1. Tổng quan về tổ chức thương mại thế giới

Thương mại quốc tế có lịch sử lâu đời. Từ thời trung cổ đã có hoạt động giao lưu buôn bán giữa các quốc gia trong phạm vi từng khu vực cũng như giữa Đông và Tây. Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến sự bùng nổ của thương mại quốc tế, gắn liền với chủ nghĩa thực dân cũ cướp bóc và nô dịch thuộc địa.

1.1. HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI ĐA PHƯƠNG: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT

1.1.1. Thương mại quốc tế và hội nhập toàn cầu

Trong suốt các thế kỷ 16, 17 và 18, lý thuyết trọng thương có vai trò thống trị trong việc giải thích về thương mại quốc tế. Thế kỷ 19 với sự ra đời của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, nhất là lý thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo, thương mại thế giới đã được dẫn dắt theo một chiều hướng khác: chuyên môn hóa và trao đổi, điều đó sẽ mang lại lợi ích cho các quốc gia tham gia thương mại quốc tế và cho nền kinh tế thế giới.

Hệ thống thương mại đa phương đã được thiết lập cùng với việc ký kết Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại vào năm 1947 (GATT 1947). Các lý thuyết thương mại quốc tế đã dẫn dắt và cổ vũ cho xu hướng tự do hóa thương mại trong hệ thống thương mại đa phương. Kể từ năm 1948 đến nay, thương mại quốc tế đã có những bước phát triển nhảy vọt. Năm 1948, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của thế giới đạt 58 tỷ USD và tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 62 tỷ USD. Các con số tương ứng về tổng kim ngạch xuất khẩu và tổng kim ngạch nhập khẩu của năm 1980 là 2.034 tỷ USD và 2.075 tỷ USD, năm 1990 là 3.449 tỷ USD và 3.550 tỷ USD, năm 2000 là 6.452 tỷ USD và 6.724 tỷ USD, và năm 2005 là 10.431 tỷ USD và 10.783 tỷ USD1.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi:1900.6162

Những thập kỷ gần đây đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của toàn cầu hóa. Xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra do nhu cầu hợp tác ngày càng gia tăng giữa các quốc gia trên thế giới. Toàn cầu hóa nói chung đã thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế. Ngược lại trên thực tế thương mại quốc tế, đặc biệt với sự xuất hiện của hệ thống thương mại đa phương, đã có đóng góp rất quan trọng trong việc đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hóa. Theo tác giả Bordo, Taylor và Williamson 2, đứng trên giác độ sự vận động của các luồng thương mại, vốn và di cư, trong lịch sử cận đại đã có bốn làn sóng toàn cầu hóa với những đặc trưng khác nhau. Làn sóng thứ nhất diễn ra từ năm 1870 cho đến khi bắt đầu chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Làn sóng thứ hai diễn ra trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới. Làn sóng thứ ba diễn ra từ năm 1945 cho đến khoảng năm 1980. Làn sóng thứ tư từ năm 1980 cho đến nay.

Đặc trưng của làn sóng toàn cầu hóa thứ nhất là việc giảm chi phí vận tải nhờ sự phát triển của hệ thống đường sắt và vận tải biển và việc giảm các rào cản thương mại. Nhờ đó thương mại quốc tế được mở rộng mạnh mẽ thông qua việc trao đổi hàng hóa ở khoảng cách xa hơn và xuyên lục địa. Thời kỳ này còn chứng kiến sự di chuyển vốn quốc tế và những làn sóng di cư từ châu Âu sang châu Mỹ và châu Úc.

Thời kỳ của làn sóng toàn cầu hóa thứ hai là thời kỳ của những rối loạn và khủng hoảng kinh tế. Chủ nghĩa bảo hộ đã làm suy giảm thương mại và di chuyển vốn quốc tế. Trong làn sóng toàn cầu hóa thứ ba tự do hóa thương mại được phục hồi dẫn đến sự tăng trưởng vượt bậc của thương mại và đầu tư quốc tế. Tuy nhiên trong khi thương mại giữa các nước phía Bắc (các nước công nghiệp phát triển) được tự do hóa một cách căn bản thì thương mại Bắc-Nam còn bị ngăn cản bởi những rào cản cả ở các nước đang phát triển và các nước công nghiệp, nhất là đối với các sản phẩm nông nghiệp và các sản phẩm công nghiệp nhẹ. Thương mại Bắc-Bắc chủ yếu là thương mại nội bộ ngành còn thương mại Nam- Bắc chủ yếu là thương mại của việc trao đổi khoáng sản và nông sản để đổi lấy các mặt hàng công nghiệp.

Ở làn sóng toàn cầu hóa thứ tư, các rào cản thương mại Nam-Bắc được dỡ bỏ một cách đáng kể và các nước đang phát triển tham gia mạnh mẽ vào thương mại quốc tế. Đặc trưng nữa của giai đoạn này là thương mại của thế giới tăng trưởng nhanh hơn GDP của thế giới. Cơ cấu thương mại cũng có sự thay đổi một cách căn bản. Rất nhiều nước đang phát triển đã thoát khỏi tình trạng xuất khẩu nông sản và khoáng sản để đổi lấy hàng công nghiệp. Bởi vậy tỷ trọng hàng công nghiệp chế tạo trong hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển đã tăng lên một cách đáng kể. Trong giai đoạn này đầu tư nước ngoài cũng có những tăng trưởng vượt bậc. Tuy nhiên thành quả toàn cầu hóa không phải được chia đều cho các nước đang phát triển. Nhiều nước đang phát triển và kém phát triển chưa tham gia mạnh mẽ và có hiệu quả vào quá trình toàn cầu hóa, do vậy chưa được hưởng lợi nhiều từ toàn cầu hóa. Một số nghiên cứu cho rằng toàn cầu hóa hiện nay đang có dấu hiệu chững lại.3

Như vậy toàn cầu hóa bên cạnh việc mang lại những lợi ích và cơ hội phát triển mới cho các quốc gia còn làm nảy sinh những khó khăn và thách thức cho các nước, đặc biệt là các nước nghèo. Những khó khăn và thách thức nổi bật đó là làm thế nào để phát triển năng lực sản xuất một cách bền vững, cần đa dạng hóa sản xuất như thế nào để bù đắp lại sự suy giảm của hệ số thương mại, bằng cách nào để đáp ứng được nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng, làm thế nào để khai thác những tiến bộ khoa học và công nghệ để đẩy nhanh sự phát triển. Các tổ chức quốc tế cũng như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đang có những nỗ lực giúp các nước nghèo được hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hóa.

1.1.2. Thương mại và các hiệp định thương mại

Mục này sẽ phân tích các lý do về mặt kinh tế khiến một nước tham gia các hiệp định Thương mại quốc tế và trình bày một cách tổng quan về lịch sử của các hiệp định Thương mại quốc tế cũng như vai trò của chúng đối với thương mại quốc tế. Các hiệp định Thương mại quốc tế đã có lịch sử lâu đời, tuy nhiên với mục tiêu của cuốn sách, tác giả chỉ giới hạn sự xem xét của mình ở trình bày các hiệp định Thương mại được ký kết sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II. Đồng thời trong phạm vi của chương này, tác giả cũng không đi sâu trình bày các qui tắc của GATT và WTO liên quan đến các hiệp định Thương mại khu vực, bởi vì nhiệm vụ này sẽ được giải quyết ở các chương sau của cuốn sách.

Trên góc độ kinh tế, có hai lý do chính để một nước tham gia các hiệp định Thương mại quốc tế:

Thứ nhất, xét về mặt lịch sử, trước Chiến tranh Thế giới lần thứ II, các nước đua nhau bảo hộ thương mại và thực thi các chính sách mà kinh tế học quốc tế gọi là “chính sách lợi mình hại người” (beggar-thy- neighbor, các chính sách biến hàng xóm thành kẻ ăn mày). Các hiệp định Thương mại đa phương được ký kết sau chiến tranh có thể giúp các nước giảm thiểu được ảnh hưởng tiêu cực của các chính sách này, cũng có nghĩa là tăng lợi ích của các nước tham gia Hiệp định thương mại. Sự giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực và tăng lợi ích đó có được nhờ sự ràng buộc của việc thực thi các cam kết và các qui tắc trong GATT và WTO. Chẳng hạn như là việc thực thi các cam kết giảm thuế, đặt ra các ràng buộc về thuế quan, dỡ bỏ hạn ngạch, giảm thiểu các rào cản phi thuế quan, thực thi nguyên tắc không phân biệt đối xử, minh bạch và có thể dự đoán, ưu đãi hơn cho các nước đang và kém phát triển v.v…

Thứ hai, việc tham gia các hiệp định Thương mại sẽ thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế, làm cho thương mại trở thành một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế. Điều đó được minh chứng bởi các lý thuyết kinh tế học cũng như thực tiễn phát triển kinh tế của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Bên cạnh đó trên thực tế các Chính phủ thường gặp nhiều khó khăn khi đưa ra một quyết sách về thương mại liên quan đến khu vực tư nhân. Những quyết sách đó có thể ảnh hưởng tới quyền lợi của một nhóm lợi ích. Chẳng hạn quyết định giảm bo hộ bằng cách giảm thuế nhập khẩu và cho phép phía nước ngoài gia nhập thị trường nội địa tự do hơn. Những quyết định như vậy thường gặp phải sự chống đối mãnh liệt của các doanh nghiệp trong nước. Trong trường hợp này việc tham gia các hiệp định quốc tế sẽ giúp Chính phủ dễ dàng hơn trong việc đưa ra các quyết định, các chính sách về thương mại liên quan đến khu vực tư nhân. Đây cũng là một lý do quan trọng của việc gia nhập WTO của Việt Nam cũng như của nhiều nước khác.

Hợp tác thương mại truyền thống trước Chiến tranh Thế giới lần thứ II chủ yếu là hợp tác song phương giữa các quốc gia với nhau. Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II xuất hiện thêm các hình thức hợp tác mớilà hợp tác thương mại khu vực và hợp tác thương mại đa phương. Hợp tác thương mại khu vực và hợp tác thương mại song phương (một hình thức của hợp tác thương mại khu vực) có vai trò bổ sung và củng cố cho hợp tác thương mại đa phương. Nhờ đó hệ thống thương mại hoạt động có hiệu quả hơn và trở thành một động lực quan trọng của tăng trưởng và phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển của các hợp tác thương mại khu vực và hợp tác thương mại song phương cũng đặt ra những thách thức đối với hệ thống thương mại đa phương, như việc quản trị mối quan hệ giữa các hợp tác thương mại khác trong hệ thống thương mại đa phương, sự ưu tiên lựa chọn của các nước Thành viên đối với hợp tác song phương và hợp tác khu vực khi đàm phán trong hệ thống thương mại đa phương rơi vào bế tắc.

Các hình thức hợp tác thương mại khác nhau nêu trên được củng cố và phát triển nhờ các hiệp định thương mại. Một cách tổng quan, các hiệp định Thương mại được phân ra các hiệp định Thương mại đa phương và các hiệp định Thương mại ưu đãi hay các hiệp định Thương mại khu vực (gồm Hiệp định Thương mại của khu vực thương mại tự do, liên minh hải quan, liên minh kinh tế). Căn cứ để phân loại các hiệp định Thương mại này là nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN), hay nói đúng hơn là cách thức thực thi nguyên tắc MFN, của GATT và WTO. Hiệp định Thương mại đa phương dựa trên qui tắc chung của nguyên tắc tối huệ quốc, có nghĩa là khi một nước mở cửa thị trường cho một Thành viên thì phải mở cửa thị trường ngay lập tức và không điều kiện cho tất cả các Thành viên khác mà không yêu cầu phải có sự đàm phán của mọi đối tác thương mại. Tuy nhiên qui tắc tối huệ quốc cũng cho phép được duy trì các ngoại lệ ưu đãi hơn trong các hiệp định Thương mại khu vực (RTAs) mà các nước đã ký với nhau trước khi gia nhập GATT/WTO. Đối với các hiệp định Thương mại khu vực, việc thực thi nguyên tắc MFN đạt được thông qua đàm phán và thỏa thuận của mọi đối tác thương mại để đi đến một Hiệp định chung.

Các hiệp định Thương mại đa phương gắn liền với việc ra đời của GATT 1947. Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại được ký kết vào năm 1947 có thể coi là Hiệp định Thương mại đa phương đầu tiên. Việc kết thúc Vòng đàm phán Uruguay vào năm 1994 dẫn đến sự ra đời của WTO đã đánh dấu một bước phát triển về chất của hệ thống Hiệp định Thương mại đa phương. Trong khuôn khổ của WTO, một loạt các hiệp định đa phương và các hiệp định nhiều bên đã được ký kết và có hiệu lực trên thực tế. Các hiệp định này đã tạo cơ sở pháp lý cũng như thể chế hoá và củng cố hệ thống thương mại đa phương.

Vai trò của các hiệp định Thương mại khu vực đối với thương mại khu vực thể hiện ở hai điểm: thứ nhất, nó khuyến khích tự do hoá thương mại; thứ hai, nó tạo cơ sở pháp lý cho việc ra đời các khối thương mại. Cơ sở pháp lý cho việc ra đời các khối thương mại còn được củng cố nhờ các qui tắc của GATT và WTO. Trong GATT (cũng như trong các hiệp định của WTO) có các điều khoản ngoại lệ về ưu đãi khi thực hiện nguyên tắc MFN. Điều XXIV của GATT còn đưa ra các điều kiện cho việc hình thành các liên minh hải quan và khu vực thương mại tự do.

