1. Tội hành hung đồng đội là gì?

Tội hành hung đồng đội là hành vi trái pháp luật của quân nhân, gây nguy hiểm cho xã hội, trong môi trường Quân đội do người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý với hành vi dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác tác động lên thân thể của đồng đội, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe nhất định của đồng đội phát sinh trong mối quan hệ công. Hành vi vi phạm này không thỏa mãn dấu hiệu cố ý gây thương tích.

Có thể thấy, hành vi hành hung đồng đội cũng tương tự như hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, nhưng hậu quả chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

2. Dấu hiệu pháp lý tội hành hung đồng đội

Để cấu thành Tội hành hung đồng đội được quy định tại Điều 398 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì hành vi vi phạm phải thỏa mãn 04 dấu hiệu pháp lý dưới đây:

2.1. Khách thể của tội phạm

Mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam là phạm trù phản ánh mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa lãnh đạo, chỉ huy và phục tùng. Tình đồng chí, đồng đội trong quân đội là một nội dung cơ bản biểu hiện bản chất cách mạng của quân đội ta, trong đó lãnh đạo, chỉ huy giữ vai trò quyết định.

Do đó, tội hành hung đồng đội đã trực tiếp xâm phạm đến quan hệ đồng chí, đồng đội, sự đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau giữa các quân nhân với nhau. Bên cạnh đó, tội hành hung đồng đội còn đang xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể, nhân phẩm của quân nhân.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này là những hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của đồng đội trong quan hệ công tác.

Quan hệ công tác là quan hệ giữa các quân nhân cùng được biên chế trong một cơ quan đơn vị nhất định và giữa họ có người là chỉ huy hoặc cấp trên, có người là cấp dưới. Trường hợp họ không cùng được biên chế trong một cơ quan đơn vị nhất định thì họ phải là những người cùng thực hiện nhiệm vụ trong một thời gian nhất định.

Người phạm tội phải có hành vi tác động đến thân thể của đồng đội, làm cho đồng đội bị thương, bị tổn hại đến sức khỏe bằng các hành vi như: đâm, chém, đấm, đá, đốt cháy, ... Những hành vi gây tổn thương này sẽ có sự tương đồng với các tội như: Tội cố ý gây thương tích (Điều 134), Tội giết người (Điều 123), ... song đối với Tội hành hung đồng đội thì tính chất và mức độ nguy hiểm thấp hơn. Do đó, các hành vi vi phạm này chỉ làm cho nạn nhân bị thương hoặc bị tổn hại đến sức khỏe, chứ không làm cho nạn nhân chết, cũng như không thuộc vào các trường hợp được quy định về tội cố ý gây thương tích.

Hậu quả của tội "Hành hung đồng đội" là gây những đau đớn về mặt tinh thần cho người đồng đội của mình. Tuy nhiên, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Và tội phạm chỉ được coi là hoàn thành kể từ khi có một trong những hành vi hành hung người đồng đội.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự và là những chủ thể đặc biệt. Tức là, chỉ những chủ thể được quy định tại Điều 392 Bộ luật Hình sự hiện hành mới có thể thực hiện tội phạm đó là “đồng đội”. Theo quy định của điều lệnh quản lý bộ đội thì các quân nhân không phân biệt cấp bậc, chức vụ, cùng biên chế hay không cùng biên chế trong cùng một đơn vị đều là đồng đội.

Như vậy, chủ thể của Tội hành hung đồng đội có thể kể đến bao gồm:

- Quân nhân tại ngũ, công nhân, viên chức quốc phòng

Quân nhân tại ngũ (quân nhân chuyên nghiệp tại ngũ) là quân nhân chuyên nghiệp đang phục vụ trong lực lượng thường trực của Quân đội nhân dân.

Công nhân viên chức quốc phòng là công dân Việt Nam có trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ, được tuyển chọn, tuyển dụng vào Quân đội nhân dân theo vị trí việc làm hoặc chức danh nghề nghiệp mà không thuộc diện được phong quân hàm sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và hạ sĩ quan, binh sĩ.

- Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện

Quân nhân dự bị (quân nhân chuyên nghiệp dự bị) trong thời gian tập trung huấn luyện là công dân Việt Nam có trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ đã đăng ký phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội nhân dân theo quy định của Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng năm 2015 được huy động tập trung huấn luyện. Được coi là quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện trong các trường hợp sau đây: tập trung huấn luyện chính trị, quân sự thường kỳ hàng năm; tập trung diễn tập; tập trung kiểm tra tình trạng săn sàng động viên; tập trung kiêm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu.

- Dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu

Dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu là công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ được giao cho đơn vị quân đội khi có nhu cầu chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu để tăng khả năng hoàn thành nhiệm vụ tác chiến của đơn vị quân đội.

- Công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội là công dân được cấp có thẩm quyền ra quyết định trưng tập vào phục vụ Quân đội

Công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội bao gồm: công nhân Quốc phòng (do hợp đồng lao động hoặc được tuyển dụng vào phục vụ trong quân đội) và Công chức Quốc phòng.

Công dân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định vào phục vụ Quân đội khi có lệnh tổng động viên, động viên cục bộ; có chiến tranh; có nhu cầu chiến đấu để bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà chưa đến mức phải động viên cục bộ.


2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội hành hung đồng đội được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là xâm phạm nghiêm trọng sức khỏe, thân thể của đồng đội và mong muốn thực hiện hành vi đó.

3. Hình thức xử lý đối với hành vi hành hung đồng đội

Khi các cá nhân thực hiện hành vi hành hung đồng đội thì tùy vào mức độ nguy hiểm và tính chất phức tạp của vụ việc mà cá nhân đó có thể bị áp dụng biện pháp xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

3.1. Hình thức xử lý kỷ luật

Căn cứ Điều 18 Thông tư 16/2020/TT-BQP ngày 21 tháng 02 năm 2020 của Bộ Quốc phòng quy định về việc áp dụng các hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục, thời hiệu, thời hạn và thẩm quyền xử lý kỷ luật trong Bộ Quốc phòng thì hình thức xử lý kỷ luật đối với cá nhân thực hiện hành hung đồng động được áp dụng như sau:

- Dùng lời nói hoặc có hành động xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự, thân thể đồng đội mà giữa họ không có quan hệ chỉ huy và phục tùng thì bị kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo.

- Nếu vi phạm một trong các trường hợp sau thì bị kỷ luật từ hạ bậc lương, giáng cấp bậc quân hàm, giáng chức, cách chức, tước quân hàm sĩ quan đến tước danh hiệu quân nhân, buộc thôi việc:

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe nhưng chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

+ Lôi kéo người khác tham gia;

+ Đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm;

+ Gây ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị.

Ngoài ra, tùy vào tính chất, mức độ của người thực hiện hành vi làm nhục, hành hung đồng đội, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

3.2. Bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Khi thực hiện hành vi hành hung đồng tội nhưng hậu quả nghiêm trọng hơn, dẫn đến bị truy cức trách nhiệm hình sự thì người thực hiện hành vi vi phạm có thể bị phạt vào một trong các khung hình phạt được quy định tại Điều 398 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cụ thể như sau:

- Khung hình phạt thứ nhất:

Người phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

- Khung hình phạt thứ hai: Được áp dụng đối với phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

+ Đối với chỉ huy hoặc cấp trên;

+ Vì lý do công vụ của nạn nhân;

+ Trong khu vực có chiến sự;

+ Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng: có thể là gây thiệt hại nghiêm trọng, rất nghiêm trọng,  đặc biệt nghiêm trọng về tính mạng, gây thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe, tài sản, về vũ khí, phương tiện ký thuật quân sự hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đến những lợi ích phi vật chất khác.

Qúy khách có thể tham khảo bài viết: Tội làm nhục đồng đội theo quy định điều 397 Bộ luật hình sự của Luật Minh Khuê.

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.