Mục đích của việc hình sự hóa hành vi hủy hoại nguồn lợi thủy sản không chỉ giới hạn trong việc bảo vệ môi trường tự nhiên, mà còn hướng đến việc bảo vệ sự đa dạng sinh học, cân bằng sinh thái, và đặc biệt là đảm bảo an ninh lương thực cũng như sinh kế của hàng triệu người dân phụ thuộc vào các hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản. Việc áp dụng các chế tài hình sự nghiêm khắc nhằm răn đe, ngăn chặn các hành vi tận diệt, mang tính hủy diệt, góp phần bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên quý giá này cho thế hệ tương lai.

1. Các yếu tố cấu thành tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản

1.1. Khách thể của tội phạm

Khách thể của Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản là các quy định pháp luật của Nhà nước về bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Các hành vi vi phạm trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước đối với tài nguyên này, gây ra hậu quả là sự suy giảm, tổn thất hoặc hủy hoại nghiêm trọng đến các loài thủy sản và môi trường sống của chúng.

1.2. Mặt khách quan của tội phạm

1.2.1. Hành vi phạm tội

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện qua các hành vi cụ thể được liệt kê tại Khoản 1, Điều 242 BLHS. Các hành vi này được xác định là nguy hiểm và có khả năng gây ra thiệt hại lớn cho nguồn lợi thủy sản, bao gồm:

  • Sử dụng chất độc, chất nổ, hóa chất, dòng điện hoặc phương tiện, ngư cụ bị cấm: Hành vi này thể hiện ý thức hủy diệt, tận diệt ngay từ đầu, gây hậu quả nghiêm trọng và trên diện rộng. Theo Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, khái niệm "phương tiện, ngư cụ bị cấm" được định nghĩa rõ hơn, là các công cụ được quy định tại Phụ lục II của Thông tư số 01/2022/TT-BNNPTNT ngày 18 tháng 1 năm 2022 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  • Khai thác thủy sản trong khu vực cấm hoặc trong khu vực cấm có thời hạn: Hành vi này trực tiếp xâm phạm các khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt. Nghị quyết 04/2024/NQ-HĐTP giải thích các khu vực này bao gồm vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, và các khu vực có quy định cấm khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  • Khai thác loài thủy sản bị cấm khai thác: Đây là hành vi khai thác các loài thủy sản thuộc Danh mục được quy định tại Nghị định 37/2024/NĐ-CP của Chính phủ, không thuộc các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
  • Phá hoại nơi cư ngụ của loài thủy sản: Hành vi này không phải là trực tiếp khai thác mà là làm suy giảm, gây tổn hại hoặc mất đi môi trường sống, hệ sinh thái thủy sinh, khu vực thủy sản còn non tập trung sinh sống hoặc đường di cư của các loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
  • Các hành vi gây hậu quả về con người: Bao gồm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% đến 121%.
  • Vi phạm quy định khác của pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản: Đây là quy định mở để xử lý các hành vi vi phạm chưa được liệt kê cụ thể nhưng gây hậu quả tương tự.

1.2.2. Hậu quả của tội phạm

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản. Người thực hiện hành vi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi hậu quả đạt đến ngưỡng nhất định, cụ thể là:

  • Gây thiệt hại nguồn lợi thủy sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
  • Thủy sản thu được từ hành vi phạm tội trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.
  • Hoặc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi nêu trên hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
  • Hậu quả về con người: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, hoặc đối với 02 người trở lên với tổng tỷ lệ từ 61% đến 121%.

Việc pháp luật quy định song song cả hành vi nguy hiểm (ví dụ: dùng chất nổ, điện) và hậu quả nghiêm trọng (thiệt hại kinh tế, tổn hại con người) cho thấy một cách tiếp cận toàn diện. Điều này có nghĩa là, ngay cả khi hành vi chưa gây ra thiệt hại tài sản lớn, nếu nó dẫn đến hậu quả nghiêm trọng về con người hoặc là hành vi tái phạm, người thực hiện vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

1.3. Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản được thể hiện bằng lỗi cố ý, bao gồm cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật và có thể gây ra hậu quả xấu, nhưng vẫn thực hiện hành vi đó. Người phạm tội có thể mong muốn hậu quả xảy ra (cố ý trực tiếp) hoặc không mong muốn nhưng vẫn bỏ mặc cho hậu quả xảy ra (cố ý gián tiếp). Nhận thức này bao gồm cả nhận thức về các quy định pháp luật cấm các hành vi hủy hoại nguồn lợi thủy sản.

1.4. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản có thể là bất kỳ cá nhân nào từ đủ 16 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS. Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại cũng có thể là chủ thể của tội phạm này. Dấu hiệu nhân thân "đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm" cũng là một căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự của cá nhân.

 

2. Khung hình phạt tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản

Điều 242 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đã được sửa đổi tại Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 với nội dung cụ thể:

Điều 242. Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản

1. Người nào vi phạm quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản thuộc một trong các trường hợp sau đây, gây thiệt hại nguồn lợi thủy sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thủy sản thu được trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Sử dụng chất độc, chất nổ, hóa chất, dòng điện hoặc phương tiện, ngư cụ bị cấm để khai thác thủy sản hoặc làm hủy hoại nguồn lợi thủy sản;

b) Khai thác thủy sản trong khu vực cấm hoặc trong khu vực cấm có thời hạn;

c) Khai thác loài thủy sản bị cấm khai thác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 244 của Bộ luật này;

d) Phá hoại nơi cư ngụ của loài thủy sản thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

g) Vi phạm quy định khác của pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

a) Gây thiệt hại nguồn lợi thủy sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng hoặc thủy sản thu được trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Làm chết người;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thiệt hại nguồn lợi thủy sản 1.500.000.000 đồng trở lên hoặc thủy sản thu được trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Làm chết 02 người trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

d) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.”.

2.1. Các khung hình phạt áp dụng cá nhân, pháp nhân thương mại

Điều 242 BLHS quy định các khung hình phạt cụ thể tương ứng với mức độ thiệt hại và tính chất của hành vi, áp dụng cho cả cá nhân và pháp nhân thương mại.

Đối với cá nhân

  • Khung cơ bản (Khoản 1): Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khung hình phạt này áp dụng cho các hành vi gây thiệt hại nguồn lợi thủy sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thủy sản thu được trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
  • Khung tăng nặng thứ nhất (Khoản 2): Phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 05 năm. Các tình tiết định khung là: Gây thiệt hại nguồn lợi thủy sản 1.500.000.000 đồng trở lên hoặc thủy sản thu được trị giá 500.000.000 đồng trở lên; Làm chết 02 người trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên.
  • Khung tăng nặng thứ hai (Khoản 3): Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Các tình tiết định khung là: Gây thiệt hại nguồn lợi thủy sản 1.500.000.000 đồng trở lên hoặc thủy sản thu được trị giá 500.000.000 đồng trở lên; Làm chết 02 người trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên.

Đối với pháp nhân thương mại

Pháp nhân thương mại phạm tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản cũng phải chịu trách nhiệm hình sự. Hình phạt chính đối với pháp nhân là phạt tiền:

  • Phạm tội thuộc Khoản 1: Phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng.
  • Phạm tội thuộc Khoản 2: Phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng;.
  • Phạm tội thuộc Khoản 3: Phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm.
  • Hình phạt bổ sung (điểm d khoản 5): 

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể phải chịu các hình phạt bổ sung:

  • Đối với cá nhân: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
  • Đối với pháp nhân: Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

2.2. Phân tích hình phạt qua các vụ án điển hình

Thực tiễn xét xử cho thấy, các vụ án về tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản thường liên quan đến hành vi sử dụng các công cụ có tính hủy diệt như kích điện. Hai vụ án dưới đây minh họa rõ các yếu tố cấu thành tội phạm và kết quả xét xử.

Vụ án tại Bạc Liêu:

  • Hành vi và tang vật: Vào khoảng 6 giờ sáng ngày 16/4/2023, bị cáo A đã chuẩn bị một bộ kích điện gồm bình ắc quy Globe 210AH, bộ xiệt điện và cây vợt để xiệt cá. Bị cáo đã sử dụng một chiếc vỏ composite và máy nổ để di chuyển vào kênh, sau đó dùng bộ kích điện để bắt cá. Mặc dù chỉ bắt được 39 con cá bống tượng với trọng lượng 800 gram, hành vi sử dụng công cụ bị cấm đã bị Công an xã M phát hiện và lập biên bản. Các tang vật bị thu giữ bao gồm vỏ composite, máy nổ, bình ắc quy và bộ kích điện, tất cả đều là các công cụ bị cấm sử dụng trong khai thác thủy sản.
  • Phân tích: Vụ án này cho thấy việc truy cứu trách nhiệm hình sự không phụ thuộc vào số lượng thủy sản thu được, mà dựa trên hành vi sử dụng công cụ hủy diệt.
  • Kết quả xét xử: Một vụ án khác tương tự tại Bạc Liêu liên quan đến bị cáo Huỳnh Quốc Quí đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm và giữ nguyên mức án 6 tháng tù giam. Đáng chú ý, bị cáo này đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi tương tự trước đó.

Vụ án tại Quảng Ninh:

  • Hành vi và tang vật: Nguyễn Hữu Tính (sinh năm 1970) bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh khởi tố về tội danh này. Bị cáo đã bị Tổ công tác của Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 phát hiện sử dụng lưới kéo và kích điện để khai thác thủy sản tại khu vực biển phía đông nam đảo Cô Tô.
  • Tình tiết tăng nặng: Tương tự như vụ án ở Bạc Liêu, bị cáo Nguyễn Hữu Tính cũng đã từng bị Ủy ban nhân dân huyện Cô Tô xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng ngư cụ bị cấm trước đó.

Sự tái diễn của các hành vi vi phạm, dù đã từng bị xử phạt hành chính, cho thấy mức độ răn đe của các hình thức xử phạt này có thể chưa đủ mạnh. Điều này đặt ra một câu hỏi lớn về hiệu quả của cả hệ thống pháp luật, từ xử phạt hành chính đến truy tố hình sự, trong việc ngăn chặn hành vi tái phạm. Vấn đề không chỉ đơn thuần là áp dụng luật, mà còn nằm ở các yếu tố sâu xa hơn thúc đẩy hành vi phạm tội.

2.3. Phân biệt với vi phạm hành chính

Ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự trong lĩnh vực thủy sản được xác định chủ yếu dựa trên mức độ hậu quả và dấu hiệu tái phạm.

  • Vi phạm hành chính: Áp dụng cho các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản nhưng chưa gây ra thiệt hại đến ngưỡng truy cứu hình sự. Mức phạt tiền và các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại các văn bản dưới luật, ví dụ như Nghị định 38/2024/NĐ-CP.
  • Tội phạm hình sự: Chỉ được truy cứu khi hậu quả đạt đến ngưỡng định lượng (thiệt hại nguồn lợi từ 100 triệu đồng trở lên, hoặc thủy sản thu được từ 50 triệu đồng trở lên) hoặc khi người vi phạm đã bị xử phạt hành chính mà còn tái phạm.
Tiêu Chí Tội Hủy Hoại Nguồn Lợi Thủy Sản (Điều 242 BLHS) Vi Phạm Hành Chính Lĩnh Vực Thủy Sản
Căn cứ pháp lý Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017 và năm 2025 và các văn bản hướng dẫn (Nghị quyết 04/2024/NQ-HĐTP) Luật Xử lý Vi phạm Hành chính, Nghị định 38/2024/NĐ-CP và các văn bản liên quan
Mức độ hậu quả Bắt buộc phải đạt ngưỡng tối thiểu: thiệt hại nguồn lợi từ 100 triệu đồng trở lên, hoặc thủy sản thu được từ 50 triệu đồng trở lên. Hoặc tái phạm Hậu quả dưới ngưỡng truy cứu hình sự
Chế tài Phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù

Phạt tiền, tịch thu tang vật, tước quyền sử dụng giấy phép, buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu

Đối tượng Cá nhân và Pháp nhân thương mại Cá nhân và Tổ chức

 

3. Phân biệt với tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244 BLHS)

Đây là hai tội danh dễ gây nhầm lẫn trong thực tiễn áp dụng. Tiêu chí phân biệt cốt lõi là đối tượng tác động của tội phạm.

  • Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (Điều 242): Đối tượng tác động là các loài thủy sản nói chung, không thuộc danh mục các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.
  • Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244): Đối tượng tác động là các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, thuộc nhóm I và II theo quy định của pháp luật.

Việc phân biệt này tuân theo nguyên tắc pháp lý quan trọng là "luật đặc biệt ưu tiên hơn luật chung." Khi một hành vi vi phạm đồng thời cả hai điều luật, ví dụ như sử dụng chất nổ để khai thác thủy sản nhưng lại làm chết cả một loài cá quý hiếm, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 244 BLHS. Điều này thể hiện sự ưu tiên cao hơn trong việc bảo vệ các loài động vật hoang dã quý hiếm. Nghị quyết 04/2024/NQ-HĐTP cũng làm rõ mối liên kết này, cho thấy một hành vi có thể bị xử lý về cả Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản và Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm nếu có đủ yếu tố cấu thành của cả hai tội danh.

Tiêu Chí Tội Hủy Hoại Nguồn Lợi Thủy Sản (Điều 242 BLHS) Tội Vi Phạm Quy Định Bảo Vệ Động Vật Nguy Cấp, Quý, Hiếm (Điều 244 BLHS)
Đối tượng tác động

Nguồn lợi thủy sản nói chung (cá, tôm, cua, rong biển,...)

Các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm thuộc các danh mục do Chính phủ quy định

Hành vi

Sử dụng công cụ hủy diệt, khai thác trong khu vực cấm, phá hoại nơi cư ngụ,...

Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép,...

Mục tiêu bảo vệ Nguồn tài nguyên thủy sản, trật tự quản lý kinh tế Đa dạng sinh học, bảo tồn các loài quý hiếm

Lưu ý về mối liên kết với Luật thủy sản năm 2017:

Hệ thống pháp luật Việt Nam được xây dựng theo một trật tự thứ bậc chặt chẽ, từ Hiến pháp, đến Luật, Nghị định và các văn bản dưới luật khác. Mặc dù Bộ luật Hình sự là văn bản pháp lý cao nhất trong lĩnh vực hình sự, nhưng để áp dụng chính xác Điều 242, cần phải có sự kết nối và tham chiếu với các văn bản pháp luật chuyên ngành khác.

Một trong những văn bản quan trọng nhất là Luật Thủy sản 2017. Luật này đóng vai trò là nền tảng để cụ thể hóa các hành vi bị nghiêm cấm mà Điều 242 BLHS viện dẫn. Cụ thể, Điều 7 của Luật Thủy sản 2017 liệt kê rõ ràng các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thủy sản, bao gồm "sử dụng chất độc, chất nổ, xung điện, dòng điện, phương pháp, phương tiện, ngư cụ khai thác có tính hủy diệt, tận diệt". Việc xác định một hành vi có "vi phạm quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản" hay không phụ thuộc trực tiếp vào các quy định chi tiết của Luật Thủy sản.

