình.

2. “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyn quyết định” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau hoàn toàn tự do theo ý chí của họ.

3. “Lừa dối kết hôn” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch và dẫn đến việc đồng ý kết hôn; nếu không có hành vi này thì bên bị lừa dối đã không đồng ý kết hôn.

4. “Người đang có vợ hoặc có chồng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

c) Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết.

5. Việc xác định thời điểm “cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình phải căn cứ vào các quy định của pháp luật. Tòa án yêu cầu đương sự xác định và cung cấp các tài liệu, chứng cứ để xác định thời điểm cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình.

dụ 1: Trường hợp kết hôn khi một bên bị cưỡng ép kết hôn hoặc bị lừa dối kết hôn là vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại điểm d khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, nếu sau khi bị cưỡng ép kết hôn hoặc bị lừa dối kết hôn mà bên bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn đã biết nhưng đã thông cảm, tiếp tục chung sống hòa thuận thì thời điểm đủ điều kiện kết hôn là thời điểm đương sự biết mình bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn nhưng vẫn tiếp tục sống chung như vợ chồng.

Ví dụ 2: Ngày 15-01-2005, chị B kết hôn với anh A. Đến ngày 15-01-2010, chị B lại kết hôn với anh C. Ngày 25-01-2012, Tòa án có quyết định tuyên bố anh A chết. Ngày 12-6-2015, Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị B và anh C. Tại phiên họp, chị B và anh C đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì chị B và anh C phải cung cấp Quyết định của Tòa án tuyên bố anh A đã chết để xác định thời điểm chị B và anh C đủ điều kiện kết hôn. Trong trường hợp này, thời điểm chị B và anh C có đủ điều kiện kết hôn là thời điểm mà Tòa án xác định anh A chết được ghi trong quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Theo câu hỏi của bạn đưa ra về các căn cứ để Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, có thể tham khảo bản án thực tế đã xét xử của Tòa án nhân dân Quận 7 tại TP.HCM sau:

"Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Huy và bà Liên xuất phát từ chỗ bản thân ông Huy cờ bạc gây ra cảnh nợ nần và có quan hệ với người phụ nữ khác, nhưng mâu thuẫn giữa ông Huy và bà Liên chủ yếu xuất phát từ nguyên nhân kinh tế gia đình khó khăn vì ông vướng vào cờ bạc. Nghĩ vợ chồng bà Liên ông Huy còn trẻ, về mặt tinh thần cần hỗ trợ lẫn nhau để vui sống và chăm sóc, dạy dỗ con chung. Hơn nữa, bà Liên ông Huy trước đây đã trải qua thời gian dài tìm hiểu, thử thách để chung sống hạnh phúc đến nay. Từ khi ông đi về nhà cha mẹ ruột ở bà cũng dẫn con theo về bên nhà cha mẹ ruột ông Huy ở. Chứng tỏ bà còn thiết tha xây dựng cuộc sống gia đình với ông Huy. Mâu thuẫn xảy ra chỉ do sự khó khăn về kinh tế mà chủ yếu là do ông Huy cờ bạc. Ông Huy đưa ra lý do không còn tình cảm với bà Liên là không thuyết phục. Năm 2012 ông về nhà cha mẹ ruột ở thật ra là đi lánh nợ chứ không phải ly thân. Quá trình hòa giải tại tòa, bà Liên trình bày nguyện vọng muốn vợ chồng đoàn tụ, nương tựa lẫn nhau để cùng chăm sóc con chung vì vợ chồng đã phải trải qua nhiều khó khăn, thử thách để xây dựng hạnh phúc gia đình với nhau. Ngoài mâu thuẫn xảy ra vì lý do kinh tế khó khăn ông Huy và bà Liên không chứng minh được mâu thuẫn nào khác giữa vợ chồng."

Nhận định chủ quan từ người viết có thể thấy việc Tòa án nhân dân quận 7 bác đơn của ông Huy ở trên một phần do ông có quan hệ với người phụ nữ khác. Tòa án đã ngầm bảo vệ cho người phụ nữ (bên bị thiệt hại) trong vấn đề này. Ngoài ra, những lý do khác chưa thuyết phục như kinh tế khó khăn, cãi cọ qua lại chưa phải là nguyên nhân mâu thuẫn khiến Tòa án phải chấp nhận đơn xin ly hôn của đương sự.

Cần thiết bác đơn xin ly hôn từ phía Tòa án?

Có thể thấy, trong trường hợp trên, việc ông Huy có quan hệ tình ái với người phụ nữ khác là việc làm sai trái. Có những tranh cãi quanh vấn đề này. Có rất nhiều vụ ly hôn mà trong đó các nguyên đơn quyết tâm bỏ vợ, bỏ chồng chỉ vì người thứ ba này. Vấn đề là Tòa án chỉ có thể bác đơn ly hôn của họ, mà không thể hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Nếu họ thật sự quyết tâm ly hôn, thì vấn đề chỉ còn là sớm muộn mà thôi. Bởi Tòa chỉ có thể bác đơn xin ly hôn một lần mà thôi nhưng nếu sau đó họ vẫn khăng khăng đệ đơn lên Tòa yêu cầu ly hôn một lần nữa, thì tòa phải giải quyết việc ly hôn.

Thiết nghĩ, Luật hôn nhân gia đình cần phải có những chế tài cụ thể và rõ ràng hơn cho vấn đề này để ngăn chặn hôn nhân đổ vỡ vì mối quan hệ thứ ba đang ngày càng phổ biến như hiện nay. Luật hôn nhân gia đình 2014 đã có những quy định mới hết sức văn minh và hiện đại, ví dụ như cấm cản trở ly hôn (điểm e, khoản 2, Điều 5 Luật hôn nhân gia đình 2014), tuy nhiên vấn đề ngoại tình thì vẫn còn bỏ ngỏ, gây ra rất nhiều hệ lụy cho gia đình.

Với lý do sang nước ngoài học tập và chăm sóc cho em gái bị ốm, chồng bạn yêu cầu thực hiện ly hôn đối với bạn không phát sinh làm căn cứ để Tòa án chấp nhận thụ lý cho các bên ly hôn, bởi học tập và chăm sóc cho em gái ốm không chứng minh được đời sống hôn nhân của vợ chồng bạn đang lâm vào tình trạng trầm trọng, khiến đời sống chung không thể kéo dài, cũng như không có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia. Do vậy, Tòa án sẽ không thụ lý đơn yêu cầu ly hôn nếu không có căn cứ nêu trên. Tuy nhiên:

Cần phải chấp nhận yêu cầu của đương sự?

Nhưng cũng có quan điểm cho rằng, nếu kết hôn là quyền của đương sự (miễn sao không vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân gia đình 2014) thì ly hôn cũng là quyền của đương sự. Không ai được cản trở quyền đó, vì nếu phải tiếp tục chung sống với một mối quan hệ không mong muốn thì đó cũng là một hạn chế của luật pháp. Thực tế có những trường hợp, đương sự dù muốn ly hôn nhưng không thể được do bị làm khó từ phía đối phương. Như vậy càng khiến tình trạng hôn nhân thêm mệt mỏi và trầm trọng. Thế nhưng khi yêu cầu ly hôn thì Tòa án lại không đồng ý.

Quan điểm của người viết đối với vấn đề này như sau: Bộ luật hình sự đã có chế tài cho vấn đề vi phạm nghĩa vụ một vợ một chồng (Điều 147 Bộ luật hình sự), nhưng việc xử lý hình sự hết sức khó khăn do đa phần là quan hệ lén lút, trong khi yếu tố cấu thành tội phạm của Bộ luật hình sự lại rất cụ thể (phải có quan hệ chung sống), điều đó rất khó chứng minh. Nếu đương sự có yêu cầu, Tòa án chỉ có thể xử ly hôn chứ ít khi nào nâng lên thành một vụ án hình sự, dù có những trường hợp người thứ ba ngang nhiên đến nhà quậy phá, đập phá đồ đạc và đuổi chính người vợ ra khỏi nhà (như một cuộc điện thoại mà người viết đã nhận được từ một người phụ nữ ở Quận 9).

Do vậy, điều đầu tiên người trong cuộc cần làm là duy trì một mối quan hệ gia đình thắm thiết, gắn bó với nhau, biết thông cảm, san sẻ, yêu thương nhau và giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình, đó là phương pháp bảo vệ gia đình khỏi những tác động của bên ngoài. Không có gia đình nào là hoàn hảo, tuy nhiên nếu biết quan tâm và tôn trọng nhau, cũng như đề cao giá trị của gia đình, thì mỗi người sẽ biết tiết chế và tìm tiếng nói chung để xây dựng hôn nhân tốt đẹp.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn về trình tự thủ tục và mẫu đơn ly hôn ?

2. Cách phân chia tài sản là ngôi nhà khi ly hôn ?

Thưa luật sư. Em có vấn đề cần được tư vấn gấp ạ. Chuyện là em có người dì lấy chồng bị chồng đánh vũ phu, nhà chồng không quan tâm hùa theo con đuổi dì đi. 2 người ly thân mấy năm thì dì làm ăn mua được miếng đất thì chồng năn nỉ xin lỗi , dì em thương tình đồng ý quay lại.

Hai người xây nhà hơn 300 triệu mà cái nhà đó người chồng chỉ bỏ ra 80 triệu góp phần xây dựng lên, còn lại thì dì em bỏ tiền và đi mượn anh em bên ngoại một ít. Xây nhà xong ,sống được mấy tháng, thằng chồng lại đánh dì em, đòi chia tài sản, bắt dì em kí đơn li hôn và dì em cũng kí. Vậy em muốn hỏi là miếng đất đó có bị chia không, miếng đất đó chưa có sổ đỏ mà khi mua dì em trực tiếp đứng tên, chỉ có giấy sang nhượng tay cho dì. Còn tiền mượn xây nhà thì thằng chồng lật lọng nói tao không mượn nhưng do là anh em trong nhà mượn nên không có bằng chứng gì hết để đòi.

Còn ngôi nhà thì sẽ phải chia làm sao. ( dì em chưa có con) ?

Mong luật sư giải đáp nhanh giúp em. Em cám ơn.

- T.T.P.O

Luật sư trả lời:

Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình theo Luật phòng chống bạo lực gia đình 2007

Điều 2. Các hành vi bạo lực gia đình

1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;

e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;

g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;

h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.

2. Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng.

Điều 4. Nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình

1. Tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành vi bạo lực.

2. Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

3. Kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

4. Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật.

Điều 5. Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình

1. Nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;

b) Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;

c) Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;

d) Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này;

đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Nạn nhân bạo lực gia đình có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu.

Điều 42. Xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

1. Người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có hành vi bạo lực gia đình nếu bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của khoản 1 Điều này thì bị thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để giáo dục.

Còn trường hợp miếng đất cũng như căn nhà mà chị bạn xây được, chị bạn có thể nhờ bố ẹm đẻ mình đứng tên sổ đỏ, và căn nhà xây trên đất có thể coi như là dùng tiền của bố mẹ xây nên, bố ẹm cũng là chủ sở hữu căn nhà, đây sẽ không được coi là tài sản chung của hai vợ chồng. Nếu anh chồng không chứng minh được anh có đóng góp một phần xây nhà, thì chị bạn hoàn toàn có thể quy toàn bộ số tiền vay nhà là vạy hộ bố ẹm chị và xây hộ bố mẹ, mảnh đất và căn nhà đều đứng tên bố mẹ. Sau khi ly hôn hoặc sau khi để bố mẹ đứng tên sổ đỏ, có thể làm thủ tục tặng cho riêng chị bạn, khi đó sẽ là tài sản riêng của chị bạn, Và không phải chia tài sản cho chồng chị.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Xin tư vấn về thủ tục ly hôn ở tỉnh Hà Nam ? Quyền chia tài sản tặng cho khi ly hôn ?

3. Tư vấn thủ tục ly hôn và nhưng vấn đề pháp lý liên quan đến ly hôn ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Hiện tại em có đang quen 1 người, mà người đó đang là cháu của thím em (thím là vợ của chú ruột em) - Vậy cho em hỏi em phải xưng hô với người đó như thế nào và có thế lấy người đó được không? - Nếu lấy người đó thì 2 gia đình có cho phép không? có vị phạm đạo đức gì không a ?
Rất mong luật sự chỉ dẫn Em cảm ơn luật sư.

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 2014

Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

2. Cấm các hành vi sau đây:

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

> NHƯ vây trường hợp của bạn không vi phạm quy định tại Điều 5 khoản 2 trên thì bạn vẫn được kết hôn bình thường.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi muôn trình bày về vân đề của tôi mog được sự tư vấn của luật sư. Hiện tôi muốn làm đơn li hôn với chồng vì hai bên không hòa hợp và không tôn trọng nhau.chúng tôi có một ngôi nhà nhưng lại không có bìa đỏ,vậy sau khi li hôn tôi có được chia tài sản từ ngôi nhà đó không.?nó có được quy đổi thành giá trị tiền mặt không? Ví dụ được chia từ ngoi nhà đó nhưng bên phía chồng tôi không giao đủ số tiền đúng thời hạn mà tòa phán xét thì phải làm sao? Đó là tất cả những điều tôi muốn được tư vấn.Xin cảm ơn luật sư.

Trường hợp của bạn nếu là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì sẽ được chia đôi. tuy nhiên theo quy định của Luật đất đai thì người sử dụng đất có quyền đối với mảnh đất của ,mình theo quy định tại Luật đất đai 2013

Điều 168. Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện xong nghĩa vụ tài chính trước khi thực hiện các quyền.

Như vậy thì bạn cần phải làm thủ tục để cấp sổ đỏ. Hoặc trong trường hợp chưa cấp sổ đỏ thì bạn có thể thỏa thuận với chồng bạn nếu bạn hay anh ta nhận tòan bộ mảnh đất và căn nhà đó thì sẽ phải trả cho bên kia tương ứng với nửa giá trí căn nhà và mảnh đất đó.

Trường hơp nếu khi tòa án giải quyết việc ly hôn mà anh ta không thực hiện theo đúng bạn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức thi hành án để được bảo vệ quyền lợi của mình.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có nguoi e trai kết hôn 14 năm và sinh duoc 2 con 1 trai 13 tuoi va 1 con gái 8 tuoi . 2 vo chong dang chung song thì nguoi e dâu bỏ nhà đi và có chửa vơi mot nguoi dan ong khac. ( e trai toi va e dau ko cãi nha

Trường hợp này của bạn thì em bạn có thể xin ly hôn thì em trai bạn có thể xin ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Thưa luật sư, xin hỏi: Chồng tương lai của tội đã có Quốc tịch 'Mỹ . Ngày 20/10/2015 chúng tôi đã đăng kí kết hôn ở sở tự Pháp. Phỏng vấn xong, nhân viên sở tư pháp nói xác minh trước khi đi vượt biên bạn trai tôi đã có kết hôn chưa? ( khi đi anh ấy chỉ có 15 tuổi ) .Mật dủ hồ sơ của anh đã có giấy chứng nhận và tuyên thệ độc thân ờ Mỹ cấp. Chúng tôii đợi đã 4 tháng mà vẫn chưa nhận được kết quà đăng kí kết hôn. Tôi xin hỏi: việc xác minh như vậy của sở tự pháp đúng hay sai? . Nhờ luật sư tự vấn giúp tôi sè làm gì khi bạn trai tôi đã sắp đến thời gian về nước .

Theo quy định tại Nghị định 126/2014/NĐ-CP Hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân gia đình

Điều 23. Trình tự giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam

1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, Sở Tư pháp có trách nhiệm:

a) Phỏng vấn trực tiếp hai bên nam, nữ tại trụ sở Sở Tư pháp để kiểm tra, làm rõ về nhân thân, sự tự nguyện kết hôn, mục đích kết hôn và mức độ hiểu biết của hai bên nam, nữ về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của nhau; về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của mỗi nước. Trường hợp cần phiên dịch để thực hiện phỏng vấn thì Sở Tư pháp chỉ định người phiên dịch.

Kết quả phỏng vấn phải được lập thành văn bản. Cán bộ phỏng vấn phải nêu rõ ý kiến đề xuất của mình và ký tên vào văn bản phỏng vấn; người phiên dịch (nếu có) phải cam kết dịch chính xác nội dung phỏng vấn và ký tên vào văn bản phỏng vấn;

b) Nếu kết quả phỏng vấn cho thấy hai bên kết hôn chưa hiểu biết về hoàn cảnh của nhau thì Sở Tư pháp hẹn ngày phỏng vấn lại; việc phỏng vấn lại được thực hiện trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phỏng vấn trước;

c) Nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn; trường hợp nghi vấn hoặc có khiếu nại, tố cáo việc kết hôn thông qua môi giới nhằm mục đích kiếm lời, kết hôn giả tạo, lợi dụng việc kết hôn để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, kết hôn vì mục đích trục lợi khác hoặc xét thấy có vấn đề cần làm rõ về nhân thân của bên nam, bên nữ hoặc giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn thì Sở Tư pháp xác minh làm rõ.

2. Trường hợp xét thấy vấn đề cần xác minh thuộc chức năng của cơ quan công an thì Sở Tư pháp có văn bản nêu rõ vấn đề cần xác minh, kèm theo bản chụp hồ sơ đăng ký kết hôn gửi cơ quan công an cùng cấp đề nghị xác minh.

Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của Sở Tư pháp, cơ quan công an xác minh vấn đề được yêu cầu và trả lời bằng văn bản cho Sở Tư pháp.

Nếu hết thời hạn xác minh theo quy định tại Điều này mà cơ quan công an chưa có văn bản trả lời thì Sở Tư pháp vẫn hoàn tất hồ sơ, đề xuất ý kiến trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định, trong đó nêu rõ vấn đề đã yêu cầu cơ quan công an xác minh.

3. Sau khi thực hiện phỏng vấn hai bên nam, nữ, nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ kết hôn, ý kiến của cơ quan công an (nếu có), Sở Tư pháp báo cáo kết quả và đề xuất giải quyết việc đăng ký kết hôn, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, kèm theo bộ hồ sơ đăng ký kết hôn.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trình của Sở Tư pháp cùng hồ sơ đăng ký kết hôn, nếu xét thấy hai bên nam, nữ đáp ứng đủ điều kiện kết hôn, không thuộc trường hợp từ chối đăng ký kết hôn quy định tại Điều 26 của Nghị định này thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ký Giấy chứng nhận kết hôn và trả lại hồ sơ cho Sở Tư pháp để tổ chức lễ đăng ký kết hôn.

Trường hợp từ chối đăng ký kết hôn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản nêu rõ lý do gửi Sở Tư pháp để thông báo cho hai bên nam, nữ.

4. Trong trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau mà hai bên định cư ở nước ngoài, kết hôn giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam thì không áp dụng biện pháp phỏng vấn quy định tại Khoản 1 Điều này.

> NHư vậy thì bạn sẽ thực hiện theo trình tự thủ tục trên nếu họ không giải quyết thì bạn có thể khiếu nại trực tiếp đến cơ quan có thẩm quyền.

Thưa luật sư, xin hỏi: hiện tôi đang làm việc hợp đồng tại Đài Loan và tôi muốn kết hôn với chồng là người Đài Loan. Chúng tôi đều đang độc thân và là đồng nghiệp qua quá trình quen biết và tìm hiểu chúng tôi quyết định tiến tới hôn nhân,xin hỏi thủ tục đăng ký kết hôn như thế nào? tại sao?

TRường hợp này của bạn nếu đăng ký kết hôn tại Đài Loan thì bạn phải tuân theo quy định của pháp luật Đài Loan.

Thưa luật sư, xin hỏi: Xin tư vấn Cháu chào công ty tư vấn ạ!hiện tại cháu đang là sinh viển du học sinh bên Đức ,cháu có quen một bạn nam người Đức,a ấy hơn cháu 5 tuổi và đã đi làm.Bây giờ chúng cháu muốn kết hôn nhưng cháu cũng ko biết các giấy tờ thủ tục kết hôn như thế nào?và về phía ở Việt nam thì cháu phải chuẩn bị giấy tờ gì ạ?cháu mong công ty tư vấn giúp cháu với ah!cháu xin chân thành cám ơn ạ!

Trường hợp của bạn nếu bạn đang sống ở Đức và kết hôn với người có quốc tịch Đức thì bạn phải tuân theo pháp luật Đức theo quy định tại điều 126 Luật hôn nhân gia đình năm 2014

Điều 126. Kết hôn có yếu tố nước ngoài

1. Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.

TRường hợp của bạn thì pháp luật Việt Nam chỉ quy định về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam sang nước ngoài kết hôn theo quy định tại Nghị định 126/2014

Điều 27. Thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký thường trú của công dân Việt Nam thực hiện cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đó để làm thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.

Trường hợp công dân Việt Nam không có đăng ký thường trú nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký tạm trú của người đó thực hiện cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Điều 28. Thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

1. Hồ sơ cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ sau đây:

a) Tờ khai cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo mẫu quy định;

b) Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân như Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế;

c) Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người yêu cầu.

Trường hợp công dân Việt Nam đã ly hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp giấy xác nhận ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã được giải quyết ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Hồ sơ cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do người yêu cầu nộp trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền.

3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, Ủy ban nhân dân cấp xã kiểm tra về nhân thân, tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; có văn bản báo cáo kết quả kiểm tra và nêu rõ các vấn đề vướng mắc cần xin ý kiến, gửi Sở Tư pháp, kèm theo bản chụp bộ hồ sơ.

4. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản kèm theo hồ sơ của Ủy ban nhân dân cấp xã thì Sở Tư pháp tiến hành các biện pháp sau đây:

a) Thẩm tra tính hợp lệ, đầy đủ của hồ sơ cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trường hợp cần làm rõ về nhân thân, tình trạng hôn nhân, điều kiện kết hôn, mục đích kết hôn của người có yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thì Sở Tư pháp tiến hành xác minh;

b) Yêu cầu công dân Việt Nam có mặt tại trụ sở Sở Tư pháp để tiến hành phỏng vấn, làm rõ sự tự nguyện, mục đích kết hôn, sự hiểu biết của công dân Việt Nam về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của người nước ngoài, về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của quốc gia, vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cư trú;

c) Yêu cầu bên người nước ngoài đến Việt Nam để phỏng vấn làm rõ, nếu kết quả thẩm tra, xác minh, phỏng vấn cho thấy công dân Việt Nam không hiểu biết về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của người nước ngoài; không hiểu biết về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của quốc gia, vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cư trú hoặc công dân Việt Nam cho biết sẽ không có mặt để đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.

Trường hợp cần phiên dịch để thực hiện phỏng vấn thì Sở Tư pháp chỉ định người phiên dịch.

Kết quả phỏng vấn phải được lập thành văn bản. Cán bộ phỏng vấn phải nêu rõ ý kiến đề xuất của mình và ký tên vào văn bản phỏng vấn; người phiên dịch (nếu có) phải cam kết dịch chính xác nội dung phỏng vấn và ký tên vào văn bản phỏng vấn.

Trên cơ sở kết quả thẩm tra, xác minh, phỏng vấn, Sở Tư pháp có văn bản trả lời Ủy ban nhân dân cấp xã để cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người yêu cầu.

Trong trường hợp từ chối giải quyết, Sở Tư pháp giải thích rõ lý do trong văn bản gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để thông báo cho người yêu cầu.

5. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của Sở Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cấp cho người yêu cầu hoặc có văn bản thông báo về việc từ chối cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, trong đó nêu rõ lý do.

Thưa luật sư, xin hỏi: E đưa đơn lý hôn vì chồng e sống vô trách nhiệm với vợ con,chơi mà tuý đá và bạo lực với vợ,đã 2 lần e bỏ đi khỏi nhà và lại quay lại tha thứ cho chồng vì con và hạnh phúc gia đình nhưng chồng vẫn ko thay đổi. A ta còn tẩm xăng vào con và quần áo,chăn chiếu trong nhà doạ sẽ đốt. E đưa con về ngoại,cách đây 1tuần chồng e sang đón con về nội chơi cho đỡ nhớ nhưng ko đem trả, lại còn dọa dẫm sẽ mang con đi xa ko cho e được nhìn thấy con và chạm vào con nếu e ko về ở cùng. E phải làm thế nào để chồng e đưa con về với mẹ,khi mà toà chưa xử xong,cháu mới được 10 tháng tuổi ?

Trường hợp này của bạn thì bạn có quyền khởi kiện ra tòa giải quyết việc ly hon theo quy định tại Luật hôn nhân gia đình năm 2014

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Sau khi ly hôn thì nếu con bạn 10 tháng tuổi thì sẽ do mẹ nuôi trừ trường hợp mẹ không có khả năng để nuôi con theo quy định tại Luật hôn nhân gia đình

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Nếu sau khi tòa án giải quyết mà anh ta vẫn cố tình không trao con cho chị thì chị tiếp tục được khởi kiện để giành lại con

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Muốn thay đổi quyền trực tiếp nuôi con sau ly hôn thực hiện như thế nào ?

4. Nguyên tắc phân chia tài sau khi ly hôn như thế nào?

Thưa luật sư,Em năm nay 18 tuổi và hiện đang là học sinh trung học phổ thông. Hiện gia đình em đang gặp phải nhưng biến cố lớn. Bố mẹ em lấy nhau từ năm 1997 và có một người con duy nhất là em. Gần 20 năm chung sống, mẹ em không hề nhận được niềm hạnh phúc của một gia đình thật sự vì bố em vốn là người cục cằn, thô lô và nghiện bia rượu, thuốc lá rất nặng

Trả lời:

1. Nguyên tắc phân chia tài sản sau khi ly hôn

Ly hôn là chuyện không ai mong muốn, ai cũng mong muốn có một gia đình hạnh phúc nhưng nếu vì nhiều nguyên nhân mà không thể tiếp tục chung sống thì ly hôn là một giải pháp để chấm dứt cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Khi ly hôn có nhiều vấn đề cần phải thoả thuận, nếu không thoả thuận được sẽ dẫn đến tranh chấp như: tranh giành quyền nuôi con, phân chia tài sản, nợ chung,.......

Vậy khi có tranh chấp về tài sản thì sẽ giải quyết như thế nào?

2. Về vấn đề chia tài sản sau ly hôn:

Theo quy định tại điều 59 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

- Như vậy, về nguyên tắc tài sản của bố mẹ bạn sẽ chia đôi nhưng vì trong gia đình chỉ có mình mẹ bạn là người bỏ công sức ra lao động nuôi cả nhà còn về phần bố bạn không chịu làm ăn, say xỉn suốt ngày thì khi ra tòa giải quyết ly hôn sẽ do tòa án quyết định chia tài sản như thế nào theo quy định tại khoản 2 điều 59 luật hôn nhân và gia đình bổ sung năm 2014

- Về hai mảnh đất đứng tên mẹ bạn, nếu có giấy tờ chứng minh được tài sản đó là tài sản riêng của mẹ trước hôn nhân hoặc mẹ bạn dùng tài sản riêng để mua hai mảnh đất đó thi đương nhiên hai mảnh đất đó thuộc về mẹ bạn, theo quy định tại khoản 1 điều 62 luật hôn nhân và gia đình năm 2014

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

- Còn về căn nhà 40m2 do bạn đứng tên sẽ thuộc về bạn, nó không thuộc vào tài sản chia sau ly hôn của bố mẹ theo quy định tại khoản 1 điều 75 luật hôn nhân và gia đình năm 2014

1. Con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và thu nhập hợp pháp khác. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con cũng là tài sản riêng của con.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Kết hôn ở Malaysia thì ly hôn ở Việt Nam được không ?

5. Ly hôn khi không có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn?

Thưa luật sư, xin hỏi: Bọn em về sống chung năm 2010 không có giấy đăng ký kết hôn (ĐKKH). Em đã ly thân sống riêng được 2 năm. hiện tại chồng cũ của em đã có vợ khác và có một đứa con.Và cũng không xác định hiện tại anh ta ở đâu và làm gì ?

Luật sư phân tích:

=> Bạn không có giấy đăng ký kết hôn thì đến hiện tại 2 bạn không có quan hệ gì theo pháp luật. Vậy không cần thiết làm thủ tục ly hôn.

Thưa luật sư, xin hỏi: Vợ tôi được cơ quan cấp cho một mảnh đất, hai vợ chồng tôi dồn hết tiền và vay mượn thêm rất nhiều tiền để xây dựng lên, đến khi cơ quan làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở chỉ đứng tên vợ tôi (chúng tôi đăng ký kết hôn được 25 năm và có 3 con chung). Nếu trong trường hợp vợ chồng tôi ly hôn thì tài sản đó có được coi là tài sản chung hay không ?

=> Tài sản hình thành trong quá trình ly hôn thì vẫn được coi là tài sản chung nên nếu ly hôn thì vẫn được chia đều. Tuy nhiên ở đây là mmảnh đất của vợ anh được cấp riêng nên đó là tài sản riêng của vợ anh. Còn phần nhà ở và tài sản do 2 vợ chồng cùng góp thì sẽ được chia đôi.

Thưa luật sư, xin hỏi: Em muốn làm thủ tục ly hôn đơn phương.Vì bạo lực gia đình từ người chồng xảy ra thường xuyên,tuy nhiên hậu quả của mỗi lần bạo lực em không có chụp ảnh lưu lại,nên giờ không có bằng chứng.Chồng em thì nhất quyết không ly hôn. Mong luật sư tư vấn giúp em với ạ.

=> Bạn có thể ly hôn đơn phương. Con dưới 36 tháng tuổi thì được giao cho mẹ nuôi.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi muốn hỏi về vấn đề ly hôn đơn phương giữa chồng ở BT và tôi ở ĐN. Đã 4 năm nay chúng tôi ly thân hiện tại anh ấy đang ở HQ làm việc. Cũng đồng ý ly hôn nên gửi chứng minh nhân dân và bản sao hộ khẩu để tôi đơn phương ly hôn. Xin hỏi tôi có cần về nơi đăng ký kết hôn để ly hôn không ? Và lúc ly hôn không cần đăng tin trên đài truyền thanh truyền hình được không ? Mong luật sư sớm có câu trả lời để tôi có hướng giải quyết để cuộc sống được thoải mái hơn. Tôi xin cảm ơn ! -

=> Bạn và chồng thuận tình ly hôn thì bạn có thể gửi hồ sơ yêu cầu ly hôn tại TAND cấp huyện nơi bạn hoặc chồng bạn cư trú đều được, ly hôn không cần thiết phải đăng tin trên đài truyền thanh truyền hình.

Thưa luật sư, xin hỏi: Ba mẹ tôi ly hôn, tài sản là đất đai cấp năm 2000 cho hộ gồm cha mẹ và các con, nay ba không đồng ý chia, mẹ yêu cầu chia đôi. Tòa án nói nếu các con yêu cầu chia thì làm bản tự khai trong hạn 15 ngày. Hỏi: các con trong gia đình có yêu cầu chia được không?

=> Vì đó là đất đai cấp cho hộ gia dình nên các con chỉ được yêu cầu chia với phần đất mà các con có quyền sử dụng.

Thưa luật sư, xin hỏi: Cho tôi hỏi về vấn đề hôn nhân gia đình! Tôi có con năm 23 tuổi, lúc đó bố cháu không nhận nên tôi làm khai sinh con ngoài giá thú, và chúng tôi cũng không đăng kí kết hôn! Khi cháu đựoc hơn 1 tuổi thì bố cháu mới nhận và chúng tôi đăng kí kết hôn, tôi cho anh nhận con và bổ sung tên bố vào giấy khai sinh! Nếu tôi ly hôn, tôi có thể xoá tên bố cháu khỏi giấy khai sinh và không cho nhận con vì con tôi sinh ra trước thời điểm kết hôn không? Và cháu gần 3 tuổi nếu ly hôn tôi có thể bị chồng giành quyền nuôi con không?

=> Vì đã làm thủ tục nhận cha con rồi nên nếu giờ muốn xóa tên bố khỏi giấy khai sinh của con bạn phải được sự đồng ý của chồng bạn. Con dưới 36 tháng tuổi thì bạn vẫn được quyền nuôi con.

Thưa luật sư, xin hỏi: Vợ chồng tôi kết hôn được 3 năm và có 1 con trai năm nay 2 tuổi. Trong quá trình chung sống có xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng. Chồng tôi đã làm đơn xin ly hôn và cả hai bên đều ký đồng thuận. Tuy vậy khi bảo gửi đơn ra tòa thì chồng tôi lại không gửi đơn và không muốn ly hôn nữa. Vậy nếu tôi muốn làm đơn ly hôn đơn phương thì có vấn đề gì ảnh hưởng và khó khăn gì không? Chúng tôi không có tài sản chung và không tranh chấp gì. Quyền nuôi con hai bên cũng thỏa thuận rõ ràng cũng không tranh quyền nuôi con. Xin hỏi luật sư, nếu tôi đứng ra làm đơn xin ly hôn đơn phương thì có được không và thủ tục giải quyết trong bao lâu. _ Một số giấy tờ cần để làm thủ tục để ly hôn thì tôi không có chứng minh thư bản sao của chồng tôi và giấy khai sinh của con trai tôi. vậy có cần phải có đầy đủ những giấy tờ đó không?

=> Bạn cần có đầy đủ giấy tờ, nếu chồng bạn không hợp tác thì bạn có thể làm đơn xin cấp trích lục những giấy tờ này để nộp.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Chưa làm thủ tục chuyển khẩu về nhà chồng muốn ly hôn thì có ảnh hưởng gì không ?