1. Thời kỳ phong kiến 

Trong thời kỳ phong kiến, Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều Hình luật) năm 1483 được cho là bước đi đầu tiên xác định và xử lý các hành vi xâm phạm tới môi trường sống tự nhiên, cụ thể trong chương Tạp Luật (Điều 83) có quy định tội phạm về môi trường đó là hành vi xâm hại đến lúa mạ, hoa quả của quan hay dân để mưu đồ lợi ích cá nhân. Mặc dù bị hạn chế bởi quan niệm giai cấp, nhưng Bộ luật này cũng đã đưa ra nhiều quy định bảo vệ con người, trong đó có cả việc bảo vệ những tầng lớp thấp trong xã hội (như bảo vệ quyền dân chủ, tự do của dân định; hình phạt chống lại sự nô tỳ hóa đối với dân đinh...) và bảo vệ môi trường sống tự nhiên. Tuy nhiên, việc xác định các hành vi xâm phạm đến môi trường sống tự nhiên chỉ được ghi nhận một cách đơn giản về việc tác động, làm thay đổi kết cấu môi trường cũ và tập trung vào đối tượng gây thiệt hại là quan chức, quân dân sở tại với hình phạt là tội biếm hay đồ và bồi thường thiệt hại. 

 

2. Đến thế kỷ XX, khi nước ta bị thực dân Pháp đô hộ

Đến thế kỷ XX, khi nước ta bị thực dân Pháp đô hộ, pháp luật dần dần bị thay thế bởi các bộ hình luật riêng do thực dân Pháp ban bố, thi hành, trong đó có Hoàng Việt Hình luật (Bộ luật Gia Long) – BLHS thi hành ở Trung Kỳ năm Bảo Đại thứ 8 (1933). Trong đó, hành vi xâm phạm đến môi trường sống xung quanh (xâm chiếm, làm ô uế, làm hỏng các phố, ngõ, đường, lộ) cũng được quy định tại Quyển XXI, Công luật, Chương II, Điều 3 Bộ luật này. Những quy định này có giá trị cho hệ thống pháp luật đương đại trong việc yêu cầu các chủ thể có thẩm quyền phải xét xử nghiêm minh, tạo sự công bằng cho người dân, tránh bỏ lọt tội phạm và tránh oan sai. 

Trước khi có sự ra đời của BLHS năm 1985, Nhà nước ta hầu như chưa có quy định chính thức nào về các tội phạm về môi trường, trừ một vài văn bản pháp luật quy định về việc bảo vệ tài nguyên rừng (như Thông tư liên Bộ số 1303_BCNVVN ngày 28/6/1946 của Liên Bộ Nội vụ – Canh nông về việc bảo vệ rừng; Nghị định số 596/TTg ngày 3/10/1995 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về khai thác gỗ, củi). Như vậy, mặc dù pháp luật nước ta lúc bấy giờ đã có  sự nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ một trong những nguồn tài nguyên quý giá của đất nước bằng pháp luật hình sự, tuy nhiên những vấn đề khác về môi trường như dịch bệnh truyền nhiễm chưa được ghi nhận và điều chỉnh. Hơn nữa, vào thời điểm này những vấn đề về môi trường chưa đáng lo ngại như hiện nay. 

 

3. Vào những năm 1980

Vào những năm 1980, Nhà nước ta đã quan tâm hơn đến vấn đề bảo vệ môi trường. Đây chính là kết quả của việc thay đổi nhận thức về tầm quan trọng của môi trường đối với đời sống của con người. Mở đầu cho những hoạt động lập pháp có ý nghĩa đối với việc bảo vệ môi trường là việc tạo ra một cơ sở pháp lý quan trọng tại Điều 13 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980: “Các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải tạo môi trường sống”. 

 

4. Từ 01/01/1986 - 01/07/2000

Bước đầu nhận thức được chủ trương mang tính Hiến định này, các nhà làm luật khi xây dựng BLHS năm 1985 đã đưa vào đó một số điều luật quy định các tội phạm về môi trường, trong đó có các hành vi liên quan đến dịch bệnh, cụ thể tại Điều 195 về Tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng 

Việc quy định một số tội phạm có liên quan đến môi trường nêu trên đã cho thấy một bước phát triển mới trong nhận thức cũng như trong hành động của Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề bảo vệ môi trường bằng pháp luật hình sự. Tuy nhiên, quy định trên vẫn còn còn mang tính chất chung chung, cả về tội danh lẫn sự mô tả các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và chưa làm nổi bật mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với sức khỏe, tính mạng của con người. Vào thời điểm đó, BLHS năm 1985 chưa tiên liệu hết sự đa dạng cũng như tính chất nguy hiểm cho xã hội của một số hành vi xâm hại môi trường. Theo một nghiên cứu đánh giá: “BLHS năm 1985 chưa thể hiện được tính cấp bách và tầm quan trọng đặc biệt của việc đấu tranh với các hành vi xâm hại môi trường. Điều này không chỉ thể hiện qua việc BLHS năm 1985 chưa dành riêng một chương cho các tội phạm về môi trường, mà còn dễ dàng nhận thấy qua việc một số tội phạm về môi trường được gặp lại với những tội phạm khác và được hiểu không phải với tư cách là những tội phạm về môi trường”. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, với tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhanh như hiện nay, sự suy thoái nhanh của các thành tố môi trường cùng với các tác hại của nó đối với đời sống xã hội đang đặt ra một yêu cầu bức xúc cho việc bảo vệ môi trường sinh thái. 

 

5. Từ 01/07/2000 đến trước 01/01/2018

Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người được quy định tại Điều 186 Bộ luật hình sự 1999 và sau này là bộ luật hình sự sửa đổi 2009, theo đó, làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người là hành vi đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người; đưa vào hoặc cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng truyền cho người hoặc có hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người.

 

5.1 Về chủ thể

Chủ thể của tội phạm này vừa là chủ thể đặc biệt lại vừa không phải là chủ thể đặc biệt. Là chủ thể đặc biệt trong trường hợp người có hành vi cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng truyền cho người, vì chỉ những người có chức vụ, quyền hạn mới có thể có quyền “cho phép”. Các trường hợp còn lại không phải là chủ thể đặc biệt. Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật; người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này không phân biệt thuộc trường hợp quy định tại khoản nào của điều luật.

 

5.2 Về khách thể của tội phạm 

Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người là tội xâm phạm đến sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ của cộng đồng. Khác với các tội xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ của con người quy định tại Chương XII Bộ luật hình sự. Làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người chỉ như là một nguy cơ tiềm ẩn sự nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của nhiều người. Đối tượng tác động của tội phạm này là động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm đã bị nhiễm bệnh mà bệnh đó có khả năng lây lan sang người.  Động vật là các loài chim, thú, gia cầm, các loài tôm, cá, các loại côn trùng…được gọi chung là sinh vật có cảm giác và tự vận động được; Sản phẩm động vật là thực phẩm được chế biến từ động vật hay nói cách khác là sản phẩm có nguồn gốc từ động vật như: Thịt động vật, xương động vật, sữa, các bộ phận khác lấy từ động vật… Thực vật là các loại cây, rễ, củ, hoa, lá, quả, hạt… Sản phẩm thực vật là các loại sản phẩm được chế biến từ thực vật làm thức ăn cho người và gia súc hoặc phục vụ cho tiêu dùng, nghiên cứu khoa học như: dầu ăn, các loại nước được ép từ các loại hoa quả Vật phẩm khác là những đồ vật có mang mầm bệnh và bệnh đó là bệnh dịch có khả năng lây lan sang người như các bao bì đựng các sản phẩm được chế biến từ động vật, thực vật.

 

5.3 Về mặt khách quan của tội phạm 

Hành vi khách quan: Người phạm tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người có thể thực hiện một hoặc một số hành vi sau đây:

- Đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người.

- Đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh là vận chuyển động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người từ vùng đang có dịch bệnh đến vùng khác chưa có dịch bệnh.

- Vùng có dịch bệnh là khu vực (được giới hạn bởi đơn vị hành chính như một địa danh, một địa phương, một vùng lãnh thổ…) đang có dịch bệnh đã được cơ quan có thẩm quyền công bố ( Uỷ ban nhân dân các cấp, Bộ y tế hoặc Chủ tịch nước) trên các phương tiện thông tin đại chúng.

 - Động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng truyền dịch bệnh đã được cơ quan có thẩm quyền xác định là có khả năng truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người, cấm đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh, nhưng vẫn lén lút đưa ra khỏi vùng có dịch. 

- Khả năng truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người là dịch bệnh nguy hiểm tiềm ẩn trong động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có thể lây sang người, còn thực tế đã lây sang người hay chưa không phải dấu hiệu bắt buộc. Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng không cần phải xác định dịch bệnh đó đã lây lan sang người hay chưa mà chỉ cần xác định khả năng dịch bệnh đó có khả năng lây sang người hay không. Việc xác định này sẽ do cơ quan y tế có thẩm quyền thực hiện.

- Đưa vào hoặc cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng truyền cho người.

- Đưa vào hoặc cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng truyền cho người là hành vi nhập khẩu hoặc cho phép nhập khẩu vào Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng truyền cho người như: nhập gia cầm bị nhiễm bệnh sát (H5N1) từ Trung Quốc vào Việt Nam; nhập bò “điên” từ Úc vào Việt Nam v.v…   Hành vi này cũng tương tự như hành vi nhập khẩu hoặc cho nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, các chế phẩm sinh học, chế phẩm hoá học khác, các chất độc hại, chất phóng xạ hoặc phế thải không bảo đảm tiêu chuẩn bảo vệ môi trường quy định tại Điều 185 Bộ luật hình sự, chỉ khác ở đối tượng nhập vào Việt Nam là động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng truyền cho người, còn thủ đoạn, động cơ, mục đích của người phạm tội không có gì khác.

-  Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người: Nói chung đối với tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người, người phạm tội chủ yếu thực hiện một trong hai hành vi trên. Tuy nhiên, đề phòng lọt tội, nhà làm luật quy định bất cứ hành vi nào mà làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người đều bị xử lý bằng biện pháp hình sự nếu thoả mãn các yếu tố khác. Đây không chỉ đối với tội phạm này, mà nhiều tội phạm, sau khi liệt kê các hành vi cụ thể nhà làm luật còn quy định hành vi khác. Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người là ngoài hành vi đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người và hành vi đưa vào hoặc cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng truyền cho người thì bất cứ hành vi nào khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người đều bị coi là hành vi phạm tội này.

- Hậu quả : Đối với tội phạm này, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tội, tức là người phạm tội chỉ cần thực hiện một trong các hành vi khách quan là đã cấu thành tội phạm rồi, nếu có hậu quả xảy ra và hậu quả đó là rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 của điều luật. 

Các dấu hiệu khách quan khác: Đối với tội phạm này, ngoài hành vi khách quan, nhà làm luật không quy định thêm các dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, để xác định đúng hành vi phạm tội thì các cơ quan tiến hành tố tụng không thể không nghiên cứu các quy định của Nhà nước, đặc biệt là của Bộ y tế về dịch bệnh, lan truyền dịch bệnh, các quy định khác về công bố dịch bệnh. 

 

5.4 Về mặt chủ quan của tội phạm 

Người thực hiện hành vi phạm tội này là do cố ý, tức là nhận thức được hành vi của mình là làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người nhưng vì những động cơ khác nhau mà vẫn thực hiện hành vi mà pháp luật cấm.

 

6. Từ 01/01/2018 đến nay

Tội danh này được quy định tại Điều 240 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

 

6.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này có thể là chủ thể bình thường hoặc là chủ thể đặc biệt, tùy thuộc vào dạng hành vi khách quan cụ thể mà chủ thể thực hiện. Trong trường hợp hành vi tdiách quan là hành vi “cho phép đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người” hoặc là hành vi “cho phép đưa vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng lây truyền cho người”, chủ thể của tội phạm là chủ thể đặc biệt. Người phạm tội ở đây phải là người có trách nhiệm trong việc cho phép đưa ra khỏi vùng có dịch động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người, hoặc là người có trách nhiệm trong việc cho phép đưa từ nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng lây truyền cho người.

Trong trường hợp khác, chủ thể của tội phạm là chủ thể thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS. 

 

6.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm này được quy định có thể là các dạng sau:

Thứ nhất, hành vi đưa ra hoặc cho phép đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh các đối tượng được xem là trung gian truyền bệnh sau:

+ Động vật (bao gồm động vật trên cạn và động vật dưới nước như gia súc, gia cầm, cá, tôm,...);

+ Thực vật và sản phấm của nó như rau, nấm, hoa quả,...;

+ Sản phẩm động vật (các loại sản phẩm có nguồn gốc từ động vật như thịt, trứng, nội tạng,...);

+ Sản phẩm thực vật (các loại sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật như bột ngũ cốc, dầu thực vật,...);

+ Vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người như chuồng nuôi nhốt động vật nhiễm bệnh, dụng cụ giết mổ,...

- Vùng có dịch bệnh được hiểu là khu vực được cơ quan có thẩm quyền xác định là có dịch  - tức là có “sự xuất hiện bệnh truyền nhiễm với số người mắc bệnh vượt quá số người mắc bệnh dự tính bình thường trong một khoảng thời gian xác định ở một khu vực nhất định” . Bệnh truyền nhiễm là “bệnh lây truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ người hoặc từ động vật sang người do tác nhân gây bệnh truyền nhiễm”  như bệnh Sars, cúm A-H5N1, bệnh dịch hạch,... Vùng có dịch ở đây có thể ở phạm vi nhỏ như một làng, một xã hoặc ở phạm vi lớn hon như thị trấn, thị xã hay tỉnh, thành phố. Hành vi trên đây có thể không bị coi là hành vi khách quan của tội phạm này khi được pháp luật cho phép mà trong điều luật thể hiện là “trừ trường hợp pháp luật có quy định khác ra, hoặc cho phép đưa ra là hợp pháp mà không phải là hành vi khách quan của tội phạm này (khoản 1 Điều 56 Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm).

Thứ hai, hành vi đưa hoặc cho phép đưa từ nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh (như gia cầm bị cúm H5N1, thịt bò điên,...) hoặc (không bị nhiễm bệnh) nhưng mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng lây truyền cho người. Ví dụ: Vi rút Hanta là loại vi rút không gây bệnh trên cơ thể chuột nhưng những con chuột mang vi rút này có thể lây bệnh cho người thông qua vết cắn, hoặc tiếp xúc với dịch tiết ra từ chúng như phân, nước tiểu,... (Vi rút này gây bệnh viêm phổi hoặc sốt xuất huyết kèm theo suy thận ở người). 

Thứ ba, hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người. Đây là các hành vi không thuộc hai loại hành vi trên nhưng có tính nguy hiểm là làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người như hành vi không tiêu huỷ động vật, thực phẩm và các vật khác có nguy cơ làm lây lan bệnh dịch sang người, không thực hiện việc xử lý y tế đối với phương tiện vận tải trước khi ra khỏi vùng có dịch, không tiến hành các biện pháp cách ly y tế - tức là “tách riêng người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm hoặc vật có khả năng mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nhằm hạn chế sự lây truyền bệnh”. 

 

6.3 Dấu hiệu hậu quả của tội phạm

Hậu quả được quy định ở đây là “làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người”. Trong đó, làm lây lan có thể hiểu là làm cho các bệnh truyền nhiễm lây truyền từ người này qua người khác và lan rộng ra. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn xác định cụ thể như thế nào là lan rộng? Bao nhiêu người bị lây thì bị coi là lan rộng? Do vậy, các cơ quan chức nărig cần ban hành văn bản hướng dẫn về vấn đề này.

Hậu quả “làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người” có nguyên nhân là hành vi khách quan được điều luật mô tả.

- Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, có thể làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người nhưng vẫn thực hiện.

Động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội danh này. Trường họp người phạm tội thực hiện hành vi nhằm mục đích “gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng” thì hành vi cấu thành tội khủng bố (Điều 299 BLHS) (dạng khủng bố bằng vũ khí sinh học hay còn gọi là khủng bố sinh học - bioterrorism) hoặc mục đích chống chính quyền nhân dân thì hành vi cấu thành tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113 BLHS).

Xem thêm: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định mới nhất năm 2023

Tội vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ bị phạt thế nào?

Tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo luật hình sự?

Trên đây là nội dung tư vấn về “Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người qua các thời kỳ đến nay" trường hợp còn điều gì thắc mắc vui lòng gọi 19006162 hoặc gửi qua email lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ giải đáp thắc mắc