1. Khái quát chung về Bảo hiến

1.1. Khái niệm và vị trí hoạt động của Bảo hiến

Khái niệm: Bảo hiến (hay còn được gọi là bảo vệ hiến pháp hoặc tài phán hiến), là thẩm quyền của các tòa án của một quốc gia được xem xét đánh giá tính hợp hiến của các đạo luật hoặc quyết định của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Vị trí hoạt động của Bảo hiến:

+ Giữa các nhà nghiên cứu luật hiến pháp trên thế giới còn diễn ra tranh luận về vị trí của hoạt động bảo hiến trong hệ thống quyền lực nhà nước, về bản chất của các cơ quan đại diện cho chế định này.

+ Một số người cho rằng hoạt động bảo hiến pháp là một phần của quyền lực tư pháp. Ví dụ như theo ý kiến của J.I.Ovsepian, “ các toà án hiến pháp đều thuộc về nhánh quyền lực tư pháp mà không phụ thuộc vào việc chúng được nhắc đến ở đâu trong bản văn hiến pháp”.

+ Những người khác cho rằng hoạt động bảo hiến nằm ngoài ba nhánh quyền lực, mặc dầu không hoàn toàn là “ quyền lực thứ tư”. Như nhà hiến pháp học người Pháp L.Favoreu nhận xét, “hôm nay ở phần lớn các nước theo mô hình của Kelsen đều thừa nhận hoạt động bảo hiến nằm ngoài ba nhánh quyền lực, bảo đảm sự tuân thủ các quyền hạn của mỗi nhánh trong phạm vi của mình”.

+ Ý kiến thứ ba xem xét giám sát bảo hiến với nghĩa rộng của khái niệm này, bao hàm cả những hình thức khác như sự giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ bên cạnh sự giám sát bảo hiến của toà án, như một quyền lực đặc biệt – quyền lực giám sát

Tuy vậy, không phụ thuộc vào việc đánh giá vị trí của hoạt động bảo hiến pháp, các cơ quan thực hiện hoạt động bảo hiến đều có những đặc thù phân biệt chúng với các toà bình thường( trong đó có những toà đặc biệt như toà hành chính), cũng như với các cơ quan nhà nước – chính trị như nghị viện, chính phủ.

1.2. Vai trò của Bảo hiến

Thứ nhất, hoạt động bảo hiến dù với hình thức hiến định nào chăng nữa đều thực hiện những nhiệm vụ chung về bảo vệ hiến pháp: bảo đảm sự ổn định và tối cao của hiến pháp, sự tuân thủ những mối quan hệ hữu cơ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước, bảo vệ những quyền và tự do hiến định của con người.

Thứ hai, trong pháp luật nước ta, từ lâu đã có các cơ chế bảo đảm thực thi và bảo vệ Hiến pháp với những tính chất, mức độ và cách thức khác nhau. Trong đó, cơ chế bảo vệ Hiến pháp có tính chất nhà nước do các cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện như: Chủ tịch nước, Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Chính phủ, Ủy ban nhân dân, Tòa án, Viện kiểm sát. Tuy nhiên, bảo vệ Hiến pháp bằng các thiết chế có tính chuyên môn hay chuyên trách (Tòa án Hiến pháp, Hội đồng bảo hiến…) mới là sự thể hiện rõ rệt về tính chất pháp quyền của nhà nước. Song, tính cho đến thời điểm hiện nay, một cơ chế bảo vệ Hiến pháp có tính chuyên môn hay chuyên trách vẫn chưa được tổ chức ở nước ta. Đòi hỏi phải nâng cao và phát huy hơn nữa vai trò của cơ chế bảo vệ Hiến pháp đang đặt ra bức thiết hơn bao giờ hết kể từ khi chúng ta quyết định xây dựng một nhà nước pháp quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 

2. Các mô hình bảo hiến cơ bản

Thứ nhất, mô hình phi tập trung hoá

+ Mô hình bảo hiến của Mỹ là điển hình cho mô hình này. Kiểm tra tư pháp ở Mỹ đặc biệt được xem như chức năng tự nhiên của cơ quan tư pháp. Ở Mỹ, mặc dù sự kiểm tra tư pháp là một công cụ quyền lực mạnh nhất của toà án liên bang, nhưng điều này không được quy định trong Hiến pháp. Toà án tối cao liên bang Mỹ đã tự nhận cho mình  vai trò kiểm tra tư pháp với một lối suy luận pháp lý.

+ Hệ thống kiểm tra tư pháp của Mỹ được thiết lập ở tất cả các toà án. Không có một toà án đặc biệt hay loại toà án nào có độc quyền tư pháp để kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật – cả toà án liên bang lẫn toà án tiểu bang đều có quyền kiểm tra tính hợp hiến của luật. Do đó, người ta gọi đây là mô hình bảo hiến phi tập trung hoá.

Thứ hai, mô hình tập trung hoá

+ Mô hình bảo hiến của Đức là điển hình cho mô hình này. Ngược lại, kiểm tra tư  pháp ở các nước Châu Âu được thực thi bởi một toà án đặc biệt độc lập với hệ thống tư  pháp thường và giữ độc quyền tái phán về các vấn đề hiến pháp. Khác với hệ thống Mỹ, ở Châu Âu, có phổ biến những loại hình khiếu kiện khác nhau như hành chính, dân sự, thương mại, xã hội, hoặc hình sự được giải quyết bởi những toà án thường khác nhau. Khiếu kiện hiến pháp được phân biệt với các loại khiếu kiện khác và được giải quyết theo cách riêng. Kết quả là kiểm tra tư pháp ở Châu Âu được thực hiện bởi một toà án đặc biệt theo những quy trình đặc biệt không theo những yêu cầu của sự khiến kiện thông thường. Trong hệ thống bảo hiến tập trung hoá, khi hành xử quyền tài phán hiến pháp, nguyên tắc chung là Toà án hiến pháp có quyền tuyên bố huỷ bỏ điều khoản bất hợp hiến của một đạo luật, hoặc văn bản quy phạm pháp luật bất hợp hiến. Qua đây có thể thấy một tính chất đặc biệt của phán quyết của Toà án hiến pháp là nó có giá trị như một đạo luật.

Thứ ba, mô hình bảo hiến bởi các tòa án thường.

+ Đây là mô hình bảo hiến phi tập trung (Decentralised constitutional control). Mô hình bảo hiến phi tập trung được xây dựng trên cơ sở học thuyết phân chia và kiềm chế đối trọng giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp.

+ Hệ thống các cơ quan toà án không những có chức năng xét xử các hành vi vi phạm pháp luật của các công dân mà còn có chức năng kiểm soát, hạn chế quyền lực của các cơ quan lập pháp và hành pháp.

+Theo đó, khi Tổng thống ban hành một sắc lệnh, Chính phủ ban hành một nghị định, Nghị viện ban hành một văn bản luật trái với nội dung hay tinh thần của Hiến pháp thì phải có một cơ quan nào đó làm vô hiệu hoá các văn bản này. Cơ quan làm được chức năng này là Toà án.

- Các đặc điểm cơ bản của hệ thống này bao gồm:

+ Tất cả các Toà án đều có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật.

+ Quyền bảo hiến gắn với việc giải quyết một vụ việc cụ thể (Concrete judicial review).

+ Quyền bảo hiến chỉ được xem xét khi có sự liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của đương sự đề nghị xem xét tính hợp hiến của đạo luật đó.

T+ oà án chỉ tuyên bố một đạo luật là vi hiến khi sự bất hợp hiến của đạo luật đó được chứng minh rõ ràng và không thể phủ nhận được.

+ Toà án không xem xét vấn đề hợp hiến của một đạo luật khi đạo luật đó liên quan đến một số vấn đề chính trị như tổ chức công quyền và vấn đề ngoại giao….

+ Khi một đạo luật bị tuyên bố là vi hiến thì đạo luật đó không còn giá trị áp dụng.

Thứ tư, mô hình bảo hiến Tòa án Hiến pháp.

Toà án hiến pháp Áo trong thể chế chính trị cộng hoà Áo, Cộng hoà Áo được thành lập năm 1918 sau sự sụp đổ nền quân chủ Áo - Hung. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đất nước Áo bị phát xít Đức chiếm đóng, đến năm 1955, sau khi bản Hòa ước quốc gia Áo và bốn nước đồng minh được ký kết thì nước Áo mới chính thức tuyên bố là một quốc gia độc lập, có chủ quyền lãnh thổ và trung lập vĩnh viễn. Những đặc điểm chính của mô hình Toà án Hiến pháp Áo như sau: Là một cơ quan được thành lập theo quy định của Hiến pháp, với vị trí là một cơ quan chuyên trách, hoạt động trên nguyên tắc công khai, độc lập, quyết định theo đa số, với nhiệm vụ trọng tâm là bảo vệ Hiến pháp. Thông qua nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của mình, Toà án Hiến pháp Áo đã thể hiện được vai trò giữ thế ổn định và cân bằng quyền lực trong toàn hệ thống chính trị; đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp và tạo sự thống nhất cao trong toàn hệ thống pháp luật và pháp chế trong hoạt động của các cơ quan nhà nước Cộng hoà Áo.

Thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp bao gồm:

+ Kiểm tra tính hợp hiến đối với các đạo luật và điều ước quốc tế

+ Về nguyên tắc, Tòa án Hiến pháp Áo có thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp đối với tất cả các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật cũng như đối với các văn bản hành chính. Nhưng trên thực tế thì Tòa án Hiến pháp Áo chỉ sử dụng thẩm quyền kiểm tra đối với các văn bản quy phạm pháp luật như là một hoạt động chính của mình.

+ Toà án Hiến pháp Áo cũng có thẩm quyền quyết định tính hợp pháp và hợp hiến đối với các điều ước quốc tế. Tuy nhiên, từ khi được quy định cho đến nay thì quyền năng này lại chưa bao giờ được sử dụng trên thực tế.

+ Kiểm tra trước - kiểm tra thẩm quyền

+ Kiểm tra sau - kiểm tra nội dung

Thứ năm, mô hình Hội đồng Hiến pháp.

Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình Hội đồng Hiến pháp gắn liền với sự ra đời và phát triển của Hội đồng Hiến pháp Cộng hòa Pháp. Mô hình này được coi là một sự sáng tạo lớn của các nhà lập pháp thuộc nền Cộng hòa thứ V.

Sau khi Hội đồng Hiến pháp đầu tiên được thành lập tại Pháp vào năm 1958, cùng với bản Hiến pháp mới của nền Cộng hòa thứ V, mô hình bảo hiến của Pháp đã trở thành mô hình giám sát hiến pháp tiêu biểu của châu Âu mà các nhà luật học thường gọi là mô hình giám sát Hiến pháp kiểu Pháp. Dựa trên mô hình này, nhiều quốc gia đã thành lập Hội đồng Hiến pháp của mình như Kazakhstan, Algeria, Campuchia… Đây cũng là một trong những mô hình cơ quan bảo hiến được cho là phù hợp với nguyên tắc và mô hình tổng thể tổ chức bộ máy Nhà nước ở nước ta.

3. Tình huống thực tiễn thông qua vụ Marbury kiện Madison

Tóm tắt: Vụ án nổi tiếng Marbury kiện Madison năm 1803 đã xác lập được quyền phán quyết tính hợp hiến của các văn bản luật và văn bản dưới luật của Tòa án. Vụ kiện đã đặt Tòa án tối cao vào thế khó khi mà dù phán quyết bảo vệ cho bên nào thì Tòa án tối cao cũng là nhân tố chịu rủi ro cao nhất. Nếu Toà án yêu cầu cơ quan hành pháp trao quyền cho Marbury thì rất có thể Tổng thống sẽ từ chối và uy tín của TATC vì thế có thể sẽ giảm sút. Còn ngược lại, nếu Toà án khước từ yêu cầu này thì vô hình trung đã công khai thừa nhận tư pháp không có quyền gì đối với hành pháp. Trước tình thế đó, Chánh án John Marshall đã tuyên bố TATC liên bang không có quyền giải quyết vấn đề này, mặc dù Mục 13 của Đạo luật tư pháp liên bang trao cho Toà án thẩm quyền trong lĩnh vực đó nhưng quy định này trái với Điều 3 của Hiến pháp Hoa Kỳ 1787 vì Điều 3 của Hiến pháp Hoa kỳ quy định về quyền tư pháp không hề có quy định nào trao cho TATC quyền này. Ông cho rằng Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước và có hiệu lực pháp lý tối cao. Vì vậy khi một đạo luật thông thường trái với Hiến pháp thì đạo luật đó phải bị tuyên bố là vô hiệu.

Giải quyết vụ án Marbury - Madison 1803, Chánh án TATC Marshall đã đưa ra các tuyên bố sau:

(i) Hiến pháp là luật tối cao của đất nước;

(ii) Những luật hay quyết định được đưa ra bởi cơ quan lập pháp là một bộ phận của Hiến pháp và không được trái với Hiến pháp;

(iii) Thẩm phán, người đã từng tuyên thệ bảo vệ Hiến pháp, phải tuyên bố huỷ bỏ những luật, lệ quy định nào của cơ quan lập pháp mâu thuẫn với Hiến pháp.

Nhận xét:

 Như vậy, 3 tuyên bố trên đây đã xác lập chức năng bảo hiến của Toà án và quyền tài phán của Toà án về các quyết định của lập pháp và hành pháp liên quan đến Hiến pháp. Phán quyết này đã góp phần quan trọng trong thực hiện cơ chế chung để bảo vệ Hiếp pháp. Từ đây, TATC liên bang trở thành một bộ phận thứ ba, quan trọng trong bộ ba kiểm soát và cân đối mọi vấn đề của đất nước, không bị rơi vào tình trạng chỉ như một hình bóng, vô thực. Quyền bảo hiến của Toà án Hoa Kỳ không những được thể hiện bởi việc xem xét và tuyên bố bất kỳ một đạo luật nào đó do Quốc hội làm ra là vi hiến mà còn thể hiện ở việc có quyền xem xét và tuyên bố bất kỳ một quyết định nào đó của Tổng thống và Chính phủ là vi hiến.

 Là một quốc gia xây dựng bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân chia quyền lực một cách rạch ròi, Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên trên thế giới trao cho các Toà án quyền phán quyết về tính hợp hiến của các văn bản luật và văn bản dưới luật. Mặc dù trong Hiến pháp Hoa Kỳ không có quy định nào trao cho Toà án quyền giám sát tính hợp hiến của các văn bản luật và dưới luật, tuy nhiên quyền giám sát Hiến pháp của TATC Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là một trong những nét đặc sắc của nền chính trị Hoa Kỳ.

 

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên tập)