Các văn bản dưới luật như Nghị định 26/2019/NĐ-CP và Nghị định 38/2024/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa các quy định của Luật Thủy sản, trong đó có việc xác định các mức phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi khai thác thủy sản. Điều này tạo ra một sự phân tầng pháp lý rõ ràng: hành vi vi phạm ban đầu có thể chỉ bị xử phạt hành chính. Tuy nhiên, nếu hành vi đó gây ra hậu quả nghiêm trọng về định lượng (giá trị thiệt hại) hoặc tái phạm, nó sẽ chuyển hóa thành tội phạm hình sự theo Điều 242 BLHS.

Mối quan hệ pháp lý này cho thấy một hệ thống liên kết linh hoạt. Các nhà làm luật có thể dễ dàng điều chỉnh các quy định chi tiết trong Nghị định để phù hợp với thực tiễn, mà không cần sửa đổi Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, điều này cũng tạo ra một số khó khăn. Sự thay đổi trong các văn bản dưới luật có thể khiến việc giải thích các dấu hiệu cấu thành tội phạm trở nên phức tạp và thiếu đồng bộ. Một hành vi được coi là vi phạm hành chính tại thời điểm này có thể trở thành tiền đề cho tội phạm hình sự ở thời điểm khác, đòi hỏi các cơ quan tố tụng phải liên tục cập nhật và đồng bộ hóa các văn bản để đảm bảo tính nhất quán trong áp dụng pháp luật.

 

4. Khó khăn, vướng mắc và đề xuất áp dung trong bối cảnh quốc tế

Mặc dù hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, việc áp dụng Điều 242 BLHS trong thực tiễn vẫn còn một số vướng mắc đáng chú ý:

  • Vấn đề định giá thiệt hại: Đây là khó khăn lớn nhất. Sự thiếu vắng văn bản hướng dẫn cụ thể và thống nhất về phương pháp định giá thiệt hại nguồn lợi thủy sản trong tố tụng hình sự gây ra nhiều lúng túng cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Việc định giá không chỉ dừng lại ở giá trị thủy sản thu được mà còn bao gồm cả giá trị của các loài thủy sản non, giá trị phục hồi môi trường sống, và các thiệt hại sinh thái khác, vốn rất khó để định lượng một cách chính xác.
  • Thách thức trong thu thập chứng cứ: Các hành vi hủy hoại nguồn lợi thủy sản thường xảy ra ở các vùng nước xa xôi, khó tiếp cận, gây khó khăn cho lực lượng chức năng trong việc phát hiện, bắt giữ quả tang và thu thập đầy đủ tang vật, chứng cứ. Việc giám định các mẫu nước bị ô nhiễm hoặc xác định mức độ hủy hoại hệ sinh thái cũng là một quy trình phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp của nhiều cơ quan chuyên môn.
  • Vướng mắc trong nhận thức pháp luật: Một bộ phận người dân, đặc biệt là ngư dân, vẫn chưa nhận thức đầy đủ về ranh giới pháp lý giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự. Điều này dẫn đến tình trạng tái phạm, hoặc có những hành vi vi phạm mang tính chất tận diệt nhưng lại không ý thức được mức độ nghiêm trọng của nó đối với pháp luật.

Để giải quyết triệt để vấn đề này, cần một chiến lược tổng thể và đồng bộ, kết hợp nhiều giải pháp từ các lĩnh vực khác nhau:

  • Hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả xét xử Tòa án nhân dân Tối cao sớm ban hành án lệ hoặc nghị quyết hướng dẫn cụ thể cho Điều 242 Bộ luật Hình sự. Điều này sẽ giúp các cơ quan tố tụng có cơ sở thống nhất để áp dụng pháp luật, đặc biệt trong việc định giá thiệt hại và xác định các tình tiết định lượng.
  • Tăng cường năng lực thực thi cần có chính sách đầu tư thích đáng để tăng cường nguồn lực, trang thiết bị cho các lực lượng Kiểm ngư, Cảnh sát biển và Bộ đội Biên phòng. Đồng thời, cải thiện cơ chế phối hợp liên ngành để đảm bảo việc tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm diễn ra liên tục, kịp thời và hiệu quả.
  • Giải quyết nguyên nhân gốc rễ đây là giải pháp mang tính bền vững nhất. Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề nghiệp, giảm chi phí khai thác và phát triển các chuỗi liên kết giá trị bền vững. Việc hỗ trợ kinh tế, đảm bảo sinh kế cho ngư dân sẽ giúp họ không phải tìm đến các phương thức khai thác hủy diệt.
  • Tăng cường hợp tác quốc tế và tuyên truyền tiếp tục học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia đi đầu trong việc chống khai thác IUU như Nhật Bản, Úc và Canada. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của ngư dân về tác hại của hành vi hủy hoại nguồn lợi và các quy định của pháp luật, nhằm chuyển đổi từ tư duy "đánh bắt" sang tư duy "bảo vệ và phát triển bền vững."

Bối cảnh quốc tế và mối liên hệ với Việt Nam: Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đã tham gia và ký kết nhiều hiệp định quan trọng về bảo vệ môi trường biển và nguồn lợi thủy sản. Trong số đó, Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) được coi là khuôn khổ pháp lý cho mọi hoạt động trên biển và đại dương. Gần đây nhất, vào tháng 9/2023, Việt Nam cùng với hơn 60 quốc gia khác đã ký Hiệp định về "Bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học ở vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia" (Hiệp định Biển cả). Việc tham gia các hiệp định này thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc bảo vệ môi trường biển toàn cầu.

  • Định nghĩa IUU: Khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU fishing) là một trong những thách thức lớn nhất đối với ngành thủy sản toàn cầu. Khái niệm này bao gồm các hoạt động khai thác vi phạm pháp luật quốc gia hoặc quốc tế, không được báo cáo đầy đủ, hoặc diễn ra ở những vùng biển không được quản lý. Các hành vi cụ thể của IUU bao gồm: sử dụng công cụ đánh bắt bị cấm, khai thác không có giấy phép, đánh bắt trong khu vực cấm hoặc mùa vụ cấm.
  • Mối liên hệ với pháp luật Việt Nam: Các hành vi cấu thành "Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản" theo Điều 242 BLHS, như sử dụng chất nổ, điện hoặc khai thác trong khu vực cấm, chính là những biểu hiện rõ nét của IUU fishing. Mặc dù pháp luật Việt Nam đã có những quy định tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế về chống IUU , việc Ủy ban Châu Âu (EC) rút "thẻ vàng" cảnh báo đối với ngành thủy sản Việt Nam đã tạo ra một áp lực lớn. Cảnh báo này không chỉ là một rào cản thương mại mà còn là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy Việt Nam phải hoàn thiện khung pháp lý và tăng cường thực thi, từ đó góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản một cách hiệu quả hơn và tuân thủ các cam kết quốc tế.

Kết luận 

Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản được quy định tại Điều 242 BLHS 2015, sửa đổi năm 2017 và năm 2025 là một công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và trật tự quản lý kinh tế của Việt Nam. Cấu trúc của điều luật thể hiện một cách tiếp cận toàn diện, xử lý cả hành vi nguy hiểm và hậu quả nghiêm trọng, đồng thời quy định trách nhiệm hình sự đối với cả cá nhân và pháp nhân thương mại.

Với sự ra đời của các văn bản hướng dẫn mới nhất như Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐTP, các khái niệm pháp lý tại Điều 242 đã được làm rõ hơn, tạo cơ sở vững chắc cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức đáng kể, đặc biệt là trong việc xây dựng phương pháp định giá thiệt hại nguồn lợi thủy sản một cách khoa học và thống nhất.

Để việc thực thi pháp luật đạt hiệu quả cao nhất, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn và sự hoàn thiện của các văn bản hướng dẫn. Việc giải quyết các vướng mắc, đặc biệt là về định giá thiệt hại, sẽ góp phần đảm bảo tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của hệ thống tư pháp hình sự, từ đó bảo vệ bền vững nguồn lợi thủy sản và góp phần vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác