- 1. Các yếu tố cấu thành tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam
- 1.1. Mặt khách quan
- 1.2. Mặt chủ quan của tội phạm
- 1.3. Khách thể của tội phạm
- 1.4. Chủ thể của tội phạm
- 2. Khung hình phạt tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam
- 2.1. Các khoản hình phạt tương ứng với hành vi và hậu quả
- 2.2. Tình tiết định khung tăng nặng
- 2.3. Tình tiết giảm nhẹ
- 2.4. Trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại
- 2.5. Tham khảo hình phạt qua bản án điển hình
- 2.6. Vai trò của các cơ quan tố tụng
- 3. So sánh với các tội danh tương tự và xử phạt vi phạm hành chính
- 3.1. So sánh với các tội danh khác
- 3.2. So sánh với xử phạt vi phạm hành chính
- 3.3. Mối liên Hệ với công ước Basel
- 4. Khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện
- Kết luận
Điều luật này được xây dựng dựa trên bản chất là một tội phạm hình thức. Điều này có nghĩa là dấu hiệu định tội không phụ thuộc vào việc đã có hậu quả nghiêm trọng về môi trường xảy ra hay chưa, mà chỉ cần hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam trái pháp luật và đạt đến một trong các ngưỡng định lượng cụ thể được quy định tại điều luật. Việc xác định tội phạm hoàn thành khi hành vi đã thỏa mãn các điều kiện về định lượng là một bước tiến quan trọng của pháp luật hình sự, chuyển trọng tâm từ việc xử lý hậu quả sang phòng ngừa và ngăn chặn nguy cơ từ sớm. Điều này đặc biệt phù hợp với loại tội phạm môi trường có tính chất nguy hiểm tiềm tàng, khó lường về hậu quả.
Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam là hành vi nhập khẩu, cho phép nhận khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, các chế phẩm sinh học, chế phẩm hóa học khác, các chất độc hại, chất phóng xạ hoặc phế thải không đảm bảo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường vào trong lãnh thổ Việt Nam. Làm ảnh hưởng đến tiêu chuẩn bảo vệ môi trường trong nước và có thể ảnh hưởng đến sức khỏe môi trường.
1. Các yếu tố cấu thành tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam
Đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam là hành vi đưa các chất phế thải không được phép vào lãnh thổ Việt Nam gây nguy hiểm cho xã hội và được Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi quy định.
Để các bạn có thể hiểu rõ hơn và đúng hơn về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam thì chúng tôi sẽ phân tích cấu thành tội phạm của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam về mặt khách quan, mặt chủ quan, khách thể và chủ thể. Cụ thể như sau:
1.1. Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu như sau:
- Về hành vi: Nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, các phế phẩm sinh học, chế phẩm hoá học khác, các chất độc hại, chất phóng xạ hoặc phế thải không đảm bảo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường. Hành vi nhập khẩu có thể thực hiện một cách trực tiếp hoặc thông qua nhập khẩu uỷ thác. Người thực hiện hành vi nêu trên phải đưa các đối tượng nêu trên vào lãnh thổ Việt Nam với số lượng lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này
Tóm lại là người phạm tội có thể thực hiện một trong hai hành vi khách quan như sau:
- Đưa phế thải không bảo đảm tiêu chuẩn bảo vệ môi trường vào lãnh thổ Việt Nam
- Cho nhận phế thải không bảo đảm tiêu chuẩn bảo vệ môi trường.
Một dấu hiệu nữa đó là chất thải được nhập vào nước ta không bảo đảm tiêu chuẩn bảo vệ môi trường với các tiêu chuẩn đã được lượng hóa cụ thể. Dấu hiệu “không đảm bảo tiêu chuẩn môi trường” được xác định trong một số văn bản như: Thông tư liên bộ số 2880/KCM-TM (19/12/1996) của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Bộ Thương mại quy định tạm thời đối với việc nhập khẩu phế liệu; Quyết định số 2019/1997/QĐ-BKHCNMT (1/12/1997) của Bộ trưởng của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường quy định những yêu cầu chung về kỹ thuật đối với việc nhập khẩu các thiết bị đã qua sử dụng…Tuy nhiên những văn bản này hiện nay đã hết hiệu lực mà chưa có văn bản thay thế.
Hành vi nhập khẩu trong cấu thành tội phạm này không phải là hành vi nhập lậu, mà việc nhập khẩu được thực hiện đúng theo quy định nhập khẩu hàng hóa, hàng nhập khẩu đúng chủng loại, số lượng, chất lượng nhưng không bảo đảm tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, không được cơ quan Nhà nước về bảo vệ môi trường cho phép
Phế liệu là một loại chất thải rất hay được nhập khẩu vào Việt Nam, tuy nhiên để bảo vệ môi trường. Hành vi nhập khẩu phế liệu không đúng theo quy định của Nghị định này cũng bị coi là thực hiện tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam.
1.2. Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội danh "Đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam" được thể hiện bằng lỗi cố ý. Lỗi cố ý bao gồm cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật và gây nguy hại, nhưng vẫn mong muốn thực hiện hoặc chấp nhận rủi ro đó. Mặc dù động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc, trong thực tiễn, hầu hết các trường hợp đều xuất phát từ mục đích lợi nhuận kinh tế. Việc truy tố đòi hỏi phải chứng minh được nhận thức của người thực hiện về tính chất của hàng hóa là chất thải và hành vi đưa vào là trái phép, đây là một thách thức lớn đối với các cơ quan tố tụng.
1.3. Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội danh này là các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường, cụ thể là các quy định về quản lý xuất nhập khẩu chất thải. Đối tượng tác động của tội phạm là các loại chất thải được đưa từ nước ngoài vào Việt Nam. Điều luật phân loại đối tượng tác động thành hai nhóm chính để làm căn cứ xác định mức độ nguy hiểm của hành vi:
- Nhóm 1: Chất thải nguy hại có thành phần đặc biệt nguy hại vượt ngưỡng theo quy định của pháp luật hoặc chứa các chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy.
- Nhóm 2: Chất thải khác, không thuộc nhóm nguy hại đặc biệt.
1.4. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội danh này có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại. Đối với cá nhân, chủ thể phải đáp ứng các điều kiện chung của chủ thể tội phạm hình sự: đủ 16 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Năng lực trách nhiệm hình sự được hiểu là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Đối với pháp nhân thương mại, việc có thể trở thành chủ thể của tội phạm này là một điểm tiến bộ của BLHS 2015.
2. Khung hình phạt tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam
Nội dung Điều 239 Bộ Luật Hình sự năm 2015, (Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017 đã sửa đổi một số nội dung điều 239 Điểm 61 Điều 1). Hiện nay, quy định mới nhất của Điều 239 được quy định tại Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 với nội dung như sau:
Điều 239. Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam
1. Người nào đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 400.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đưa từ 1.000 kilôgam đến dưới 3.000 kilôgam chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc từ 3.000 kilôgam đến dưới 10.000 kilôgam chất thải nguy hại khác;
b) Đưa từ 70.000 kilôgam đến dưới 170.000 kilôgam chất thải khác.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Đưa từ 3.000 kilôgam đến dưới 5.000 kilôgam chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc từ 10.000 kilôgam đến dưới 50.000 kilôgam chất thải nguy hại khác;
c) Đưa từ 170.000 kilôgam đến dưới 300.000 kilôgam chất thải khác.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 4.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Đưa 5.000 kilôgam trở lên chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc 50.000 kilôgam trở lên chất thải nguy hại khác;
b) Đưa 300.000 kilôgam trở lên chất thải khác.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 01 năm;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt liền từ 10.000.000.000 đồng đến 14.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.”.
2.1. Các khoản hình phạt tương ứng với hành vi và hậu quả
Tội danh này quy định các khung hình phạt chi tiết tùy thuộc vào khối lượng và tính chất của chất thải được đưa vào lãnh thổ Việt Nam. Bảng dưới đây tóm tắt các hình phạt chính và bổ sung đối với cá nhân và pháp nhân thương mại.
2.2. Tình tiết định khung tăng nặng
Tình tiết "Có tổ chức" là một dấu hiệu định khung tăng nặng được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 239. Tình tiết này thể hiện tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội khi có sự cấu kết chặt chẽ, phân công vai trò giữa nhiều người, làm tăng khả năng thành công và quy mô của tội phạm.
2.3. Tình tiết giảm nhẹ
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng theo quy định chung của Bộ luật Hình sự. Một số tình tiết phổ biến có thể được áp dụng bao gồm: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, hoặc có nhân thân tốt.
Một đánh giá quan trọng về mức hình phạt cho thấy một sự không tương xứng đáng lo ngại giữa hình phạt tiền và lợi nhuận mà tội phạm này mang lại. Trong khi mức phạt tiền cao nhất đối với cá nhân chỉ là 5 tỷ đồng, lợi nhuận thu được từ việc nhập khẩu trái phép có thể lên đến hàng trăm tỷ đồng. Điều này tiềm ẩn nguy cơ làm giảm tính răn đe của pháp luật, biến hình phạt thành một "chi phí" mà tội phạm sẵn sàng chấp nhận, thay vì là một rào cản pháp lý hiệu quả.
2.4. Trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại
Bên cạnh trách nhiệm hình sự, cá nhân, pháp nhân gây thiệt hại môi trường còn phải chịu trách nhiệm dân sự. Hiến pháp 2013 và Luật Bảo vệ môi trường 2020 quy định rõ ràng rằng tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm khắc phục và bồi thường thiệt hại.
Việc xác định mức bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường được dựa trên các yếu tố quy định tại Điều 134 Luật Bảo vệ môi trường 2020 và Nghị định 08/2022/NĐ-CP, bao gồm :
- Chi phí xử lý và cải tạo môi trường trở về trạng thái ban đầu hoặc tương đương.
- Chi phí ngay lập tức và dài hạn do suy giảm chức năng, giá trị của môi trường.
- Chi phí để giảm thiểu nguồn gây thiệt hại và ứng phó với sự cố môi trường.
- Chi phí để xác định thiệt hại và thực hiện các thủ tục bồi thường.
Theo Luật Bảo vệ môi trường 2020, Ủy ban nhân dân các cấp và Bộ Tài nguyên và Môi trường là các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tuy nhiên, việc thực thi trách nhiệm dân sự trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù đã có các quy định chi tiết, việc xác định chính xác mức độ thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả môi trường đòi hỏi năng lực giám định chuyên môn rất cao và chi phí lớn. Chi phí xử lý và phục hồi có thể rất khổng lồ và việc thu hồi khoản tiền này từ các đối tượng phạm tội là một thách thức lớn. Nếu người gây tội chỉ bị xử lý hình sự mà không phải bồi thường đầy đủ thiệt hại môi trường, hiệu quả răn đe của luật pháp sẽ bị giảm sút đáng kể.
2.5. Tham khảo hình phạt qua bản án điển hình
Trong bối cảnh thực tiễn, một trong những vụ án điển hình cho thấy tính chất phức tạp của tội phạm này là vụ án liên quan đến việc nhập khẩu trái phép hơn 1,200 container phế liệu nhựa tại tỉnh Bến Tre. Vụ án được Tòa án Nhân dân (TAND) TPHCM xét xử và tuyên án vào ngày 12/7/2024, làm rõ các yếu tố cốt lõi của tội phạm đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam.
Chủ thể và tội danh: Tội phạm không chỉ giới hạn ở một cá nhân hay tổ chức mà còn có sự tham gia của một đường dây có tổ chức. Cụ thể, Nguyễn Phương Bình, Giám đốc Công ty TNHH Bình Nguyên, bị phạt tiền 1 tỷ đồng về tội "Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới". Điều đáng chú ý là vụ án này còn liên quan đến các cựu cán bộ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre như Đoàn Văn Phúc, Trương Văn Em, Trần Thanh Phong và Nguyễn Thị Thúy, những người đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cấp giấy phép và thông quan trái phép.
Thủ đoạn phạm tội: Các đối tượng đã sử dụng thủ đoạn tinh vi, làm giả các giấy tờ quan trọng như thông báo lô hàng và thông báo phong tỏa tài khoản để hợp thức hóa 987 tờ khai nhập khẩu phế liệu, với tổng giá trị lên đến 57 tỷ đồng. Sự tiếp tay của các cán bộ nhà nước đã giúp doanh nghiệp lách luật, mặc dù công ty không có đủ điều kiện về công nghệ và thiết bị tái chế.
Bản án: TAND TPHCM đã tuyên phạt các bị cáo với nhiều mức án khác nhau, bao gồm phạt tiền, phạt tù và phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Vụ án này cho thấy tội phạm đưa chất thải vào Việt Nam đã phát triển thành một loại tội phạm kinh tế-môi trường phức tạp, có sự móc nối chặt chẽ giữa doanh nghiệp và các cá nhân có chức vụ. Điều này đặt ra một thách thức lớn cho các cơ quan thực thi pháp luật, đòi hỏi sự phối hợp liên ngành chặt chẽ hơn để không chỉ kiểm soát cửa khẩu mà còn phòng chống tham nhũng, lạm dụng chức vụ trong chính bộ máy nhà nước.
2.6. Vai trò của các cơ quan tố tụng
Trong một vụ án điển hình về tội đưa chất thải, các cơ quan tố tụng đóng vai trò quan trọng theo một quy trình chặt chẽ, từ điều tra ban đầu đến xét xử cuối cùng.
Cảnh sát Môi trường: Đây là lực lượng tiên phong trong việc phát hiện, điều tra các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Trong vụ án nhập khẩu phế liệu, Cảnh sát Môi trường là lực lượng đầu tiên tiến hành kiểm tra và phát hiện lô hàng rác thải nhựa không thuộc danh mục được phép nhập khẩu. Sau khi phát hiện vi phạm, Cảnh sát Môi trường tiến hành thu thập chứng cứ, lấy mẫu giám định và lập hồ sơ ban đầu để khởi tố vụ án.
Viện kiểm sát: Viện kiểm sát có vai trò kiểm sát quá trình điều tra, đảm bảo các thủ tục tố tụng được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Sau khi hồ sơ được chuyển từ cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, nếu đủ căn cứ sẽ ra quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án.
Tòa án: Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xét xử và đưa ra phán quyết cuối cùng. Dựa trên các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thu thập được, Tòa án tiến hành xét xử, tuyên bố bị cáo có phạm tội hay không và áp dụng hình phạt tương ứng theo quy định tại Điều 239 BLHS.
3. So sánh với các tội danh tương tự và xử phạt vi phạm hành chính
3.1. So sánh với các tội danh khác
Trong thực tiễn, "Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam" (Điều 239) thường dễ bị nhầm lẫn với "Tội gây ô nhiễm môi trường" (Điều 235) và "Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại" (Điều 236).
| Tiêu chí | Tội Đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Đ.239) | Tội gây ô nhiễm môi trường (Đ.235) | Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Đ.236) |
| Hành vi | Đưa chất thải từ nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam trái pháp luật. | Chôn, lấp, đổ, thải chất thải ra môi trường vượt ngưỡng cho phép, gây ô nhiễm. | Cho phép hoặc không ngăn chặn việc chôn, lấp, đổ, thải chất thải nguy hại trái phép. |
| Khách thể | Chế độ quản lý nhà nước về môi trường, cụ thể là quản lý xuất nhập khẩu chất thải. | Sự sạch đẹp, trong lành của môi trường, sức khỏe con người. | Chế độ quản lý nhà nước về chất thải nguy hại. |
| Mặt khách quan | Tội phạm hình thức. Chỉ cần hành vi và định lượng. Hậu quả không bắt buộc. | Tội phạm vật chất. Đòi hỏi hậu quả thực tế đã xảy ra. | Tội phạm hình thức. Chỉ cần hành vi vi phạm quy định quản lý. |
| Chủ thể | Cá nhân và pháp nhân thương mại (chủ thể chung). | Cá nhân và pháp nhân thương mại (chủ thể chung). | Cá nhân có thẩm quyền quản lý chất thải nguy hại (chủ thể đặc biệt). |
| Điểm khác biệt cốt lõi | Tập trung vào hành vi nhập khẩu từ nước ngoài. | Tập trung vào hành vi xả thải bên trong lãnh thổ. | Tập trung vào hành vi quản lý chất thải nội địa của người có thẩm quyền. |
Việc phân biệt rõ ràng các tội danh này là vô cùng quan trọng trong thực tiễn tố tụng. Sự nhầm lẫn có thể dẫn đến việc định tội danh sai, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử và tính công bằng của bản án. Nhiều vụ án đáng lẽ phải bị xử lý theo Điều 239 nhưng lại bị truy tố theo Điều 235 hoặc Điều 188 cho thấy sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật.
3.2. So sánh với xử phạt vi phạm hành chính
Các quy định của Điều 239 BLHS có mối liên hệ mật thiết với Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) 2020 và các văn bản hướng dẫn chi tiết như Nghị định 08/2022/NĐ-CP. Các văn bản này quy định chặt chẽ các điều kiện về bảo vệ môi trường đối với hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, bao gồm yêu cầu về công nghệ, thiết bị tái chế, kho bãi lưu giữ và việc ký quỹ bảo đảm. Việc không tuân thủ các điều kiện này chính là cơ sở pháp lý để xác định hành vi "trái pháp luật," từ đó chuyển hóa một hành vi vi phạm hành chính đơn thuần thành tội phạm hình sự.
Một trong những tiến bộ quan trọng nhất trong việc xây dựng pháp luật về tội phạm môi trường là sự chuyển đổi từ các dấu hiệu định tính mơ hồ, như "gây hậu quả nghiêm trọng," sang các ngưỡng định lượng cụ thể. Sự thay đổi này làm cho việc xác định cấu thành tội phạm trở nên rõ ràng và khách quan hơn, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở vững chắc để khởi tố và xét xử. Điều này cũng tạo ra một ranh giới pháp lý minh bạch giữa hành vi vi phạm hành chính và tội phạm hình sự, góp phần tăng tính răn đe của pháp luật.
| Tiêu chí | Xử phạt vi phạm hành chính | Truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 239 BLHS) | |
| Loại hành vi | Vi phạm các quy định về quản lý môi trường, như vận chuyển vật liệu không che chắn, không phân loại rác thải, xả rác nơi công cộng. Mức độ vi phạm không đạt ngưỡng định lượng để cấu thành tội phạm. | Đưa chất thải (bao gồm chất thải nguy hại và chất thải khác) vào lãnh thổ Việt Nam một cách trái pháp luật. | |
| Định lượng/Loại chất thải | Không đạt ngưỡng định lượng quy định tại Điều 239 BLHS. Ví dụ: xử phạt hành vi đổ nước thải không đúng quy định. | Đạt các ngưỡng định lượng cụ thể: - Chất thải nguy hại đặc biệt: từ 1,000 kg trở lên.- Chất thải nguy hại khác: từ 3,000 kg trở lên.- Chất thải khác: từ 70,000 kg trở lên. | |
| Mức phạt | Phạt tiền theo quy định tại Nghị định 45/2022/NĐ-CP và các nghị định khác. Mức phạt tiền phổ biến từ vài trăm nghìn đến vài chục triệu đồng, có thể lên đến 1 tỷ đồng đối với cá nhân và 2 tỷ đồng đối với tổ chức đối với hành vi xả thải trái phép nghiêm trọng. | Hình phạt chính: Phạt tiền từ 200 triệu đến 5 tỷ đồng, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 10 năm. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề đối với cá nhân. Cấm kinh doanh, cấm hoạt động đối với pháp nhân. |
|
| Cơ quan xử lý | Các cơ quan quản lý nhà nước như Ủy ban nhân dân các cấp, Cảnh sát môi trường (trong thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính). | Cơ quan tố tụng hình sự: Cảnh sát môi trường (điều tra), Viện kiểm sát (truy tố), Tòa án (xét xử). |
3.3. Mối liên Hệ với công ước Basel
Việt Nam đã gia nhập Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới chất thải nguy hại và việc tiêu hủy chúng vào năm 1995. Đây là một văn bản pháp lý ràng buộc toàn cầu nhằm giảm thiểu việc vận chuyển bất hợp pháp chất thải nguy hại.
Mối liên hệ giữa pháp luật Việt Nam và Công ước Basel thể hiện rõ nét qua cơ chế "nội luật hóa" các nguyên tắc của Công ước. Công ước Basel dựa trên nguyên tắc "Prior Informed Consent" (PIC) – đồng ý trước có thông báo, yêu cầu các quốc gia xuất khẩu phải thông báo và nhận được sự đồng ý của quốc gia nhập khẩu và quá cảnh trước khi thực hiện vận chuyển. Việt Nam đã cụ thể hóa nguyên tắc này bằng các thủ tục hành chính phức tạp và chi tiết. Các quy định hiện hành yêu cầu doanh nghiệp phải có Giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường, văn bản thông báo về lô hàng, và các hợp đồng cụ thể với đơn vị xử lý tại nước ngoài khi nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất. Hành vi "đưa chất thải vào lãnh thổ trái pháp luật" theo Điều 239 BLHS chính là hành vi cố tình vi phạm nguyên tắc PIC này. Việc các đối tượng phạm tội làm giả giấy tờ như thông báo lô hàng và thông báo phong tỏa tài khoản, như trong vụ án Bến Tre, cho thấy chúng đã tìm cách lách qua các thủ tục đã được nội luật hóa này để thực hiện hành vi bất hợp pháp.
Sự liên kết này khẳng định rằng pháp luật Việt Nam đã có nền tảng vững chắc từ luật pháp quốc tế để đấu tranh với tội phạm môi trường xuyên biên giới. Thách thức không nằm ở thiếu cơ sở pháp lý, mà ở khả năng thực thi và phòng chống các thủ đoạn lách luật tinh vi.
4. Khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện
Một trong những khó khăn lớn nhất trong quá trình tố tụng là việc thu thập và giám định chứng cứ. Việc xác định chính xác thành phần, tính chất và khối lượng của chất thải đòi hỏi quy trình giám định phức tạp, thiếu tính thống nhất trong thực tiễn. Sự thiếu hụt các phòng thí nghiệm chuyên sâu và đội ngũ giám định viên đủ năng lực là rào cản lớn, khiến cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự trở nên khó khăn.
Mặc dù Điều 239 là tội phạm hình thức, việc chứng minh lỗi cố ý của người phạm tội vẫn gặp nhiều thách thức. Bên cạnh đó, các tranh cãi về việc định tội danh giữa Điều 239, Điều 235 (Gây ô nhiễm môi trường) và Điều 188 (Buôn lậu) vẫn thường xuyên xảy ra. Các cơ quan tố tụng có xu hướng lựa chọn các tội danh khác thay vì Điều 239, do các dấu hiệu cấu thành và chứng minh của Điều 239 còn chưa được hướng dẫn chi tiết, dẫn đến thiếu sự thống nhất trong thực tiễn xét xử
Sự thiếu vắng một nghị quyết hướng dẫn áp dụng chung từ Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là nguyên nhân chính gây ra tình trạng áp dụng pháp luật không đồng bộ giữa các Tòa án và Viện kiểm sát địa phương. Điều này tạo ra rào cản cho việc hình thành án lệ, gây khó khăn cho việc giải quyết các vụ án tương tự.
Ví dụ, các bản án thực tiễn đã được tuyên cho tội "Gây ô nhiễm môi trường" (Điều 235) tại các tỉnh Thanh Hóa, Lạng Sơn, Hà Nam (ví dụ, vụ án bị cáo Giang Xuân T tại Thanh Hóa hoặc các bản án sơ thẩm tại Hà Nam và Lạng Sơn ) cho thấy các tội danh môi trường khác đã được xử lý, trong khi các vụ án về "Đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam" ít được ghi nhận, làm nổi bật sự chênh lệch trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
Để nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm đưa chất thải trái phép vào Việt Nam, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
- Hoàn thiện thể chế TAND Tối cao nên sớm ban hành các án lệ hoặc văn bản hướng dẫn nghiệp vụ chuyên sâu về việc áp dụng Điều 239 BLHS, làm rõ các tình tiết phức tạp và cách thức xác định thiệt hại.
- Tăng cường phối hợp liên ngành cần thiết lập một cơ chế phối hợp chặt chẽ, thường xuyên hơn giữa Cảnh sát Môi trường, Hải quan, Biên phòng, Viện kiểm sát và các cơ quan quản lý nhà nước để kịp thời phát hiện và đấu tranh với các đường dây tội phạm có tổ chức.
- Nâng cao năng lực chuyên môn nhà nước cần đầu tư mạnh mẽ vào trang thiết bị, công nghệ hiện đại và đào tạo đội ngũ chuyên gia giám định môi trường để xác định chính xác định lượng, mức độ nguy hại của chất thải. Đồng thời, cần có cơ chế để các tổ chức, cá nhân bị thiệt hại dễ dàng hơn trong việc yêu cầu bồi thường.
- Ứng dụng công nghệ thông tin triển khai các hệ thống phân tích dữ liệu và rủi ro để phát hiện các dấu hiệu bất thường trong hồ sơ hải quan và giao dịch tài chính liên quan đến hoạt động nhập khẩu phế liệu, từ đó có thể ngăn chặn tội phạm từ sớm.
- Đẩy mạnh tuyên truyền và công khai tăng cường công khai các vụ án đã được xét xử để nâng cao nhận thức, giáo dục pháp luật và răn đe các đối tượng có ý định vi phạm.
Kết luận
Tội danh "Đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam" là một công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và an ninh quốc gia. Điều 239 BLHS 2015, sửa đổi 2017 đã xây dựng một khung pháp lý tương đối đầy đủ, với các dấu hiệu định lượng rõ ràng để truy cứu trách nhiệm hình sự cả đối với cá nhân và pháp nhân thương mại.
Tuy nhiên, hiệu quả thực thi của điều luật này vẫn còn nhiều hạn chế do các vướng mắc trong thực tiễn, từ khâu điều tra đến xét xử. Việc thiếu các văn bản hướng dẫn thống nhất từ cấp cao nhất đã tạo ra sự không đồng bộ trong việc áp dụng pháp luật. Hơn nữa, mức hình phạt, đặc biệt là phạt tiền, có thể chưa đủ sức răn đe trước lợi nhuận khổng lồ mà tội phạm này mang lại.
Để giải quyết các vấn đề này, cần có một cách tiếp cận toàn diện, bao gồm việc hoàn thiện các văn bản pháp luật, tăng cường năng lực cho các cơ quan tố tụng và đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc phòng chống loại tội phạm xuyên quốc gia này. Việc xử lý đúng người, đúng tội là yếu tố then chốt để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời là lời khẳng định mạnh mẽ về quyết tâm bảo vệ môi trường, bảo vệ tương lai của đất nước.
Trên đây là phần phân tích của chúng tôi có liên quan đến tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam, đây là tội được quy định rất rõ trong Bộ luật Hình sự 2015. Hi vọng rằng thông qua những thông tin và nội dung mà chúng tôi cung cấp thì các bạn đã có thêm thông tin về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam. Để biết và tránh vi phạm những quy định của pháp luật
Ngoài ra nếu các bạn còn có những câu hỏi thắc mắc có liên quan đến tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam thì có thể liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại của tổng đài tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến: 19006162 để được hỗ trợ một cách trực tiếp nhanh chóng.