1. Tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản?
Anh ta nói với tôi là tiền lương hàng tháng anh ta được khoảng từ 15 triệu đến 17 triệu, hàng tháng anh ta sẽ trả tiền tôi bằng tiền lương và đưa thẻ ATM (cung cấp số tài khoản) cho tôi để hàng tháng tôi tự rút tiền trừ vào tiền vay. Lúc đầu tôi không tin nhưng anh ta đã cho tôi xem tin nhắn tiền lương hàng tháng báo trên điện thoại và anh ta chuyển cả tin nhắn báo tiền lương hàng tháng sang điện thoại của tôi. Thấy vậy tôi tin tưởng anh ta nên tôi đồng ý cho anh ta mượn tiền. Sau một tháng đầu tiên anh ta mượn tiền đến ngày 15 tôi ra rút tiền nhưng máy báo sai mật khẩu, tôi đã gọi điện cho anh ta thì anh ta lại cung cấp cho tôi số mật khẩu khác và tôi cũng đã mở được. Nhưng trong tài khoản lại không có đồng nào.
Cho đến nay tôi đòi tiền anh ta anh ta toàn chặn số điện thoại của tôi và tôi có dùng nhiều số điện thoại khác gọi thì anh ta có nghe máy rồi nói hẹn gặp tôi nói chuyện. Xong anh ta lại không thèm gặp nói chuyện. Xin hỏi luật sư trường hợp của tôi có đủ điều kiện để khởi kiện anh ta: "tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản" được không?.
Xin chân thành cảm ơn!
Trả lời:
Căn cứ Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thể hiện như sau:
Về hành vi: Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động …
Có thể thấy, trong trường hợp của bạn, người vay tiền đã đưa ra những thông tin là lương làm việc từ 15-17 triệu đồng và đưa thẻ ATM cho bạn để bạn tin tưởng và cho người đó vay tiền, bạn có đi rút tiền nhưng trong tài khoản không có số dư, sau khi vay được tiền thì người vay chặn số điện thoại của bạn và không trả lời về vấn đề trả tiền bạn đồng thời số tiền vay là 100 triệu hoàn toàn đủ điều kiện theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015. Từ các dữ liệu như trên, bạn hoàn toàn có quyền tố giác người vay lên Tòa án nhân dân quận, huyện nơi người đó cư trú về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
2. Tư vấn về lừa đảo chiếm đoạt tài sản?
>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Yêu cầu thứ nhất: Theo như nội dung thư mà bạn trình bày thì bạn có vay tiền của các chủ nợ và hàng ngày có tiến hành việc trả lãi theo hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận. Tuy nhiên, hiện nay, bạn đang gặp một số vấn đề khó khăn về tài chính nên chưa thể thanh toán hết các khoản vay của mình. Dựa trên các thông tin mà bạn cung cấp và đối chiếu theo Điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Có thể thấy rằng hành vi của bạn chưa đủ điều kiện cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bởi lẽ bạn không hề có thủ đoạn gian đối nhằm chiếm đoạt tài sản của các chủ nợ. Trong trường hợp này, bạn có nghĩa vụ trả nợ theo các quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015. Có nghĩa là bạn sẽ phải trả cho các chủ nợ bằng tiền, nếu tài sản bằng vật thì phải trả vật cùng loại đúng với số lượng, chất lượng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Do đó, xét về bản chất, quan hệ vay tài sản giữa bạn và các chủ nợ chỉ đơn thuần là quan hệ dân sự và phải được giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Về vấn đề bạn có thể đi thành phố Hồ Chí Minh làm việc kiếm thêm thu nhập để trả nợ hay không là phụ thuộc vào quyết định của bản thân bạn, tuy nhiên, có thể thỏa thuận thêm với các chủ nợ để tránh việc họ cho rằng bạn bỏ trốn để trốn nợ. Bạn cũng cần lưu ý vấn đề này vì nếu chủ nợ nộp đơn khởi kiện bạn tại tòa án nhân dân để yêu cầu bạn trả nợ thì bạn sẽ phải tham gia vụ kiện này nếu vụ án được tòa thụ lý và giải quyết.
Yêu cầu thứ hai: theo như nội dung thư mà bạn trình bày thì bạn là bên vay trong hợp đồng vay đồng thời quan hệ giữa bên bạn và bên cho vay chỉ là quan hệ dân sự, chồng bạn không tham gia vào quan hệ này vì thế chồng bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu nghĩa vụ trả nợ được xác định là nghĩa vụ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chồng bạn cũng sẽ phải có trách nhiệm trả nợ với bạn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Yêu cầu thứ ba: Bạn là người đã thành niên đồng thời trong hợp đồng vay tiền, bạn là bên vay, không có sự tham gia của bố mẹ bạn vì thế, bố mẹ bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm trả nợ thay cho bạn.Nghĩa vụ trả nợ của bạn ( và có thể của cả chồng bạn) là hoàn toàn độc lập với tài sản của bố mẹ bạn, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Trân trọng./.
3. Tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản?
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Thứ nhất, Về Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015
Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
Vậy có thể khẳng định anh B, anh C đủ yếu tố cấu thành về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 174 nêu trên.
Thứ hai Về việc gia đình bạn dùng tiền để chạy án cho người nhà thì những người có hành vi chạy án có thể phạm vào tội đưa hối lộ theo quy định tại điều 364 BLHS hiện hành như sau :
Về mặt ý chí , gia đình bạn hoàn toàn mong muốn được đưa hối lộ cho người có thẩm quyền để chạy án cho người thân của mình, tuy mong muốn này chưa đạt được nhưng về mặt ý chí và hành vi đều đã thỏa mãn tội này , do vậy gia dịnh bạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy dịnh nêu trên .
Nếu việc chạy án cho anh của bạn ( đang bị tạm giam ) yêu cầu thì điều này sẽ ảnh hưởng đến mức án của anh bạn , nhưng nếu anh bạn không yêu cầu gia đình chạy án cho mình và không biết về việc này thì điều này sẽ không làm ảnh hưởng đến việc phán quyết của tòa án với anh bạn .
4. Tư vấn về hình phạt của tội lừa đảo qua mạng?
>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.6162
Trả lời:
+ Trường hợp thứ nhất, tài sản mà bạn bị lừa đảo có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng mà đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc gây hậu quả nghiêm trọng theo quy định tại điểm b, điểm c, điểm d khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 thì đầy đủ các yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
+ Trường hợp thứ hai, tài sản của bạn bị lừa đảo dưới 2 triệu đồng nhưng tổng hợp tài sản của bạn và người khác cùng bị đối tượng đó lừa đảo có giá trị trên 2 triệu đồng thì cũng cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
+ Trường hợp thứ ba, tổng tài sản mà bạn cùng những người khác bị lừa đảo có giá trị dưới 2 triệu đồng và không gây hậu quả nghiêm trọng thì hành vi trên không cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tham khảo: Mẫu đơn tố cáo
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Lienhe@luatminhkhue.vnđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận Tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê