1. Khái quát hoạt động đầu tư, đầu tư nước ngoài

Hoạt động đầu tư gồm có đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.

Đối với tiêu chí để xác định chủ yếu căn cứ vào yếu tố chủ thể của hoạt động đầu tư là cá nhân, tổ chức trong nước hay cá nhân, tổ chức nước ngoài.

- Đầu tư do cá nhân, tổ chức thực hiện tại quốc gia mà họ mang quốc tịch hoặc thường trú được gọi là đầu tư trong nước;

- Đầu tư của cá nhân, tổ chức vào quốc gia mà họ không có quốc tịch hoặc không thường trú thì được gọi là đầu tư nước ngoài (đầu tư quốc tế).

Trong khoa học pháp lý có khá nhiều cách hiểu về đầu tư nước ngoài, tùy thuộc vào khía cạnh nhìn nhận khác nhau của quá trình này và chúng được thể hiện ở cả pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia.

Theo nội luật của nhiều quốc gia, khái niệm đầu tư nước ngoài hoặc được định nghĩa rõ ràng hoặc gộp với định nghĩa về đầu tư nói chung (bao gồm cả đầu tư trong nước và đầu tư nựớc ngoài).

Ví dụ, theo Luật Đầu tư của năm 2007 (Inđônêxia) quy định, “đầu tư nước ngoài” là hoạt động đầu tư để kinh doanh trên lãnh thổ của nước Cộng hòa Inđônêxia được thực hiện bởi một nhà đầu tư nước ngoài cả bằng hình thức 100% vốn nước ngoài và tham gia vào hên doanh với nhà đầu tư trong nước.

Tuy nhiên, Luật Đầu tư năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2015 theo Luật Khí tượng thủy văn; năm 2016 theo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có đỉều kiện của Luật Đầu tư; năm 2017 theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; năm 2018 theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật có hên quan đến quy hoạch; năm 2019 theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật sở hữu trí tuệ thì không có định nghĩa riêng về đầu tư nưổc ngoài mà gộp chung vào định nghĩa “đầu tư kinh doanh”.

Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm “đầu tư nước ngoài” được ghi nhận trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam của năm 1987, sửa đổi, bổ sung năm 1990, 1992. Mặc dù có khác biệt về nội hàm, khái niệm này tiếp tục được ghi nhận trong luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, sửa đổi, bổ sung năm 2000 và Luật Đầu tư năm 2005.

Ở góc độ pháp luật quốc tế, hầu hết các điều ước quốc tế định nghĩa đầu tư bằng cách liệt kê các tài sản, quyền tài sản được nhà đầu tư nước ngoài đưa (chuyển) vào quốc gia sở tại để thực hiện quá trình đầu tư sinh lời của mình thì được gọi là các khoản đầu tư. Pháp luật đầu tư một số quốc gia cũng định nghĩa theo cách này.

Ví dụ, Luật Đầu tư năm 2016 (Mianma) quy định, tại Mục 40 liệt kê các tài sản, quyền tài sản được coi là khoản đầu tư và theo Mục 2 của Luật này thì đầu tư nước ngoài là việc đầu tư trực tiếp tại Mianma đôì với các khoản đầu tư nêu tại Mục 40 nói trên do những cá nhân, tổ chức không có quốc tịch Mianma thực hiện.

Tại Điều 18 Luật Đầu tư nước ngoài năm 2014 (Cuba) cũng quy định các loại tài sản, quyền tài sản được coi là khoản đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ Cuba. Một số hiệp định gần đây không chỉ xác định đầu tư dựa trên cơ sở các loại tài sản mà còn nêu ra những đặc điểm chung của đầu tư như cam kết về vốn, kỳ vọng về thu nhập hay lợi nhuận hoặc có rủi ro. Ví dụ: Hiệp định đầu tư và toàn diện trong ASEAN (xem chú thích số 2 của điểm c Điều 4). Loại tài sản nào không có những đặc điểm như vậy thì không được coi là đầu tư. Yếu tố nước ngoài được xác định theo quốc tịch của chủ thể tiến hành đầu tư kinh doanh.

Tuy vậy, dù có hay không có định nghĩa cụ thể về đầu tư nước ngoài trong pháp luật, dường như các quốc gia đều quan niệm giống nhau về đầu tư nước ngoài, theo đó là việc bỏ vốn của cá nhân, tổ chức để thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh hợp pháp tại quốc gia mà họ không mang quốc tịch hoặc không phải là người thường trú.

 

Thời gian qua, tình hình đầu tư nước ngoài có nhiều thay đổi. Các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi, kể từ nám 2010 đang là các điểm thu hút FDI nhiều nhất (trên 55% dòng vôh FDI của thế giới, theo thống kê của UNCTAD năm 2010).

Các nền kinh tế mới nổi không chỉ là nơi nhận FDI chủ yếu mà nhà đầu tư của nước họ cũng đang tích cực đầu tư ra nước ngoài. Trong khi các nước này trước đây thường xem xét ký kết các điều ước quốc tế về đầu tư từ góc độ nước nhận đầu tư thì giờ đây họ cũng có quyền lợi với tư cách là nước mà nhà đầu tư nước ngoài mang quốc tịch.

Đây là cơ hội để các quốc gia đang phát triển như Việt Nam đưa ra các chính sách khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài chiến lược, tận dụng ưu thế của quốc gia đang phát triển để thu hút đầu tư nước ngoài.

 

2. Bối cảnh chính trị và kinh tế ảnh hưởng đến chính sách đàu tư các quốc gia

Chính sách đầu tư nước ngoài của mỗi nưốc thường được đưa ra trong bối cảnh chính trị và kinh tế nhất định. Trong thập kỷ qua, các chính sách này đều chịu ảnh hưởng của một loạt các cuộc khủng hoảng như khủng hoảng an ninh lương thực, khủng hoảng môi trường và phải đối mặt với nhiều thách thức xã hội, đặc biệt là xóa đói giảm nghèo.

Những cuộc khủng hoảng đó có ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức định hình chính sách các nước ở cấp độ toàn cầu.

Sự tham gia của các nước đang phát triển là điều kiện tiên quyết thực hiện bất cứ giải pháp nào để vượt qua các thách thức toàn cầu. Cuộc khủng hoảng tài chính đã thúc đẩy vai trò của các chính phủ, nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, cả ở nước đang phát triển và nước phát triển. Thực tế đã chứng minh không một quốc gia nào có thể giải quyết các thách thức này độc lập mà bắt buộc phải hợp tác với nhau. Các vấn đề kinh tế và chính trị và các thách thức, do đó, được đặt trong bối cảnh toàn cầu và cần phải được giải quyết trên cơ sở coi các vấn đề môi trường và xã hội làm trọng tâm. Chính sách phát triển kinh tế của các quốc gia phản ánh xu hưóng nêu trên, trong đó chính sách đầu tư nước ngoài là một phần quan trọng

 

3. Xu hướng chính sách đầu tư các quốc gia trên thế giới

Các chính sách đầu tư nước ngoài chiến lược của các nước trên thế giới hiện nay đang đi theo xu hướng thúc đẩy các công ty trong nước tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chains) thông qua việc nâng cao năng lực địa phương trong xây dựng, nâng cấp công nghệ và các hoạt động xúc tiến đầu tư, như thành lập các đặc khu kinh tế.

Các chính phủ ngày càng tập trung vào chất lượng đầu tư mà không theo đuổi số lượng như trước đây. Chính vì thế, chính sách đầu tư nước ngoài của các quốc gia cần phải tăng cường minh bạch và thông nhất.

 

4. Sự thay đổi chính sách pháp luật về đầu tư nước ngoài

Có một số thay đổi quan trọng trong chính sách pháp luật về đầu tư nước ngoài trên thế giối.

- Thứ nhất, trưóc đây việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và an sinh xã hội chưa được quan tâm đúng mức trong chương trình nghị sự quốc tế.

Tuy nhiên, ngày nay các mục tiêu này đã trở thành các nguyên tắc hướng dẫn được công nhận rộng rãi cho tất cả các chính sách của các nước đang phát triển và các nước phát triển, bao gồm cả trong hoạch định chính sách đầu tư của quốc gia. Theo đó các chính sách đầu tư và các điều ước quốc tế về đầu tư không còn được xây dựng một cách độc lập mà phải hài hòa với mục tiêu phát triển bền vững.

Yêu cầu đối với đầu tư nưóc ngoài, vì thế, được quy định chặt chẽ hơn. Các quốc gia tập trung vào khuyến khích các khoản đầu tư không gây hại đến môi trường, mang lại lợi ích cho xã hội, thúc đẩy bình đẳng giối và giúp nâng cao chuỗi giá trị toàn cầu. Các hoạt động đầu tư được đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế, như các nguyên tắc hướng dẫn của Liên hợp quốc về kinh doanh và nhân quyền, các nguyên tắc của OECD về các công ty đa quốc gia được sửa đổi và các nguyên tắc của các tổ chức đa phương như: FAO, WB, UNCTAD, IFID về đầu tư nông nghiệp gắn với trách nhiệm cụ thể. Ngoài các tiêu chuẩn do các tổ chức quốc tế phát triển, các nước có xu hướng ban hành thêm pháp luật trong nước để quy định trách nhiệm của các doanh nghiệp đối vối xã hội.

- Thứ hai, sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, các nước tăng cường điều tiết và điều hành nền kinh tế quốc gia. Trong khi vốn từ khu vực tư nhân vẫn là nguồn lực chính cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu và xu hướng đổi mới, các chính phủ đang chuyển sang cách tiếp cận kiểm soát nhiều hơn thay vì xu hướng mở cửa tự do ít kiểm soát như trưốc đây.

Các chính sách phát triển công nghiệp phổ biến ở các nưóc phát triển và các nước đang phát triển. Những chiến lược này thường bao gồm các yếu tố thúc đẩy hoặc hạn chế đầu tư theo các mục tiêu nhất định và đòi hỏi sự thống nhất, minh bạch cao. Xu hướng can thiệp nhiều hơn vào hoạt động kinh tế và chỉ đạo đầu tư thể hiện rõ ở những quy định có tác dụng hạn chế kiểm soát đầu tư nước ngoài ngày càng gia tăng trong thập kỷ qua. Xu hướng này tái khẳng định quan điểm của những người theo chủ nghĩa tân hiện thực rằng nếu thị trường không được kiểm soát sẽ làm phát sinh nhiều chi phí kinh tế và chi phí xã hội.

Tuy nhiên nếu chính phủ đặt ra quá nhiều quy định hạn chế thì lại dễ dẫn tới chủ nghĩa bảo hộ gây cản trở cho sự lưu thông của các dòng vốh đầu tư nước ngoài.

 

5. Kết thúc vấn đề

Trong bối cảnh này, các IIA góp phần làm cho các quan hệ đầu tư nước ngoài trở nên dễ dự đoán, ổn định và minh bạch hơn, giúp chuyển đổi phương pháp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, từ biện pháp bảo hộ ngoại giao chuyển sang các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng các thiết chế tài phán trên cơ sở pháp luật. Các HA giúp cải thiện các khuôn khổ và thể chế pháp lý trong nước bằng cách thúc đẩy các nguyên tắc pháp luật và nâng cao năng lực quản lý đầu tư của nhà nước. Ngoài ra, các IIA còn giúp giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư nước ngoài và góp phần cải thiện môi trưòng đầu tư. Như vậy, các IIA tạo thuận lợi cho đầu tư xuyên quốc gia và trở thành một phần của chương trình hội nhập kinh tế rộng lớn và nếu được quản lý đúng cách, các điều ước quốc tế về đầu tư có thể giúp các quốc gia đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).