Một trong các khối thương mại ra đời sớm nhất vào năm 1951 là Cộng đồng than thép châu Âu (ESCC), gồm sáu nước Đức, Hà Lan, Bỉ, Lucxembourg, Ý và Pháp. ESCC phát triển thành Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) vào năm 1958. Với việc ký kết Hiệp định Maastricht để thành lập Liên minh châu Âu (EU) vào năm 1992, EU đã ra đời thay thế EEC và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 1 tháng 11 năm 1993. Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) được ký kết vào năm 1992 dẫn đến sự ra đời của khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ gồm Canada, Mỹ và Mêhicô. Năm 1992 các nước ASEAN ký kết Hiệp định thành lập khu vực thương mại do ASEAN (AFTA). Hiệp định chính thức có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 1993. Đến nay khu vực thương mại tự do ASEAN, về cơ bản, đã hình thành với việc bảy nước ASEAN (Thái Lan, Xingapore, Indonesia, Malaysia, Brunây, Philippines và Việt Nam) đã hoàn thành chương trình cắt giảm thuế quan đối với hầu hết các hàng hóa trừ một số ít hàng hóa thuộc diện tạm thời chưa cắt giảm và loại trừ hoàn toàn. Các khối thương mại và kinh tế điển hình khác gồm: Cộng đồng Andex (ANCOM), Liên minh châu Phi (AU), Thị trường chung Trung Mỹ (CACM), Cộng đồng và thị trường chung Caribê (CARICOM), Cộng đồng kinh tế và tiền tệ Trung Mỹ (CEMAC), Thị trường chung Đông và Nam Phi (COMESA), Cộng đồng Đông Phi (EAC), Cộng đồng kinh tế của các quốc gia Trung Phi (ECCAS), Khu vực thương mại tự do các nước châu Mỹ (FTAA), Khu vực thương mại tự do Mỹ latinh (LAFTA), Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR),

Hiệp định Thương mại của các quốc đảo Thái Bình Dương (PICTA), và Cộng đồng hợp tác khu vực Nam Á (SAARC). Sự gia tăng ký kết các hiệp định Thương mại khu vực đã làm cho thương mại nội vùng trở nên rất quan trọng, chiếm tới 40% nhập khẩu của thế giới vào năm 2000 và 50% vào năm 20054.

Hiệp định Thương mại song phương là Hiệp định được ký kết giữa hai thực thể chính trị, bởi vậy chỉ có giá trị ràng buộc hai bên ký kết. Các quốc gia và các khối kinh tế – thương mại chủ chốt của thế giới hiện nay như Mỹ, EU, Nhật Bản, Singapore, v.v… đều có khuynh hướng coi trọng ký kết các hiệp định Thương mại song phương và Hiệp định Thương mại tự do song phương. Mỹ đã ký kết các hiệp định Thương mại tự do với nhiều nước như Israel, Jordanie, Morocco, Chilê, Singapore, Hàn Quốc, Úc.5 Đến nay EU đã ký các hiệp định Thương mại tự do với nhiều nước và vùng lãnh thổ như Đan Mạch, Thụy Sỹ, Mêhicô, Nam Phi, Israel v.v…6 Ở Đông Á, các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Hiệp định khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA). Để xúc tiến việc thi hành Hiệp định này, các nước ASEAN và Trung Quốc đã thống nhất thực hiện chương trình thu hoạch sớm (EHP). Khi khu vực thương mại tự do này trở thành hiện thực thì đây sẽ là khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới.

Việt Nam, theo Vụ Pháp chế, Bộ Thương mại, đến nay đã ký kết 74 Hiệp định Thương mại song phương với các nước và vùng lãnh thổ. Trong số các hiệp định đó, Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) là một trong các hiệp định có vai trò quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng thương mại của Việt Nam. Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết vào tháng 7 năm 2000 và có hiệu lực vào tháng 12 năm 2001. Với Hiệp định này, thuế suất đánh vào hàng hoá nhập khẩu từ Việt Nam trong biểu thuế của Hoa Kỳ đã chuyển từ cột

2 (không ưu đãi MFN) sang cột 1 ở mức ưu đãi chung (MFN), với mức giảm bình quân khoảng 40%. Bởi vậy BTA đã tạo ra sự nhảy vọt trong xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ, và Hoa Kỳ hiện nay là nước nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam. Hiện nay Việt Nam đang xúc tiến đàm phán để ký kết Hiệp định Thương mại tự do với Nhật Bản.

1.1.3. Chức năng của hệ thống thương mại đa phương

Như đã nhắc tới ở phần trên, với việc ký kết Hiệp định GATT, hệ thống thương mại đa phương đã chính thức được khai sinh. Đây là hệ thống thương mại có phạm vi toàn cầu với sự tham gia của các nước và các nền kinh tế của các châu lục. Khác với thương mại khu vực và thương mại song phương, được điều chỉnh bởi các qui tắc được qui định trong các hiệp định Thương mại khu vực và song phương, hệ thống thương mại đa phương được điều chỉnh bởi các qui tắc được qui định trong GATT trước đây và trong các hiệp định của WTO ngày nay. Hệ thống thương mại đa phương có các chức năng cơ bản sau:

- Xóa bỏ sự phân biệt đối xử. Việc xóa bỏ sự phân biệt đối xử này được bảo đảm bằng qui tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) và đối xử quốc gia (NT) được quy định trong Hiệp định GATT năm 1947 và trong các hiệp định của WTO. Không phân biệt đối xử đặc biệt có lợi cho các nước đang phát triển và kém phát triển, là những nước có vị thế yếu trên trường thương mại quốc tế.

- Ràng buộc các nước Thành viên trong một khuôn khổ chung bởi các qui tắc tự do hóa thương mại. Thực tế từ năm 1947 đến nay hệ thống thương mại đa phương đã vận hành theo xu hướng này thông qua việc các Thành viên của WTO thống nhất cắt giảm các rào cản thương mại và mở cửa thị trường.

- Giải quyết các tranh chấp thương mại. Trước Chiến tranh Thế giới lần thứ II, chủ nghĩa bảo hộ hoành hành dẫn đến nguy cơ không thể giải quyết được một cách hiệu quả các tranh chấp thương mại. Hệ thống thương mại đa phương, do vậy, có chức năng kiểm soát các tranh chấp thương mại phát sinh trong hệ thống. Trên thực tế, việc thực thi các cam kết trong khuôn khổ của GATT và nhất là WTO đã xây dựng những cơ chế có hiệu quả để thực hiện chức năng này.

- Hỗ trợ phát triển. Hệ thống thương mại đa phương tạo ra những cơ chế phù hợp để mang lại lợi ích và các cơ hội phát triểncho các Thành viên, đặc biệt là các Thành viên đang phát triển và kém phát triển. Tham gia vào hệ thống thương mại đa phương, các Thành viên đang phát triển và kém phát triển sẽ có cơ hội được hưởng những đối xử bình đẳng và cả những quy định có tính đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang và kém phát triển. Điều đó sẽ tạo ra những động lực mới cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các nước này.

1.1.4. Lịch sử hình thành WTO

Trong lịch sử phát triển của mình, thương mại quốc tế đã trải qua những giai đoạn thăng trầm và bị chi phối nặng nề bởi chủ nghĩa bảo hộ. Thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919-1939), thương mại quốc tế bị đình trệ do các biện pháp bảo hộ được áp dụng một cách tràn lan. Thuế nhập khẩu cao là một đặc trưng nổi bật của thời kỳ này. Điển hình là Đạo luật thuế quan Smooth Hawley năm 1930 của Mỹ. Trước khi Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực, xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ cũng bị áp thuế suất theo đạo luật này. Các biện pháp phi thuế quan được áp dụng phổ biến đã tạo ra những rào cản ngăn cản thương mại tự do. Điều đó dẫn đến sự trả đũa và tình trạng không kiểm soát được việc áp dụng các công cụ bảo hộ của chính sách thương mại quốc tế. Hệ quả của nó là các cuộc chiến tranh thương mại và sự suy thoái của thương mại quốc tế ở thập niên 30 của thế kỷ XX.

Vào thời điểm sắp kết thúc Chiến tranh Thế giới lần thứ II, các quốc gia chủ chốt trên thế giới đã có những nỗ lực nhằm thiết lập những định chế đa phương để giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu như duy trì hòa bình thế giới và giải trừ quân bị, hỗ trợ công cuộc tái thiết và phát triển, thúc đẩy thương mại quốc tế. Những nỗ lực đó đã dẫn đến sự ra đời của một loạt các tổ chức quốc tế còn hoạt động đến ngày nay như Liên hiệp quốc, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB).

Về vấn đề thương mại quốc tế, xu hướng đẩy mạnh tự do hóa thương mại đã nổi lên mạnh mẽ ngay khi chiến tranh vừa kết thúc. Vào tháng 12/1945, đã có 15 nước bắt đầu bàn thảo về giảm thuế quan và đặt ràng buộc thuế quan (binding). Tiếp theo đã có hơn 50 nước tham gia đàm phán về việc thành lập một tổ chức, gọi là Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO). ITO dự kiến hoạt động với tư cách là một cơ quan chuyên môn của Liên hiệp quốc. Bản Hiến chương về việc thành lập ITO, Hiến chương Havana, đã được soạn thảo tại Hội nghị Havana (Cuba) khai mạc vào ngày 21/11/1947, và hoàn tất cũng tại Havana vào tháng 03/1948. Tuy nhiên Hiến chương Havana đã không được nhiều nước, trong đó có Hoa Kỳ, thông qua. Do vậy ITO đã không thể hình thành với tư cách là một tổ chức thương mại quốc tế.

Bên cạnh việc đàm phán thành lập ITO, 23 nước đã tiến hành đàm phán về thương mại quốc tế và vào ngày 30 tháng 10 năm 1947, đã đi đến ký kết Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). GATT bao gồm một bộ các qui tắc về thương mại và thỏa thuận cắt giảm đối với 45.000 dòng thuế. 23 nước ký kết GATT được gọi là các bên ký kết (CONTRACTING PARTIES). GATT chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/1948 với việc 8 trong số 23 Bên ký kết, trong Nghị định thư về việc thực hiện tạm thời Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại (Protocol of Provisional Application of the General Agreement on Tariffs and Trade), đã đồng ý tạm thời thực hiện GATT. Các bên ký kết khác sau đó cũng đã sớm cam kết thực hiện GATT. Với lý do đó GATT vẫn được coi là một Hiệp định tạm thời, nhưng thực tế đã tồn tại gần nửa thế kỷ (từ năm 1948 đến khi WTO ra đời vào năm 1995), về thương mại và thuế quan trong khi chờ đợi một tổ chức quốc tế về thương mại thay thế nó. Tuy không phải là một tổ chức quốc tế về thương mại nhưng GATT là một Hiệp định được soạn thảo và dự định sẽ vận hành trong khuôn khổ của ITO, nếu ITO ra đời và đi vào hoạt động. Mặc dù cuối cùng không đạt tới dự kiến ban đầu đó, nhưng việc ký kết GATT đã dẫn đến sự ra đời của hệ thống thương mại đa phương và đồng thời tạo ra các qui tắc cho hệ thống thương mại đó. Các qui tắc đó tiếp tục được hoàn thiện và phát triển qua tám vòng đàm phán của GATT.

Suốt 47 năm tồn tại của mình, GATT đã có vai trò quản trị hệ thống thương mại đa phương và có những đóng góp to lớn cho sự tăng trưởng vượt bậc của thương mại quốc tế. Vai trò quản trị thương mại toàn cầu của GATT được thực hiện thông qua hai chức năng cơ bản. Thứ nhất, với tính chất là một đạo luật quốc tế, GATT qui định các nghĩa vụ chung buộc các bên ký kết phải tính đến trong quá trình hoạch định chính sách thương mại của mình. Ngoài ra, với việc thực thi các nghĩa vụ và qui tắc được qui định trong GATT cũng như trong các văn kiện sau này đạt được thông qua các vòng đàm phán, các bên ký kết trên thực tế đã chịu sự điều phối chung của GATT. Thứ hai, GATT đã tạo ra một diễn đàn cho các cuộc đàm phán thương mại đa phương.

Tổng cộng GATT có tám vòng đàm phán. Thời gian và nội dung cơ bản của các vòng đàm phán đó được trình bày ở Bảng 1.1 dưới đây:

Bảng 1.1. Các vòng đàm phán thương mại của GATT

Năm

Địa điểm/tên

Nội dung

Số nước tham gia

1947

Geneva

Thuế quan

23

1949

Annnecy

Thuế quan

13

1951

Torquay

Thuế quan

38

1956

Geneva

Thuế quan

26

1960-1961

Geneva

(Vòng Dillon)

Thuế quan

26

1964-1967

Geneva

(Vòng Kennedy)

Thuế quan và các biện pháp chống bán phá giá

62

1973-1979

Geneva

(Vòng Tokyo)

Thuế quan, các biện pháp phi thuế quan, các hiệp định khung

102

1986-1994

Geneva

(Vòng Uruguay)

Thuế quan, các biện pháp phi thuế quan, các qui tắc, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, nông nghiệp, thành lập WTO v.v…

123

Nguồn: http://www.wto.org/english/thewto_e/whatis_e/tife_/fact4 _e.htm

Như vậy, các nội dung đàm phán của GATT đã được mở rộng từ vòng đàm phán thứ nhất tới vòng đàm phán thứ tám. Năm vòng đàm phán đầu chỉ chuyên về cắt giảm thuế quan. Đàm phán trong thời kỳ này

tiến hành theo cách thức song phương và song song, mỗi nước đàm phán song phương cùng một lúc với nhiều nước. Tuy nhiên, ngoài việc cắt giảm thuế quan, vào năm 1961 trong khuôn khổ của GATT đã đạt được Hiệp định ngắn hạn cho phép áp đặt hạn ngạch đối với xuất khẩu hàng dệt may. Hiệp định ngắn hạn này đến năm 1962 trở thành Hiệp định dài hạn và được áp dụng cho đến khi nó được thay thế bằng Hiệp định Đa sợi (MFA) vào năm 1974. Vòng đàm phán Kennedy đã đạt tới việc cắt giảm đến 50% thuế quan của các ngành công nghiệp chủ yếu, chỉ trừ một số ngành đặc biệt. Về mức thuế, Vòng đàm phán này đã cắt giảm bình quân được 35%. Vòng đàm phán Kennedy đã đưa vào vấn đề chống bán phá giá và đã đạt được một Hiệp định chống bán phá giá của GATT. Vòng đàm phán Tokyo tiếp tục các nỗ lực cắt giảm thuế quan đã đưa vào một công thức cắt giảm thuế quan phức tạp hơn so với Vòng Kennedy, với ưu tiên cắt giảm thuế đỉnh. Kết quả là đã cắt giảm bình quân một phần ba mức thuế quan ở chín thị trường công nghiệp chủ chốt của thế giới, nhờ đó thuế suất bình quân đối với các sản phẩm công nghiệp giảm xuống chỉ còn 4,7%. Ngoài ra, sự cắt giảm thuế đỉnh còn làm giảm đáng kể sự khác biệt về mức thuế giữa các dòng thuế. Bên cạnh đó một loạt các hiệp định về các biện pháp phi thuế quan cũng đã đạt được trong Vòng đàm phán này.

Vòng đàm phán Uruguay kéo dài suốt tám năm và được coi là Vòng đàm phán thương mại lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Quá trình đàm phán diễn ra không hề suôn sẻ, nhiều khi tưởng chừng đổ vỡ, nhưng cuối cùng đã đi đến thành công. Chương trình nghị sự lúc đầu của Vòng đàm phán này gồm 15 vấn đề được đưa ra đàm phán gồm: thuế quan, các rào cản phi thuế quan, tài nguyên thiên nhiên, dệt may, nông nghiệp, sản phẩm nhiệt đới, các điều khoản của GATT, các văn kiện của Vòng đàm phán Tokyo, chống bán phá giá, trợ cấp, sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư, giải quyết tranh chấp, hệ thống GATT và dịch vụ. Trong quá trình đàm phán, nội dung đàm phán đã được mở rộng ra hầu như tất cả các vấn đề liên quan đến thương mại. Đàm phán đã đi đến ký kết một bộ văn kiện toàn diện về thương mại quốc tế, với nội dung thương mại được mở rộng sang cả lĩnh vực dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Vòng đàm phán này cũng đã đạt tới sự thành công về cải cách thể chế thông qua việc thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hiến chương của WTO, Hiệp định Marrakesh, đã được ký kết vào ngày 15/04/1994. WTO chính thức được khai sinh vào ngày 01/01/1995. WTO đặt trụ sở tại Geneva, Thụy Sĩ.

1.1.5. Lợi ích từ hợp tác thương mại toàn cầu đối với Việt Nam

Hợp tác thương mại toàn cầu bao gồm cả hợp tác thương mại song phương, hợp tác thương mại khu vực và hợp tác thương mại đa phương. Tuy có những khác biệt nhất định giữa các hình thức hợp tác này nhưng chúng có điểm chung là đều hướng tới tự do hoá thương mại. Có thể đánh giá lợi ích của hợp tác thương mại toàn cầu dựa trên quan điểm của kinh tế học quốc tế và dựa trên thực tế thương mại quốc tế. Lợi ích đó có thể được khái quát ở những điểm sau:

- Hưởng những đối xử ưu đãi mà các đối tác thương mại dành cho nhau, nhờ đó mở rộng thị trường cho việc xuất khẩu các sản phẩm sản xuất trong nước. Việc mở rộng thị trường thông qua thương mại quốc tế giúp các ngành có thể tăng hiệu suất theo qui mô, giảm chi phí sản xuất bình quân, nhờ đó tăng hiệu quả sản xuất và kinh doanh. Trong hợp tác thương mại khu vực ASEAN, việc thực hiện Chương trình Thuế quan Ưu đãi có Hiệu lực Chung (CEPT) đã dẫn tới tạo ra khu vực thương mại tự do ASEAN. Về lý thuyết, tham gia khu vực thương mại tự do có thể dẫn đến hiệu ứng tạo lập thương mại cho các nước thành viên, mở rộng thị trường trong khu vực. Việc ký kết Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ rõ ràng đã giúp mở rộng đáng kể thị trường xuất khẩu của Việt Nam như được nói tới ở phần trên. Trở thành Thành viên của WTO, Việt Nam được hưởng những đối xử ưu đãi của các Thành viên theo nguyên tắc tối huệ quốc. Dự kiến điều đó sẽ dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ của xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.

- Thương mại quốc tế giúp nền kinh tế Việt Nam chuyên môn hoá sản xuất sâu hơn, tận dụng được lợi thế so sánh. Nhờ hợp tác thương mại toàn cầu, Việt Nam đã, đang và sẽ khai thác có hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên, lao động và đất đai. Hiện nay, khu vực sản xuất hướng về xuất khẩu của Việt Nam đã tạo ra hàng triệu việc làm cho người lao động. Nếu không có thương mại quốc tế, Việt Nam không thể đạt được sản lượng cao như hiện nay ở các ngành sản xuất lúa gạo, cà phê, cao su, may mặc, giày da v.v… Hợp tác thương mại, do vậy, giúp tăng thu nhập quốc dân cũng như thu nhập của người dân, góp phần xoá đói giảm nghèo, biến đổi bộ mặt của đất nước.

- Hợp tác thương mại toàn cầu hướng tới thương mại tự do và nỗ lực giảm thiểu các rào cản thương mại. Điều đó sẽ cho phép các nền kinh tế Thành viên giảm chi phí sản xuất, giảm giá bán đối với bán thành phẩm và thành phẩm dùng cho sản xuất và dịch vụ, giảm giá hàng tiêu dùng, do vậy giảm được chi phí sinh hoạt. Nhờ thương mại quốc tế những người tiêu dùng cũng như các nhà sản xuất sẽ có thêm cơ hội lựa chọn hàng hóa, dịch vụ cho tiêu dùng cũng như các sản phẩm đầu vào và dịch vụ phục vụ cho sản xuất. Điều đó được minh chứng qua thực tiễn của Việt Nam trong suốt hai thập kỷ qua, mặc dù Việt Nam mới chỉ là Thành viên chính thức của WTO từ tháng 01/2007.

- Thương mại quốc tế là một động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Trong số các nhân tố góp phần vào tăng trưởng kinh tế như cầu tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu thì đối với Việt Nam cũng như Trung Quốc, xuất khẩu có vai trò cực kỳ quan trọng. Trong suốt những thập niên gần đây, tốc độ tăng xuất khẩu của Việt Nam luôn lớn hơn tốc độ tăng GDP. Đóng góp của thương mại đối với tăng trưởng kinh tế có được thông qua việc thương mại đã góp phần mở rộng qui mô sản xuất, ứng dụng công nghệ tiên tiến, tận dụng các nguồn lực của nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài v.v…

- Được đối xử bình đẳng hơn trong các tranh chấp thương mại quốc tế. Trong hợp tác thương mại đa phương, các hiệp định của WTO đã đưa ra nguyên tắc bình đẳng trong thương mại quốc tế và các qui tắc giải quyết tranh chấp. WTO còn lập ra các Cơ quan Giải quyết tranh chấp với những quy định ưu đãi dành cho các Thành viên đang phát triển. Nguyên tắc có đi có lại hay hai bên cùng có lợi và cả nguyên tắc đối xử tối huệ quốc cũng được lấy làm nền tảng của hợp tác thương mại song phương hay khu vực. Giải quyết tranh chấp trong loại hình hợp tác này tuy được dựa trên các điều luật quốc tế nhưng những điều luật đó đều phù hợp và phần lớn đều dựa trên các nguyên tắc và Hiệp định của WTO. Do vậy hợp tác thương mại toàn cầu sẽ cho phép Việt Nam hưởng sự đối xử bình đẳng trong giải quyết tranh chấp.

- Hợp tác thương mại toàn cầu giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế cả về mặt kinh tế lẫn chính trị. Trong hợp tác thương mại đa phương, với vị trí là Thành viên của WTO, Việt Nam có thể có tiếng nói của mình trong các diễn đàn cũng như các cuộc đàm phán thương mại đa phương để hoạch định chính sách thương mại quốc tế. Trong hợp tác thương mại khu vực, Việt Nam có điều kiện để khẳng định vai trò và bảo vệ các lợi ích của mình trong khu vực. Hợp tác song phương góp phần tạo ra mối quan hệ bình đẳng giữa Việt Nam với các nước khác trên thế giới.

- Thúc đẩy cải cách kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh. Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển nói: “Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới tạo ra nhiều cơ hội. Cơ hội lớn nhất là bằng cải cách hệ thống luật pháp và thể chế kinh tế, chúng ta đã tạo ra môi trường kinh doanh, đầu tư tốt hơn… khuyến khích mọi người dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh, giải phóng năng lực của chính họ”6. Khi tham gia hợp tác thương mại khu vực và song phương, đặc biệt khi là Thành viên của WTO, Việt Nam phải cải cách thể chế kinh tế cho phù hợp với các qui tắc chung cũng như các cam kết trong khối hoặc song phương. Nhờ đó môi trường kinh doanh trở nên minh bạch, có thể dự đoán và hấp dẫn hơn đối với các doanh nghiệp trong nước cũng như nước ngoài. Với trách nhiệm thực thi các qui tắc của WTO và các cam kết với tổ chức này, Việt Nam sẽ không thể trì hoãn mà phải đẩy mạnh các cải cách một cách toàn diện. Tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp quốc doanh sẽ phải đẩy nhanh hơn, các thành phần kinh tế phải được đối xử một cách bình đẳng v.v… Những cải cách kinh tế sẽ kéo theo các cải cách và sự hoạt động có hiệu quả hơn của các cơ quan chính quyền các cấp. Thực hiện nguyên tắc minh bạch và không phân biệt đối xử của WTO sẽ góp phần chống tham nhũng một cách có hiệu quả.

- Tham gia hợp tác thương mại đa phương cũng như khu vực Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ kết quả đàm phán chung. Trong khuôn khổ WTO, nếu Vòng đàm phán Doha kết thúc thành công, Việt Nam sẽ thu được lợi ích từ các cam kết mở cửa thị trường, đặc biệt là từ việc giảm thuế và cắt giảm trợ cấp đối với hàng nông sản của các nước công nghiệp.

(phần 1)

MKLAW FIRM sưu tầm

(LUATMINHKHUE.VN: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Các thỏa thuận loại bỏ các rào cản phi thuế quan trong ASEAN, APEC và WTO ? Quyền Sở hữu trí tuệ sau khi gia nhập WTO ?

2. Cải cách thủ tục hành chính từ khi Việt Nam gia nhập WTO đến nay

Gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là sự cam kết mạnh mẽ về sự phát triển kinh tế thị trường và điều đó đòi hỏi phải có những cải cách mạnh mẽ hơn nữa đối với các thủ tục hành chính, tạo môi trường thông thoáng để các tổ chức, doanh nghiệp và người dân phát triển sản xuất, kinh doanh.

Ngày 7-11-2006, Việt Nam chính thức gia nhập WTO, trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này. Việc gia nhập WTO cho thấy, Việt Nam đã sẵn sàng cho việc hội nhập hoàn toàn và đầy đủ vào nền kinh tế thế giới, đánh dấu vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời cũng tạo những điều kiện thuận lợi để Việt Nam đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tuy nhiên, cùng với những thuận lợi có được khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức và phải cam kết thực hiện nhiều quy định mang tính chất ràng buộc của tổ chức này. Ngoài các nội dung thuộc lĩnh vực kinh tế, Việt Nam phải cam kết xóa bỏ những quy định mang tính chất mệnh lệnh, hành chính ảnh hưởng đến kinh tế thị trường; điều chỉnh pháp luật để phù hợp với luật pháp quốc tế; phải công bố các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, lấy ý kiến nhân dân trước khi ban hành tối thiểu là 60 ngày, phải đăng công khai các văn bản pháp luật trên các trang tạp chí điện tử của bộ, ngành, địa phương…

Thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO và để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ sau khi Quốc hội chính thức phê chuẩn văn kiện gia nhập WTO, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác cải cách hành chính nói chung, cải cách về quy trình, thủ tục hành chính nói riêng. Ngay từ đầu năm 2007, trong Nghị quyết số 01/2007/NQ-CP ngày 3-1-2007, Chính phủ đã xác định rõ những trọng tâm công tác cải cách hành chính của năm 2007. Trên tinh thần đó, ngày 10-1-2007 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 30/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 – 2010, nhằm tuân thủ cam kết của Việt Nam với WTO và xây dựng một nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiệu quả, có hiệu suất cao, góp phần phòng chống tham nhũng và lãng phí. Tiếp theo, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách về thủ tục hành chính, như Công văn số 915 ngày 11-7-2007 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật kỷ cương hành chính và đẩy mạnh cải cách hành chính; Quyết định số 127 ngày 1-8-2007 về việc tổ chức làm việc vào ngày thứ bảy hằng tuần để tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính; Công văn số 5279 ngày 19-9-2007 của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính; Chỉ thị số 29 ngày 11-12-2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện cải cách hành chính trong công tác giải quyết xuất cảnh, nhập cảnh của cán bộ, công chức, công dân… Tiếp tục thực hiện công việc cải cách thủ tục hành chính, ngày 4-1-2008, Thủ tướng Chính phủ có quyết định phê duyệt Kế hoạch thực hiện Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 – 2010, nêu rõ những nội dung nhiệm vụ cần làm để thực hiện cải cách thủ tục hành chính đến năm 2010. Ngày 14-2-2008, Chính phủ đã có Nghị định số 20/2008/NĐ-CP về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính. Tại Công văn số 3335/VPCP-TCCV ngày 22-5-2008, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo triển khai hiệu quả Đề án cải cách thủ tục hành chính và nghiêm túc thực hiện Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14-2-2008 của Chính phủ về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính.

Như vậy có thể thấy, để cải cách thủ tục hành chính, Chính phủ đã ban hành rất nhiều văn bản điều chỉnh nhiều lĩnh vực có liên quan, tạo cơ sở pháp lý và những điều kiện cần thiết để thực hiện. Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan chức năng căn cứ vào tình hình thực tiễn đã có những chỉ đạo trực tiếp, cụ thể công tác cải cách thủ tục hành chính trong thời gian qua.

Với những chỉ đạo liên tục, sâu sát, quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, qua hơn hai năm gia nhập WTO, các hoạt động cải cách thủ tục hành chính đã đạt được những kết quả bước đầu:

Thứ nhất, rà soát, sửa đổi và bãi bỏ nhiều thủ tục bất hợp lý cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh. Theo thống kê sơ bộ, trong năm 2007, 289 giấy phép “con” đã được rà soát và hàng chục giấy phép đã được kiến nghị bãi bỏ. Cho đến nay, Chính phủ đã bãi bỏ được 316 giấy phép và chuyển 44 loại giấy phép khác thành điều kiện kinh doanh.

Thứ hai, đơn giản hóa nhiều quy trình và thủ tục hành chính. Cùng với việc bãi bỏ, sửa đổi các giấy phép “con”, Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp tiến hành đơn giản hóa các thủ tục, rút ngắn quy trình giải quyết công việc của tổ chức, công dân. Rất nhiều thủ tục, quy trình trong một loạt các lĩnh vực nhạy cảm như lĩnh vực kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu với doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; lĩnh vực xác định thành phần dân tộc; đăng ký, quản lý hộ khẩu, cấp chứng minh thư nhân dân, cấp hộ chiếu phổ thông… đã được đơn giản hóa về hồ sơ, biểu mẫu, rút ngắn thời gian giải quyết.

Thứ ba, thực hiện công khai hóa các thủ tục hành chính, quy chế làm việc của các cơ quan hành chính để người dân biết thực hiện và giám sát. Cho đến nay, nhiều quy trình, thủ tục hành chính liên quan đến tổ chức, doanh nghiệp và người dân đã được các cơ quan hành chính niêm yết công khai tại trụ sở, hoặc đăng công khai trên các trang điện tử để các doanh nghiệp và người dân dễ dàng biết và thực hiện.

Thứ tư, đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế “một cửa” trong việc giải quyết các thủ tục hành chính. Theo thống kê, cho đến nay, hầu hết các cơ quan hành chính các cấp có quan hệ trực tiếp đến việc giải quyết các thủ tục hành chính đối với tổ chức, doanh nghiệp và người dân đã thực hiện cơ chế “một cửa”. Đối với chính quyền cấp huyện và xã đã có 90% các đơn vị thực hiện cơ chế “một cửa” trong việc cung cấp các dịch vụ hành chính. Cùng với quá trình mở rộng, việc nâng cao chất lượng và hoàn thiện cơ chế “một cửa”, hình thành cơ chế “một cửa liên thông” cũng được nghiên cứu áp dụng. Theo đó, nhiều thủ tục trước kia như việc đăng ký kinh doanh, mã số thuế và lấy dấu, doanh nghiệp phải đến nhiều cơ quan, nay được thực hiện tại một cơ quan, một địa điểm. Nhờ đơn giản hóa thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” nên thời gian giải quyết các thủ tục hành chính cho tổ chức, doanh nghiệp, người dân đã giảm xuống. Thời gian cấp giấy phép kinh doanh cho các doanh nghiệp trước kia như ở Hải Dương năm 2006 là 20 ngày thì năm 2007 giảm xuống còn 15 ngày. Theo quy định trong Nghị quyết số 59 của Chính phủ, việc giải quyết thủ tục đăng ký kinh doanh và đăng ký mã số thuế đối với doanh nghiệp chỉ phải thực hiện trong một bộ hồ sơ nộp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư và được giải quyết trong thời hạn tối đa không quá 5 ngày.

Thứ năm, áp dụng công nghệ thông tin trong việc giải quyết các thủ tục hành chính. Các thủ tục hành chính được đăng tải công khai trên các trang điện tử của các bộ, ngành và của nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Nhiều loại giấy tờ mà công dân hoặc doanh nghiệp cần đã được mẫu hóa thống nhất và được đưa lên các trang điện tử của các bộ, ngành, địa phương. Nhiều cơ quan trong các lĩnh vực hải quan, thuế vụ… và ở những địa điểm có quan hệ nhiều với doanh nghiệp, người dân như cảng biển, sân bay, bước đầu đã tiến hành giải quyết các thủ tục hành chính qua mạng điện tử, rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân.

Thứ sáu, nâng cao thái độ, trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc giải quyết các thủ tục cho tổ chức và công dân. Bên cạnh những quy định về tinh thần trách nhiệm, Chính phủ đã chú ý đến các chế độ đãi ngộ cho những cán bộ, công chức trực tiếp tham gia giải quyết các thủ tục hành chính cho tổ chức, doanh nghiệp và công dân, như có chế độ phụ cấp cho những cán bộ, công chức làm việc ở bộ phận “một cửa”, thực hiện trả lương cho làm việc thêm giờ phục vụ người dân…

Những cải cách liên tục và quyết liệt về thủ tục hành chính trong thời gian vừa qua bước đầu đã làm thay đổi mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với tổ chức, doanh nghiệp và công dân. Những cải cách về thủ tục hành chính theo hướng phục vụ tốt hơn, nâng cao tính công khai, minh bạch của nền hành chính đã cải thiện tích cực môi trường kinh doanh trong nước, giảm chi phí thời gian, tiền bạc của doanh nghiệp và người dân (năm 2007, chi phí khởi sự doanh nghiệp tại Việt Nam khoảng 20% so với 34,9% của các nước trong khu vực), tạo tiền đề tốt để Việt Nam thu hút đầu tư trong và ngoài nước (theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2006 có 46.498 doanh nghiệp mới đăng ký thành lập với số vốn gần 10 tỉ USD; vốn đầu tư nước ngoài đăng ký mới đạt 7,5 tỉ USD, năm 2007 có 58.916 doanh nghiệp mới với số vốn hơn 30 tỉ USD, số dự án đầu tư nước ngoài là 1.445 dự án với gần 18 tỉ USD, riêng năm 2008, tính đến tháng 11-2008 đã có 1.059 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký là 59 tỉ USD, tăng gần 7 lần về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước, nếu cộng cả tổng vốn đầu tư đăng ký tăng thêm là 1,08 tỉ USD, số vốn đầu tư nước ngoài đã đạt 60,09 tỉ USD); tăng cường hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, góp phần giữ vững sự phát triển của nền kinh tế, sự ổn định của xã hội trước cơn khủng hoảng tài chính tiền tệ đang hoành hành trên phạm vi toàn thế giới.

Mặc dù các hoạt động cải cách đã đạt được các kết quả khả quan, nhưng đối chiếu với những yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, các thủ tục hành chính vẫn có nhiều tồn tại, hạn chế:

- Vẫn còn tồn tại nhiều quy định, những giấy phép bất hợp lý. Nhiều bộ, ngành, địa phương vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng phải loại bỏ các quy định, thủ tục bất hợp lý. Chính phủ đã có chỉ thị về việc phải rà soát giấy phép “con” và loại bỏ chúng, nhưng trong thực tế quản lý, các bộ, ngành, địa phương không những chưa loại bỏ được hết các thủ tục bất hợp lý đã ban hành trước đó mà còn tiếp tục ban hành thêm rất nhiều các văn bản quản lý mới, thậm chí có bộ, ngành, địa phương còn “chủ động” ban hành ra những quy trình thủ tục mới. Tình hình đó dẫn đến hiện tượng nhiều quy định tiếp tục chồng chéo lên nhau. Tổng số những giấy phép “con” của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp ban hành khá lớn và vẫn là một ẩn số.

- Thủ tục vẫn còn nhiều phức tạp, không rõ, không nhất quán. Không chỉ còn nhiều thủ tục mà mỗi thủ tục cũng còn rất phức tạp. Bên cạnh các yêu cầu hiện hành, nhiều thủ tục còn đặt ra thêm các yêu cầu mới. Nhiều thủ tục giải thích không rõ ràng, không nhất quán khiến cho tổ chức, doanh nghiệp, người dân hết sức bức xúc khi phải thực hiện.

- Việc áp dụng công nghệ thông tin vẫn còn những bất cập do hệ thống thông tin của các bộ, ngành, tỉnh, thành phố chưa hoàn chỉnh. Các dịch vụ trực tuyến với người dân mới được bắt đầu. Sự phối hợp giữa việc tin học hóa, xây dựng chính phủ điện tử với quá trình thực hiện cải cách hành chính chưa có sự phối hợp chặt chẽ…

- Quy chế làm việc, phục vụ tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân vẫn còn phiền hà. Quy chế làm việc, tiếp công dân của nhiều cơ quan vẫn còn những quy định tạo sự thuận lợi cho cơ quan quản lý mà ít chú ý đến việc tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân. Nhiều quy chế không quy định rõ trách nhiệm của cán bộ, công chức khi giải quyết các thủ tục cho người dân, doanh nghiệp nên khi thụ lý công việc nhiều cán bộ, công chức không nói rõ ngay từ đầu những yêu cầu hồ sơ, tài liệu cần có khiến cho người dân, doanh nghiệp phải đi lại nhiều lần; tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ, công chức ở nhiều cơ quan chưa cao, còn có biểu hiện quan liêu, sách nhiễu.

Sự tồn tại của tình hình trên là do những nguyên nhân như: các bộ, ngành, chính quyền địa phương vẫn còn chưa muốn buông việc quản lý hành chính đối với hoạt động kinh tế. Trong quản lý, các cơ quan nhà nước vẫn muốn giành thuận lợi cho mình, trong khi chúng ta vẫn chưa có quy định đủ mạnh để buộc các bộ, ngành, địa phương phải thay đổi cách quản lý này; tổ chức bộ máy hành chính vẫn còn cồng kềnh, chức năng nhiệm vụ vẫn còn chồng chéo, chưa rõ ràng, một công việc, một đối tượng vẫn chịu nhiều thủ tục quản lý của nhiều cơ quan khác nhau; đội ngũ cán bộ, công chức vẫn chưa ngang tầm, chưa dám chịu trách nhiệm; chế độ đãi ngộ chưa tương xứng…

Để tiếp tục thực hiện đúng các cam kết khi gia nhập WTO, đồng thời đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động cải cách về thủ tục hành chính tốt hơn trong thời gian tới. Để làm được điều đó cần tập trung làm tốt các công việc sau đây.

Một là, đẩy mạnh đổi mới tư duy trong công tác quản lý nhà nước. Cần phải chuyển mạnh hơn nữa tư duy quản lý sang tư duy phục vụ theo hướng nhân dân được làm tất cả những gì mà luật pháp không cấm và cơ quan nhà nước, công chức chỉ được làm những gì mà luật pháp quy định, để tránh việc các cơ quan quản lý, cán bộ, công chức tùy tiện đặt ra các yêu cầu đối với cá nhân, doanh nghiệp trong quan hệ với Nhà nước; cải cách về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi bộ, ngành, mỗi cấp hành chính, tránh sự chồng chéo về nhiệm vụ, thẩm quyền, giảm bớt đầu mối quản lý đối với một việc, qua đó giảm bớt các thủ tục không cần thiết; rà soát, loại bỏ các thủ tục bất hợp lý, thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính. Các thủ tục hành chính được ban hành phải dễ hiểu, dễ thực hiện. Các bộ, ngành, địa phương cần thực hiện nghiêm túc Đề án đơn giản hóa các thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước của Chính phủ, đẩy nhanh tiến độ về thời gian.

Hai là, công bố công khai các thủ tục (các biểu mẫu, các loại giấy tờ) và quy trình giải quyết công việc, thời gian giải quyết, phí và lệ phí theo quy định để nhân dân biết và thực hiện thuận lợi, đồng thời giúp cho việc đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng có hiệu quả; hoàn thiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại các cơ quan hành chính nhà nước và mở rộng sang áp dụng tại các đơn vị sự nghiệp công như bệnh viện, trường học… Trong quá trình hoàn thiện cơ chế “một cửa liên thông” cần xem xét để giảm bớt đầu mối, bỏ cấp trung gian, hình thành các cơ quan quản lý có tính chất tổng hợp liên ngành, bảo đảm cơ sở vững chắc để thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” thực sự hiệu quả.

Ba là, ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhằm bảo đảm thông tin về những thủ tục hành chính đến tổ chức, doanh nghiệp và người dân một cách nhanh nhất, rõ ràng, công khai, đồng thời tạo cơ sở tiến tới mở rộng việc thực hiện cung cấp các thủ tục hành chính qua mạng điện tử. Trước mắt, khẩn trương đẩy nhanh việc mở rộng và hoàn thiện quy trình thông quan điện tử tại các cục hải quan điện tử, việc kê khai thuế tại các cục thuế và trong một số lĩnh vực có nhiều tiếp xúc với người dân; thực hiện Quyết định số 144/2006/QĐ-Ttg của Thủ tướng về áp dụng tiêu chuẩn ISO 900:2000 trong các cơ quan hành chính nhà nước, đặc biệt ưu tiên xây dựng hệ thống quản lý chất lượng cho các thủ tục và đơn vị trực tiếp có liên quan đến giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, doanh nghiệp và công dân.

Bốn là, nâng cao năng lực, trình độ giải quyết công việc của cán bộ công chức. Nâng cao thái độ, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc giải quyết công việc theo tinh thần phục vụ người dân. Đồng thời có chế độ thỏa đáng cho những người chịu trách nhiệm giải quyết các thủ tục hành chính để khuyến khích họ giải quyết các thủ tục hành chính nhanh gọn, không gây phiền hà; xử lý nghiêm những công chức, cơ quan hành chính các cấp tùy tiện đặt ra các quy định trái pháp luật, trái thẩm quyền, gây khó khăn, phiền nhiễu cho người dân. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính trong việc cải cách thủ tục hành chính và quản lý, giáo dục cán bộ, công chức cung cấp dịch vụ hành chính cho tổ chức, doanh nghiệp và người dân; có những hình thức thích hợp để tiếp xúc, trao đổi, đối thoại với tổ chức, doanh nghiệp và người dân qua đó có thể lắng nghe, tiếp thu những đánh giá, phản ánh về các thủ tục hành chính liên quan đến họ, cũng như tinh thần thái độ phục vụ của cơ quan hành chính, của cán bộ, công chức để có những biện pháp, giải pháp khắc phục./.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 3 (171) NĂM 2009 - TS. HÀ QUANG NGỌC – Bộ Nội vụ

(MLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Sự khác nhau giữa biện pháp thuế chống bán phá giá và biện pháp thuế đối kháng theo quy định của WTO

3. Các yêu cầu đối với chính sách kinh tế chung khi gia nhập WTO

Giới thiệu: Trong giai đoạn đầu của quá trình gia nhập, giống như các nước đang gia nhập khác, Việt Nam được yêu cầu cung cấp các thông tin chi tiết về cơ chế kinh tế và thương mại của mình.

Các Hiệp định WTO không đưa ra các nghĩa vụ trực tiếp mà chính sách kinh tế của các Thành viên phải tuân thủ cũng như không quy định các công cụ chính để thực thi chính sách. Nhưng từ hệ thống của WTO có thể thấy rằng các chính sách kinh tế chung của các Thành viên có tác động quan trọng tới cơ chế thương mại nói chung và quyết định nội dung của các biện pháp thương mại một cách đáng kể. Do đó, Việt Nam được yêu cầu cung cấp các thông tin chi tiết về chính sách thương mại của mình trong Bị vong lục về cơ chế Ngoại thương của mình, Bị vong lục được cung cấp cho WTO trong giai đoạn đầu của tiến trình gia nhập, và sau đó Việt Nam được yêu cầu cung cấp cho Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (Ban công tác) những thay đổi lớn trong các chính sách kinh tế của mình.

1. Chính sách tài chính và tiền tệ

Như được chỉ ra tại các đoạn 9 – 17 trong Báo cáo của Ban công tác, đại diện của Việt Nam thông báo cho Ban công tác những yếu tố quan trọng nhất trong chính sách tài chính và tiền tệ của Việt Nam và các khía cạnh thể chế liên quan. Đại diện của Việt Nam khẳng định với Ban công tác rằng mục tiêu chính của chính sách tiền tệ của Việt Nam là ổn định giá trị của tiền Đồng nhằm kiểm soát lạm phát và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Đại diện này cũng cung cấp thông tin về sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại, kể cả lịch trình cổ phần hóa dự kiến. Quá trình cải cách hệ thống thuế cũng được mô tả chi tiết.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi:1900.6162

1.1. Thông tin chung và quá trình gia nhập WTO

Việt Nam phải thông báo chi tiết về hệ thống thanh toán và giao dịch ngoại hối của mình cho WTO do vai trò quyết định của hệ thống này đối với việc duy trì các mối quan hệ kinh tế phù hợp với các quy tắc của WTO4. Như đại diện của Việt Nam giải thích, Việt Nam đã thay thế hệ thống tỷ giá hối đoái cố định bằng một cơ chế tỷ giá linh hoạt thả nổi có quản lý từ năm 1989. Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ tài chính với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vào năm 1993 và đã từng bước tuân thủ các yêu cầu tại Điều VIII trong Điều lệ IMF. Mục tiêu đưa Đồng Việt Nam trở thành đồng tiền chuyển đổi được đặt ra vào năm 2001 và các biện pháp kiểm soát giao dịch vãng lai đã dần dần được tự do hóa.

Với những cải cách trong hệ thống thanh toán và ngoại hối, Việt Nam đã tuân thủ hoàn toàn các nghĩa vụ tại Điều VIII của Hiến chương IMF về thanh toán đối với tài khoản vãng lai và chuyển tiền quốc tế. Việc tuân thủ này đóng vai trò then chốt đối với doanh nghiệp vì các nhà nhập khẩu được đảm bảo về mặt pháp lý là có thể mua ngoại tệ để thực hiện các giao dịch vãng lai. Nhờ tiến hành các sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, tất cả các hạn chế ngoại hối còn lại đối với thanh toán và chuyển tiền đối với các giao dịch vãng lai đã được loại bỏ. Những người cư trú và phi cư trú được phép mua và chuyển ngoại tệ và không có hạn chế nào đối với nhà đầu tư nước ngoài trong việc chuyển lợi nhuận và các khoản thu nhập hợp pháp ra nước ngoài. Ngày 8/11/2005, IMF đã chính thức công bố việc Việt Nam tuân thủ Điều VIII của Điều lệ IMF.

Đối với các giao dịch vốn, Việt Nam đã nới lỏng quy định về việc chuyển vốn của các nhà đầu tư nước ngoài và việc vay nước ngoài của người cư trú là tổ chức. Việt Nam chỉ còn duy trì các hạn chế đối với: (i) việc chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư của người cư trú là tổ chức đòi hỏi phải được cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn và chỉ được chuyển số ngoại tệ mình có; và (ii) việc thanh toán và trả nợ vay nước ngoài của người cư trú là tổ chức chỉ được phép khi được Ngân hàng Nhà nước xác nhận hợp đồng vay. Tuy nhiên, các doanh nghiệp được tự do ký kết các hợp đồng vay nợ nước ngoài phù hợp với các văn bản pháp luật đang áp dụng.5 Các yêu cầu đối với doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài cũng được nêu lên và thảo luận trong Báo cáo của Ban công tác.

1.2. Cam kết trong WTO của Việt Nam

Liên quan tới ngoại hối và thanh toán, các nghĩa vụ của Việt Nam tại đoạn 31 trong Báo cáo của Ban công tác như sau:

“Đại diện của Việt Nam tuyên bố rằng Việt Nam sẽ tuân thủ các nghĩa vụ liên quan đến ngoại hối theo đúng các quy định của WTO cũng như các tuyên bố và quyết định của WTO có liên quan đến IMF. Đại diện của Việt Nam nhắc lại việc Việt Nam chấp nhận tuân thủ Điều VIII của Điều lệ IMF trong đó quy định rằng “không Thành viên nào áp dụng các biện pháp hạn chế việc thanh toán và chuyển tiền đối với các giao dịch vãng lai quốc tế, trừ khi được sự chấp thuận của IMF". Đại diện của Việt Nam tuyên bố rằng theo đúng các cam kết trên, trừ khi Điều lệ của IMF có quy định khác, Việt Nam sẽ không áp dụng các luật, quy định và biện pháp, trong đó bao gồm cả các yêu cầu đối với các điều khoản của hợp đồng, nhằm hạn chế các giao dịch vãng lai của các cá nhân và doanh nghiệp hoạt động trong lãnh thổ hải quan của mình theo lượng ngoại tệ mà cá nhân hoặc doanh nghiệp đó thu được”.

1.3. Ý nghĩa và tác động của cam kết gia nhập

Các cam kết tại đoạn 31 trong Báo cáo của Ban công tác, tương tự như cam kết của tất cả các Thành viên WTO, đóng vai trò then chốt đối với các doanh nghiệp. Các cam kết này đảm bảo cho các hợp đồng kinh doanh của các doanh nghiệp, khi thực hiện các giao dịch xuất nhập khẩu, 5 Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01/11/2005 các doanh nghiệp có thể có được lượng ngoại tệ cần thiết. Quyền này chỉ có thể bị hạn chế trong trường hợp rất đặc biệt thông qua các biện pháp được đưa ra nhằm mục tiêu cán cân thanh toán và phải tuân thủ với các điều kiện được IMF và các Hiệp định của WTO đề ra.

Đối với các nhà nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ nước ngoài, việc được đảm bảo rằng trong trường hợp họ có số lượng tiền Đồng cần thiết, họ có quyền mua ngoại tệ để trả cho nhà xuất khẩu là rất quan trọng. Sự ổn định của hệ thống ngoại hối được đảm bảo bởi các quy tắc của IMF và gia nhập WTO khiến Việt Nam trở thành một đối tác tin cậy đối với các nhà xuất khẩu nước ngoài cũng như tạo ra một sự đảm bảo đối với các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.

2. Chính sách đầu tư

2.1. Thông tin chung và tiến trình gia nhập WTO

Các quy định đối với việc thành lập doanh nghiệp

WTO không có quy tắc trực tiếp đối với các vấn đề đầu tư. Tuy nhiên, WTO có các quy tắc thương mại tác động tới chính sách trong nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Do mối liên hệ chặt chẽ giữa các biện pháp đầu tư và các biện pháp thương mại, các nước đang gia nhập luôn phải trình bày cơ chế đầu tư của mình.

Trong các cuộc đàm phán gia nhập WTO, Đoàn đàm phán Việt Nam đã miêu tả quá trình phát triển của các văn bản pháp quy liên quan tới doanh nghiệp, gồm cả việc thông qua Luật Doanh nghiệp mới có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 20066. Luật này điều chỉnh việc thành lập, quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp. Luật quy định bốn loại hình doanh nghiệp – công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Theo luật này, mọi pháp nhân hay cá nhân trong nước và nước ngoài đều có quyền thành lập và quản lý các doanh nghiệp ở Việt Nam, trừ khi trong Luật quy định khác.

Theo Luật Doanh nghiệp mới, các ngành nghề kinh doanh được chia thành (i) các ngành nghề bị cấm kinh doanh – là các ngành nghề cả nhà đầu tư trong và ngoài nước, bất kể hình thức sở hữu nào, đều bị cấm kinh doanh vì các lý do quốc phòng, an ninh, trật tự, đạo đức xã hội, bảo vệ sức khoẻ con người, truyền thống, môi trường, bảo vệ thực vật và các lý do khác phù hợp Hiệp định WTO; (ii) các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, là các ngành doanh nghiệp được phép kinh doanh nếu đáp ứng một số các điều kiện do pháp luật quy định; (iii) các ngành nghề kinh doanh đòi hỏi phải có vốn pháp định; (iv) các ngành nghề kinh doanh đòi hỏi phải có chứng chỉ hành nghề; (v) các ngành nghề dành riêng cho doanh nghiệp hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân; và (vi) các ngành nghề kinh doanh khác. Đăng ký thành lập doanh nghiệp ở các ngành nghề khác là tự động. Các Bộ ngành hữu quan chịu trách nhiệm xác định xem đơn xin thành lập doanh nghiệp có thuộc loại hình kinh doanh bị cấm hay không.

Các ngành nghề kinh doanh có điều kiện bao gồm bao gồm các ngành nghề không đòi hỏi giấy phép kinh doanh nhưng cần tuân thủ các yêu cầu về môi trường, tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm, phòng cháy chữa cháy, trật tự xã hội, an toàn giao thông và các yêu cầu khác và các ngành nghề cần có giấy phép kinh doanh theo các quy định của pháp luật. Đại diện của Việt Nam xác nhận rằng việc bổ sung danh mục các ngành nghề cấm kinh doanh hay kinh doanh có điều kiện sẽ phải tuân thủ các quy định của WTO, kể cả những nghĩa vụ theo GATS và Biểu cam kết của Việt Nam. Đại diện của Việt Nam bổ sung rằng Chính phủ Việt Nam sẽ rà soát định kỳ các điều kiện kinh doanh để xác định những quy định của Luật Doanh nghiệp còn chồng chéo hay mâu thuẫn với các luật lệ và quy định có liên quan khác hay ngăn trở hoạt động của doanh nghiệp (Điều7.4 của Luật Doanh nghiệp). Chính phủ Việt Nam sẽ đề xuất việc sửa đổi hay bãi bỏ các điều kiện kinh doanh để Quốc hội quyết định. Bất kỳ thay đổi nào so với các điều kiện hiện tại sẽ được thực hiện theo nguyên tắc tuân thủ hoàn toàn với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đại diện của Việt Nam xác nhận thêm rằng việc bổ sung và thu hẹp danh sách các ngành nghề cấm kinh doanh hay kinh doanh có điều kiện trong tương lai sẽ phù hợp với các quy định của WTO.

Các biện pháp áp dụng riêng cho đầu tư nước ngoài

Đoàn đàm phán Việt Nam thông báo cho Ban công tác về Luật Đầu tư mới được Quốc hội Việt Nam thông qua trong năm 2005 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 20067. Luật này điều chỉnh các hoạt động đầu tư, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, việc phân bổ các ưu đãi, quản lý nhà nước về các hoạt động đầu tư tại Việt Nam (khuyến khích, hướng dẫn và hỗ trợ các nhà đầu tư trong quá trình thực hiện dự án và xây dựng chiến lược và chính sách nhằm phát triển đầu tư), và hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam. Luật năm 2005 cũng đưa ra những quy định đảm bảo không quốc hữu hóa hay tịch thu tài sản của nhà đầu tư (việc quốc hữu hóa hay tịch thu tài sản sẽ chỉ có thể được thực hiện vì lợi ích công cộng và sẽ được đền bù đầy đủ và công bằng theo quy định của Luật). Việt Nam đã ký kết và tham gia một số các thỏa thuận song phương và/hoặc đa phương về đầu tư, bao gồm các Hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 49 quốc gia và vùng lãnh thổ, Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần với 45 quốc gia và vùng lãnh thổ, Hiệp định khung về đầu tư ASEAN (AIA), Công ước New York và MIGA v.v…

Luật Đầu tư năm 2005 cấm các hoạt động đầu tư gây tổn hại tới an ninh và quốc phòng, các giá trị văn hóa và lịch sử, môi trường, truyền thống và phong tục tốt đẹp của Việt Nam. Luật cũng quy định các lĩnh vực đầu tư có điều kiện, bao gồm: (i) các ngành nghề có tác động đến an ninh và quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội; (ii) ngân hàng và tài chính; (iii) các ngành nghề có ảnh hưởng tới sức khỏe người dân; (iv) văn hóa, thông tin, báo chí và xuất bản: (v) dịch vụ giải trí; (vi) bất động sản; (vii) khảo sát, tìm kiếm, thăm dò, và khai thác tài nguyên thiên nhiên; (viii) giáo dục và đào tạo; và (ix) một số ngành nghề khác theo quy định của Luật. Đầu tư vào một số ngành nghề nhất định không chịu sự điều chỉnh của Luật Đầu tư mà chịu sự điều chỉnh của các luật quy định hoạt động đầu tư trong các ngành nghề cụ thể đó: Luật các Tổ chức Tín dụng đối với lĩnh vực ngân hàng, Luật Kinh doanh Bảo hiểm đối với lĩnh vực bảo hiểm, Luật Chứng khoán đối với kinh doanh chứng khoán, và Luật về Luật sư đối với lĩnh vực dịch vụ pháp lý.

Luật Đầu tư năm 2005 được áp dụng thống nhất cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài và đảm bảo quyền tự chủ của nhà đầu tư trong hoạt động kinh doanh. Nhà đầu tư nước ngoài được tự do lựa chọn (các) lĩnh vực mà mình mong muốn đầu tư, hình thức đầu tư, các biện pháp huy động vốn, vị trí địa lý và quy mô đầu tư, đối tác đầu tư và thời hạn đầu tư theo đúng các luật lệ của Việt Nam và các cam kết của Việt Nam tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Luật này bảo đảm các nhà đầu tư được tiếp cận một cách bình đẳng với nguồn vốn, ngoại tệ, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, các công cụ pháp lý, các dữ liệu về nền kinh tế quốc dân, các cơ hội đầu tư và bảo đảm nhà đầu tư có quyền khiếu nại, tố cáo hay khởi kiện. Luật có quy định về nguyên tắc không hồi tố trong trường hợp có thay đổi chính sách và đưa ra một cơ chế giải quyết tranh chấp và thực thi phán quyết của Toà án phù hợp với các thông lệ quốc tế nhằm tăng cường lòng tin của nhà đầu tư. Luật cũng loại bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử về giá và phí áp dụng với các nhà đầu tư. Theo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp mới cũng như theo Nghị định của Chính phủ số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư năm 2005, các thủ tục đăng ký đầu tư/kinh doanh áp dụng với các nhà đầu tư nước ngoài đã được hài hoà hóa; giấy chứng nhận đầu tư cũng đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Do vậy, các công ty nước ngoài có dự án đầu tư không cần phải tiến hành đăng ký kinh doanh riêng theo Luật Doanh nghiệp. Bất kỳ thay đổi nào với hoạt động đầu tư, kể cả với các dự án dưới 300 tỷ đồng và không nằm trong danh mục đầu tư có điều kiện hay bị cấm, cũng phải được đăng ký lại.

Báo cáo của Ban công tác tóm tắt các nguyên tắc áp dụng đối với giấy chứng nhận đầu tư, đăng ký (đăng ký lại) đầu tư, thẩm định đầu tư, thay đổi hình thức pháp lý của dự án đầu tư, mở chi nhánh và văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài cũng như chuyển vốn đầu tư, lợi nhuận và các khoản thu nhập hợp pháp khác ra nước ngoài. Các Thành viên của Ban công tác đã nêu câu hỏi và đưa ra nhận xét về các khía cạnh khác nhau của cơ chế đầu tư tại Việt Nam, bao gồm cả quyền sử dụng đất.

3. Các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu hoặc kiểm soát, hoặc được hưởng đặc quyền hoặc độc quyền

3.1. Thông tin chung và quá trình gia nhập WTO

Trong quá trình gia nhập WTO, các Thành viên của Ban công tác đã tập trung nhiều chú ý vào sự tồn tại và hoạt động của các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu hoặc kiểm soát tại Việt Nam. Các Thành viên đã đề nghị Việt Nam cung cấp thông tin về các văn bản pháp luật liên quan cũng như hoạt động thực tiễn của các doanh nghiệp này và vai trò của chúng trong nền kinh tế quốc dân8.

WTO không có các quy tắc về sở hữu trong các đơn vị kinh doanh. WTO không ngăn cản các Thành viên thành lập và phát triển các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu (SOEs), tuy nhiên WTO có các điều kiện cụ thể đối với các hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp thương mại nhà nước (STEs). Cụ thể, Điều XVII của Hiệp định GATT 1994 đề ra hai điều kiện cơ bản cho hoạt động của các doanh nghiệp này (i) tất cả các hoạt động mua bán chỉ thực hiện theo các căn cứ thương mại, phù hợp với nguyên tắc không phân biệt đối xử chung; và (ii) các hoạt động xuất nhập khẩu phải minh bạch.

Các Thành viên WTO rất quan tâm tới hoạt động của các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu nói chung và các doanh nghiệp thương mại nhà nước nói riêng vì hai lý do chính. Thứ nhất, Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế định hướng thị trường và trong quá trình này, như một số Thành viên đã nêu lên, Việt Nam tiếp tục dành một số ưu đãi cụ thể cho các doanh nghiệp nhà nước. Thứ hai, theo cách hiểu của một số Thành viên WTO thì các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam không chỉ chiếm số lượng lớn, tỷ trọng đóng góp vào GDP cao cũng như có tổng số vốn rất lớn mà còn có nhiều lợi thế về năng lực sản xuất, cung cấp dịch vụ vụ và xuất nhập khẩu một số mặt hàng chủ chốt (gồm xăng dầu, khoáng sản, dịch vụ viễn thông, ngân hàng và bảo hiểm, v.v…). Các Thành viên WTO thể hiện lo ngại về khả năng Chính phủ sẽ can thiệp vào thị trường thông qua các doanh nghiệp nhà nước, do đó có thể bóp méo thị trường và thậm chí vô hiệu hóa các cam kết về mở cửa thị trường của Việt Nam. Đây chính là lý do tại sao các Thành viên WTO yêu cầu Việt Nam đưa ra các cam kết toàn diện về doanh nghiệp nhà nước, kể cả doanh nghiệp thương mại nhà nước.

Trước lo ngại của các Thành viên, đại diện của Việt Nam thông báo rằng các cơ quan quản lý của Việt Nam đã công bố, minh bạch hóa đầy đủ các thông tin về chính sách và khuôn khổ pháp luật chung liên quan tới việc thành lập, tổ chức và quản lý hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước nói chung và các doanh nghiệp thương mại nhà nước nói riêng. Việt Nam cũng xác nhận rằng Việt Nam đang thực hiện một chính sách dài hạn, nhất quán về nền kinh tế đa thành phần trong đó cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, bao gồm cả các nhà đầu tư trong và ngoài nước, được khuyến khích tham gia cạnh tranh bình đẳng. Việt Nam đã xác nhận rằng khu vực tư nhân, kể cả người nước ngoài, được phép cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho các doanh nghiệp nhà nước thông qua thông qua đấu thầu hoặc thông qua đơn hàng của Nhà nước hay phân bổ định hướng (trừ các sản phẩm và dịch vụ công liên quan tới quốc phòng và an ninh quốc gia).

Bảng 2 dưới đây liệt kê danh sách các doanh nghiệp thương mại nhà nước ở Việt Nam được hưởng đặc quyền hoặc độc quyền.

Bảng 2

CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

TT

Sản phẩm

Mã HS

Tên doanh nghiệp

Chức năng của doanh nghiệp

1

Dầu thô

27090010

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PETROVIETNAM)

Tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến và kinh doanh sản phẩm dầu và khí đốt, cung cấp các dịch vụ liên quan đến dầu và khí đốt

3

Máy bay, phụ tùng máy bay và các phương tiện, thiết bị hàng không

8802, 8803

Công ty XNK hàng không (AIRIMEX)

Đảm bảo việc cung cấp máy bay, phương tiện, thiết bị và vật tư dùng trong ngành hàng không; Là nhà nhập khẩu độc quyền máy bay và các vật tư, phụ tùng dùng cho hàng không.

4

Băng đĩa hình

ex8524

Cty XNK và phát hành phim Việt Nam (FAFILMVIETNAM)

Nhà nhập khẩu duy nhất và phân phối bán buôn.

5

Báo chí

4902

Cty XNK sách báo

(XUNHASABA)

Nhà nhập khẩu duy nhất và phân phối bán buôn.

6.

Thuốc lá, xì gà, và các sản phẩm thuốc lá chế biến khác

2402, 2403

Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam (VINATABA)

Nhà nhập khẩu duy nhất.

3.2. Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam

Các đoạn 78 và 79 trong Báo cáo của Ban công tác đưa ra các nghĩa vụ của Việt Nam liên quan tới doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu hoặc kiểm soát. Theo đoạn 78, Việt Nam sẽ đảm bảo tất cả các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hay do Nhà nước kiểm soát, kể cả các doanh nghiệp đã được cổ phần hóa nhưng Nhà nước vẫn nắm giữ quyền kiểm soát, và các doanh nghiệp được hưởng đặc quyền hay độc quyền sẽ thực hiện việc mua sắm không phục vụ cho nhu cầu của Chính phủ và bán hàng trong hoạt động thương mại quốc tế chỉ dựa trên các tiêu chí thương mại, tức là các tiêu chí về giá cả, chất lượng, khả năng bán ra thị trường, khả năng cung cấp, và các doanh nghiệp của các Thành viên WTO khác sẽ có cơ hội thỏa đáng, theo đúng với thực tiễn kinh doanh thông thường, khi cạnh tranh để tham gia vào các giao dịch mua bán với các doanh nghiệp này mà không bị phân biệt đối xử. Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam sẽ không tác động, dù trực tiếp hay gián tiếp, tới các quyết định thương mại của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước kiểm soát, hay các doanh nghiệp được hưởng đặc quyền hay độc quyền, gồm các quyết định về số lượng, giá trị hay nước xuất xứ của bất kỳ hàng hóa nào được mua hay bán, trừ trường hợp can thiệp theo cách thức phù hợp với các quy định của Hiệp định WTO và các quyền tương tự như quyền dành cho các chủ doanh nghiệp hay cổ đông khác không phải là Chính phủ. Tại đoạn 79 trong Báo cáo của Ban công tác, Việt Nam xác nhận rằng, không ảnh hưởng tới các quyền của Việt Nam liên quan tới hoạt động mua sắm chính phủ, tất cả các luật, quy định và biện pháp liên quan tới mua sắm hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp do Nhà nước kiểm soát hay doanh nghiệp được hưởng đặc quyền hay độc quyền để bán hàng vì mục đích thương mại, sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ vì mục đích thương mại, hoặc không nhằm phục vụ mục đích của Chính phủ, sẽ không được coi là những luật, quy định và biện pháp liên quan tới mua sắm chính phủ. Do đó, các giao dịch mua bán này sẽ phải chịu sự điều chỉnh của các quy định tại Điều II, XVI, XVII của GATS và Điều III của GATT 1994.

Những cam kết trên không chỉ có trong cam kết gia nhập của Việt Nam. Trung Quốc và một số n��ớc có nền kinh tế đang chuyển đổi cũng có cam kết tương tự. Trung Quốc đã đưa ra các cam kết cụ thể sau: “tất cả các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hay do Nhà nước đầu tư sẽ thực hiện các hoạt động mua sắm này chỉ dựa trên các tiêu chí thương mại, bao gồm các tiêu chí về giá cả, chất lượng, sự sẵn có và sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp của các Thành viên WTO khác có cơ hội cạnh tranh thỏa đáng để tham gia vào các giao dịch mua bán này mà không bị phân biệt đối xử. Ngoài ra, trừ trường hợp phù hợp với Hiệp định WTO, Chính phủ Trung Quốc sẽ không can thiệp vào quyết định thương mại của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hay do Nhà nước đầu tư, bao gồm các quyết định về số lượng, giá trị hay nước xuất xứ của hàng hóa được mua… "9.

3.3. Cam kết WTO so với các cam kết quốc tế liên quan khác

Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam đưa ra các cam kết liên quan tới hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Trong Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) có hiệu lực từ tháng 12/2001, Việt Nam đồng ý thực hiện các cam kết sau liên quan tới các doanh nghiệp nhà nước:

- Điều 8, Chương 1- Thương mại Hàng hóa: các bên có thể thành lập hoặc duy trì doanh nghiệp nhà nước, hoặc dành cho các doanh nghiệp đó đặc quyền xuất nhập khẩu các hàng hóa liệt kê tại Phụ lục C với điều kiện các doanh nghiệp đó khi thực hiện hoạt động mua bán liên quan tới việc xuất khẩu hoặc nhập khẩu sẽ hành động theo nguyên tắc không phân biệt đối xử, việc mua bán đó sẽ chỉ dựa trên các tiêu chí thương mại, bao gồm các tiêu chí về giá cả, chất lượng, sự sẵn có, khả năng bán ra thị trường, vận tải và các điều kiện mua bán khác và các doanh nghiệp của bên kia sẽ có cơ hội thỏa đáng, theo đúng với tập quán kinh doanh thông thường, khi cạnh tranh để tham gia vào các giao dịch mua bán với các doanh nghiệp này.

Điều 2, Chương IV – Phát triển quan hệ đầu tư: Mỗi bên sẽ đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhà nước của mình khi cung cấp hàng hóa và dịch vụ sẽ dành đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc cho các khoản đầu tư thuộc phạm vi Hiệp định, phù hợp với các điều kiện tại đoạn 4.3 của Phụ lục H (tức là đối xử bình đẳng về giá và phí đối với hàng hóa và dịch vụ).

Điều 12, Chương IV – Phát triển quan hệ đầu tư: khi một doanh nghiệp nhà nước của một bên được Bên đó uỷ quyền để thực hiện thẩm quyền pháp lý, hành chính hoặc các thẩm quyền khác của chính phủ, doanh nghiệp này sẽ phải tuân thủ nghĩa vụ của Bên đó.

3.4. Ý nghĩa của các cam kết gia nhập WTO

Cải cách, sắp xếp lại và cải thiện hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước nói chung và các doanh nghiệp thương mại nhà nước nói riêng là một chính sách nhất quán, một bộ phận của tiến trình đổi mới và hội nhập của Việt Nam trong vòng 20 năm qua. Chính sách này đã được khẳng định trong nhiều kế hoạch hành động của Chính phủ như một giải pháp để xây dựng và phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam.

Trong bối cảnh đó và ngay cả khi không có các cam kết gia nhập WTO liên quan tới vấn đề này thì vẫn có thể xác nhận rằng việc thực thi các cam kết nói trên là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng mà Việt Nam quyết tâm hoàn thành để đổi mới và tăng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước và đảm bảo các doanh nghiệp này có năng lực để vận hành hiệu quả trong một môi trường khá cạnh tranh.

Do đó, khuôn khổ pháp luật cho các doanh nghiệp nhà nước đang ngày càng được cải thiện theo hướng tích cực, đáp ứng hầu hết các yêu cầu cho việc thực thi các cam kết nói trên. Vì vậy, việc thực thi các cam kết này không đòi hỏi việc sửa đổi đáng kể đối với Luật về doanh nghiệp nhà nước.

3.5. Kết luận và khuyến nghị

Như đề cập ở trên, việc thực thi các cam kết về doanh nghiệp nhà nước không đòi hỏi việc sửa đổi Luật về doanh nghiệp nhà nước và các văn bản pháp luật liên quan. Tuy nhiên, với yêu cầu đổi mới các doanh nghiệp nhà nước, không loại trừ khả năng Việt Nam sẽ phải thực hiện các biện pháp mạnh mẽ hơn. Do đó, Chính phủ có thể xem xét các biện pháp sau:

− Cải tiến cơ chế quản lý để đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo các nguyên tắc của nền kinh tế thị trường và Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào các quyết định thương mại của những doanh nghiệp này. Cụ thể, có thể xem xét các biện pháp sau đây: (i) điều chỉnh các điều khoản tương ứng về quyền đưa ra quyết định của Nhà nước liên quan tới các dự án đầu tư, mua bán, thanh khoản, chuyển giao tài sản, tiêu dùng của các doanh nghiệp nhà nước thông qua việc dành các quyền này cho các doanh nghiệp; và (ii) Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy ban Nhân dân các tỉnh sẽ không trực tiếp thực thi quyền sở hữu mà sẽ chuyển quyền này cho Tổng Công ty Kinh doanh và Quản lý vốn nhà nước và các tập đoàn khác; hoặc trong trường hợp không thực hiện được việc này, Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy ban Nhân dân các tỉnh nên thực thi các quyền này theo cách giống như các cổ đông của doanh nghiệp.

− Giảm dần và tiến tới loại bỏ kiểm soát của Nhà nước đối với giá của một số hàng hóa và dịch vụ (bao gồm điện, than, xi măng, nước, xăng dầu và vận tải hành khách, v.v…).

− Hạn chế việc thành lập và duy trì các doanh nghiệp nhà nước mới và đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước hiện tại thành các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc các công ty cổ phần hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

− Thu hẹp danh mục các lĩnh vực mà Nhà nước sở hữu 100% vốn hoặc nắm cổ phần chi phối và loại bỏ các ưu đãi và ưu tiên cho các doanh nghiệp nhà nước.

− Thiết lập và công bố tất cả các ngành nghề độc quyền của Nhà nước, thiết lập lộ trình loại bỏ và kiểm soát chặt chẽ những ngành nghề độc quyền nhà nước để đảm bảo rằng những đặc quyền của Nhà nước không biến thành đặc quyền cho các doanh nghiệp nhà nước.

− Tự do hóa việc sản xuất và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ công thông qua việc cho phép các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình sản xuất và cung cấp, trừ trong các ngành liên quan tới quốc phòng và an ninh quốc gia hoặc một số ngành độc quyền.

4. Tư nhân hóa và cổ phần hóa

4.1. Thông tin chung và quá trình gia nhập WTO

Như trình bày ở phần trên, WTO không đưa ra các quy tắc đối với các Thành viên về việc ưu tiên một hình thức sở hữu nào đó hay trong việc thành lập và vận hành các doanh nghiệp thương mại và các doanh nghiệp khác. Điều này nghĩa là WTO không đưa ra yêu cầu tư nhân hóa hoặc cổ phần hóa các doanh nghiệp thương mại nhà nước. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo nguyên tắc minh bạch hóa, nghị định thư gia nhập của tất cả các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi đều có nghĩa vụ thông báo hàng năm của cho các Thành viên WTO khác về các chương trình cổ phần hóa của họ.10

Trong quá trình đàm phán, bên cạnh yêu cầu cung cấp thông tin về kết quả tiến trình cổ phần hóa, Việt Nam thường bị các Thành viên yêu cầu xác nhận liệu Việt Nam có cho phép khu vực tư nhân tham gia vào các ngành nghề/lĩnh vực mà Nhà nước sẽ nắm giữ 100% cổ phần liệt kê tại Phụ lục của Quyết định 155/2004/QĐ-TTg hay không. Một số Thành viên yêu cầu làm rõ hình thức và mức độ can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của các doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư (bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, các doanh nghiệp mà Nhà nước góp vốn, v.v…).11

Việt Nam xác nhận rằng mục tiêu duy nhất của việc đưa ra danh sách các ngành mà Nhà nước nắm giữ 100% cổ phần hoặc cổ phần chi phối là để kiểm tra và phân loại các công ty hiện đang hoạt động nhằm thực hiện kế hoạch cải cách (gồm sắp xếp, chuyển đổi, giải thể các doanh nghiệp nhà nước), không nhằm tạo ra hạn chế hay cản trở doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tham gia vào các lĩnh vực trong danh sách. Liên quan tới các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước không can thiệp vào các quyết định liên quan tới tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp này mà chỉ đóng vai trò là một chủ sở hữu, giống như các chủ sở hữu trong các lĩnh vực kinh tế khác.

Bên cạnh đó, trước lo ngại của một số Thành viên, Việt Nam đã đồng ý công bố kế hoạch cổ phần hóa có thời hạn của mình, bao gồm số lượng doanh nghiệp sẽ được cổ phần hóa cũng như công bố công khai tất cả các quy định điều chỉnh khái niệm, phạm vi và thủ tục cổ phần hóa; các lĩnh vực cho phép nước ngoài tham gia trong quá trình cổ phần hóa cũng như mức độ tham gia; cơ chế định giá, bán cổ phần và chỉ định Giám đốc các doanh nghiệp nhà nước tham gia vào quá trình cổ phần hóa; vai trò của Nhà nước với tư cách là một chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước và cơ cấu tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp này sau khi được cổ phần hóa.

4.2. Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam

Theo đoạn 95 trong Báo cáo của Ban công tác, giống như các nền kinh tế chuyển đổi mới gia nhập khác, Việt Nam cam kết sẽ đảm bảo tính minh bạch tối đa của các chương trình tư nhân hóa và cổ phần hóa đang thực hiện, và để thực hiện mục tiêu này, kể từ thời điểm gia nhập WTO, Việt Nam sẽ cung cấp cho các Thành viên WTO báo cáo thường niên về tình trạng chương trình cổ phần hoá ở Việt Nam và tình trạng cải cách các doanh nghiệp cổ được phần hóa trong đó Nhà nước vẫn nắm giữ cổ phần kiểm soát chừng nào chương trình tư nhân hóa và cổ phần hóa còn tồn tại.

4.3. Tác động của các cam kết gia nhập

Các cam kết về tư nhân hóa/cổ phần hóa không gây ra gánh nặng cho Chính phủ Việt Nam do các cơ quan chính phủ phải chuẩn bị và công bố Báo cáo phát triển kinh tế xã hội hàng năm và đặc biệt là có một báo cáo về tình hình cải cách các doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó, hầu hết các tổ chức phát triển, định chế tài chính và các ngân hàng quốc tế hoạt động tại Việt Nam (ví dụ như UNDP, WB, IMF, ADB, IFC, v.v…) đều có báo cáo của riêng họ về vấn đề này. Do đó, việc thực thi cam kết nói trên không đòi hỏi việc sửa đổi các quy định pháp luật hiện hành.

Bên cạnh đó, việc thực thi các cam kết này sẽ góp phần tăng cường tính minh bạch của tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và do đó cho phép khu vực tư nhân, cả trong và ngoài nước, được tiếp cận nhiều hơn các cơ hội mà tiến trình cổ phần hóa này đem lại, bao gồm cả việc tham gia vào các hoạt động trước đây chỉ dành cho khu vực nhà nước.

4.4. Kết luận và khuyến nghị

Trừ nghĩa vụ đảm bảo tính minh bạch của các kế hoạch cổ phần hóa/tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, các cam kết gia nhập WTO không bắt buộc Việt Nam phải thực hiện tiến trình này. Do quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đang rất chậm chạp, Chính phủ cần xem xét thực hiện các biện pháp sau đây:

− Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa và mở rộng diện các doanh nghiệp nhà nước cần được cổ phần hóa thông qua việc bổ sung các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực trước đây Nhà nước nắm 100% cổ phần hoặc nắm cổ phần chi phối như điện, viễn thông, hàng không, vận tải biển, xăng dầu, tài chính, bảo hiểm, các ngân hàng thương mại, v.v…;

− Hàng năm xây dựng và công khai hóa chương trình/kế hoạch cổ phần hoá; bổ sung vào chương trình/kế hoạch cổ phần hóa hàng năm các doanh nghiệp đã cổ phần hóa nhưng Nhà nước vẫn giữ cổ phần chi phối;

− Thực hiện các biện pháp đề cập ở trên.

5. Chính sách giá

5.1. Thông tin chung và quá trình gia nhập WTO

Để WTO vận hành hiệu quả thì một giả định ban đầu là mức giá tại các nước Thành viên phải do thị trường quyết định. Đó là lý do tại sao trong tất cả các cuộc đàm phán gia nhập, chính sách giá cũng như các tình huống khi Chính phủ can thiệp vào giá lại được xem xét một cách kỹ lưỡng.

Trong tiến trình gia nhập, một số Thành viên WTO đã thể hiện lo ngại về việc Chính phủ can thiệp vào các quyết định giá của doanh nghiệp, điều này có thể tác động xấu tới nhập khẩu thông qua chính sách giá tối thiểu hay hệ thống giá mua tối thiểu, v.v…Trên thực tế, trước đây Việt Nam duy trì hệ thống hai giá đối với một số sản phẩm và dịch vụ trước khi gia nhập, hệ thống này phân biệt đối xử giữa các cá nhân, tổ chức Việt Nam và cá nhân, tổ chức nước ngoài. Tuy nhiên, hệ thống này đã dần được loại bỏ và tới cuối năm 2005 đã hoàn toàn bị chấm dứt. Một số quan tâm khác mà các Thành viên WTO nêu lên cũng được giải đáp và Việt Nam đã đưa ra các cam kết rằng việc thực hiện chính sách giá tại Việt Nam là phù hợp với các quy tắc của WTO và Chính phủ tôn trọng quyền của các doanh nghiệp và cá nhân hoạt động hợp pháp tại Việt Nam trong việc đưa ra giá của hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ. Do đó hầu hết các mức giá là do các lực lượng thị trường quyết định. Kể từ năm 2003, Chính phủ chỉ còn kiểm soát giá đối với xăng dầu, điện, các dịch vụ bưu chính viễn thông, giá cước hàng không giữa Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, và nước sạch. Kiểm soát giá cũng được áp dụng đối với một số dịch vụ viễn thông.12

5.2. Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam

Việt Nam cam kết sẽ áp dụng các biện pháp quản lý giá phù hợp với quy định của WTO, có tính đến lợi ích của các nước xuất khẩu là Thành viên của WTO như được quy định tại Điều III.9 của Hiệp định GATT 1994 và Điều VIII của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS). Bên cạnh đó, Việt Nam cũng xác nhận rằng Việt Nam đã công bố danh mục các hàng hóa và dịch vụ chịu sự kiểm soát giá của Nhà nước cũng như bất kỳ thay đổi nào đối với danh mục này trên Công báo và việc công bố này vẫn được tiếp tục duy trì sau khi gia nhập WTO.

5.3. Tác động của các cam kết gia nhập

Trên thực tế, cơ chế giá hiện tại của Việt Nam đã phù hợp với các cam kết gia nhập WTO về kiểm soát giá, do đó việc thực thi các cam kết này, ngoại trú cam kết về minh bạch hóa, sẽ không tạo ra thêm nghĩa vụ cho Việt Nam. Tuy nhiên việc gia nhập WTO về tổng thể sẽ có một số tác động về giá cả, ví dụ như quá trình hội nhập kinh tế nói chung và gia nhập WTO nói riêng sẽ góp phần làm giảm giá hàng hóa và dịch vụ trên thị trường nội địa. Do nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ chiếm tỷ trọng đáng kể trong tiêu dùng nội địa, việc giảm thuế sẽ làm giảm giá trong nước, đưa các mức giá này gần giá cả trên thị trường thế giới hơn. Do đó, chi phí nói chung của nền kinh tế sẽ giảm đi, tăng cường hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, việc hội nhập sâu hơn cũng khiến cho giá cả của hàng hóa và dịch vụ nhạy cảm hơn với sự biến động về giá trên thị trường thế giới, do đó cần theo dõi sát những thay đổi đối với giá cả hàng hóa và dịch vụ có ảnh hưởng tới phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Giá cả của một số mặt hàng nhạy cảm như xăng dầu và một số loại dược phẩm thay đổi đột ngột có thể gây ra lo ngại đặc biệt về kinh tế – xã hội. Việc định giá của độc quyền, kể cả định giá của các công ty thương mại và sản xuất xuyên quốc gia cần phải được giám sát để tránh xáo trộn lớn đối với giá cả.

Do đó, trong tương lai Chính phủ cần tiếp tục kiên định thực thi cơ chế giá dựa trên các nguyên tắc thị trường, không chỉ để thực thi các cam kết WTO mà còn để đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải cách. Chính phủ sẽ tiếp tục thu hẹp danh sách hàng hóa chịu kiểm soát giá, giảm xuống chỉ còn một vài hàng hóa và dịch vụ độc quyền như một số sản phẩm công và hàng hóa thiết yếu của xã hội. Trong ngắn hạn, việc mua bán xăng dầu sẽ tuân theo cơ chế thị trường, sẽ chấm dứt bù lỗ cho nhập khẩu xăng dầu từ năm 2008. Bên cạnh đó, đấu thầu, đấu giá, định giá trong nước cùng với việc giám sát, kiểm tra và thực hiện sẽ được củng cố. Chính phủ tôn trọng quyền định giá của các cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh doanh phù hợp với quy định của pháp luật. Chính phủ cũng sẽ thực hiện các biện pháp phù hợp để bình ổn giá nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các thương nhân, cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức cũng như quyền lợi của người tiêu dùng và Nhà nước. Chính phủ sẽ đẩy nhanh tiến trình phi điều tiết hóa giá cả và ban hành các văn bản pháp luật mới sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Giá và sẽ xem xét dự thảo Luật về Kiểm soát giá.

6. Chính sách cạnh tranh

Việt Nam thông báo cho Ban công tác về nội dung của Luật Cạnh tranh có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2005. Luật Cạnh tranh được áp dụng đối với tất cả các doanh nghiệp dù là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp do Nhà nước kiểm soát, doanh nghiệp được cổ phần hoá hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và áp dụng cho cả các hiệp hội ngành nghề. Luật Cạnh tranh công nhận quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp và bảo hộ quyền cạnh tranh trong kinh doanh. Luật Cạnh tranh cấm các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh.13 Do WTO không có các quy định về chính sách cạnh tranh, Việt Nam không bị yêu cầu phải đưa ra cam kết cụ thể nào trong lĩnh vực này.

Chú thích:

4. Về mô tả sự phát triển hệ thống thanh toán và giao dịch ngoại hối của Việt Nam, đề nghị xem các đoạn 18-31 trong Báo cáo của Ban công tác.

5. Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01/11/2005

6. Các đoạn 32-35 trong Báo cáo của Ban công tác

7. Các đoạn 36-51 trong Báo cáo của Ban Công tác.

8. Các đoạn từ 52 tới 79 trong Báo cáo của Ban công tác

9. Đoạn 46 trong Báo cáo của Ban công tác về việc Trung Quốc gia nhập WTO.

10. Xem tài liệu WT/ACC/10/Rev.3 của WTO

11. Các đoạn từ 80 tới 94 trong Báo cáo của Ban công tác

12. Các đoạn từ 96 tới 102 trong Báo cáo của Ban công tác .13 Về mô tả chi tiết nội dung của Luật cạnh tranh, đề nghị xem đoạn 105-109 trong Báo cáo của Ban công tác.

SOURCE: VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI – GIẢI THÍCH CÁC ĐIỀU KIỆN GIA NHẬP. MUTRAP II (DỰ ÁN HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN)TRẦN HỮU BƯU, NGUYỄN VÂN CHI, PHẠM THỊ TƯỚC, TRƯƠNG THÙY LINH, TRẦN HÀO HÙNG VÀ TRỊNH MINH ANH

>> Xem thêm:  Cơ chế phối hợp giải quyết thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp đối với nhà đầu tư nước ngoài

4. Tìm hiểu các quy định chống bán phá giá của Trung Quốc và quá trình hài hòa hóa các quy định của WTO

Từ khi tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thành lập, Trung Quốc đã nỗ lực không ngừng để thiết lập hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại thông qua những thay đổi về cơ cấu tổ chức và luật pháp.

Bằng những thay đổi này, Trung Quốc có thể làm chi tiết hơn các điều khoản chống bán phá giá của WTO bao gồm cả điều khoản định nghĩa về ngành sản xuất nội địa. Hơn nữa, nhìn chung các biện pháp mang tính thủ tục đã được tăng cường trong hệ thống các biện pháp chống bán phá giá của Trung Quốc.

Cho dù đã có những cải thiện tổng thể hệ thống biện pháp khắc phục thương mại của Trung Quốc thì vấn thiếu khái niệm về một số thuật ngữ luật quan trọng bao gồm khái niệm “các nhà sản xuất có liên quan”, “tiêu chuẩn nhập khẩu không đáng kể” và các yếu tố điều chỉnh để có sự so sánh công bằng giữa giá thông thường và giá xuất khẩu và một số vấn đề về luật liên quan đến các cam kết về giá và hệ thống các biện pháp đối kháng vẫn đang tiếp tục được giải quyết. Trung Quốc sẽ tiếp tục nhiệm vụ làm minh bạch và cải thiện các quy định thương mại của mình.

Trong nỗ lực gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và do áp lực từ phía các đối tác thương mại, Trung Quốc đang từng bước cải cách và hiện đại hoá hệ thống các luật lệ thương mại của mình. Do Trung Quốc thúc đấy quá trình tự do hoá thị trường sau khi WTO được thành lập nên các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong thương mại đã được nới lỏng. Vì vậy Trung Quốc cần bảo hộ các ngành sản xuất nội địa không thể cạnh tranh được với các nhà xuất khẩu nước ngoài và đưa ra các biện pháp để khắc phục thiệt hại mà các doanh nghiệp trong nước phải gánh chịu do thương mại bất bình đẳng. Do đó Trung Quốc đã rất nỗ lực để thiết lập nên hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại trong các quy định thương mại vừa mới được ban hành của mình.

Nguồn luật chính điều chỉnh các mối quan hệ trong ngoại thương của Trung Quốc là Luật Ngoại Thương của CHDC ND Trung Hoa. Luật này có 11 chương bao gồm các điều khoản chung, thương nhân ngoại thương, xuất nhập khẩu hàng hoá và công nghệ, thương mại quốc tế trong dịch vụ, bảo hộ các lĩnh vực khác liên quan đến thương mại như quyền sở hữu trí tuệ, trật tự trong ngoại thương, các cuộc điều tra ngoại thương, biện pháp ngoại thương, xúc tiến ngoại thương, trách nhiệm pháp lý và các điều khoản thi hành. Các quy định về chống bán phá giá thuộc chương về các biện pháp khắc phục ngoại thương.

Tìm hiểu các quy định chống bán phá giá của Trung Quốc và quá trình hài hòa hóa các quy định của WTO

Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

Để cụ thể hoá các quy định về các biện pháp khắc phục thương mại, năm 1997 Hội đồng nhà nước Trung Quốc đã ban hành các quy định và thủ tục kiện chống bán phá giá và đối kháng, gọi là các quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp của CH DCND Trung Hoa (thường được gọi là Quy định cũ). Khi các quy định này được soạn thảo, trong các quy định liên quan đến chống bán phá giá chỉ duy nhất Trung Quốc là vẫn bảo hộ các doanh nghiệp của mình trong các cuộc điều tra chống bán phá giá do các thành viên của WTO tiến hành. Cho đến tận cuối năm 1997 Trung Quốc mới khởi xướng cuộc điều tra chống bán phá giá đầu tiên đối với giấy in báo. Do vậy, dù các quy định được soạn thảo bằng cách tham khảo Hiệp định các biện pháp đối kháng, chống trợ cấp và chống bán phá giá của WTO thì rất nhiều điều khoản trong đó khá chung chung, hầu như không hướng dẫn về việc áp dụng các quy định vào thực tế như thế nào. Hơn nữa, một số điều khoản trong đó khác với trong các hiệp định của WTO. Trong suốt quá trình đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc, một số thành viên WTO lo ngại rằng hệ quả của việc áp dụng các điều khoản này là các cuộc điều tra về các biện pháp khắc phục thương mại mà chính quyền Trung Quốc tiến hành sẽ không phù hợp với các quy định của WTO nếu như Trung Quốc trở thành thành viên của WTO.

Việc Trung Quốc cam kết thay đổi luật và các quy định thương mại theo hướng phù hợp với các Hiệp định của WTO là một phần trong tiến trình gia nhập. Theo đó, Trung Quốc phải bãi bỏ các quy định cũ và ban hành hai quy định mới là “Các quy định về chống bán phá giá” và “Các quy định về chống trợ cấp” bằng cách tách các vấn đề về chống bán phá giá ra khỏi các vấn đề về trợ cấp đối kháng. Các quy định này có hiệu lực từ 01/01/2002 ngay sau khi lộ trình gia nhập vào WTO được Quốc hội Trung Quốc phê chuẩn. Quy định mới về chống bán phá giá được đưa ra một cách toàn diện và cụ thể với 59 điều khoản trong 6 chương. Các quy định này được chi tiết hoá bởi rất nhiều các quy định tạm thời do MOFTEC và Hội đồng nhà nước về Thương mại và Kinh tế (SETC) ban hành.

Theo Điều 71 Hiến pháp Trung Quốc, đối với các vấn đề thuộc quyền hạn của chính quyền, các bộ, các uỷ ban và các cơ quan ban ngành khác của Nhà nước có thể ban hành các quy định phù hợp với luật quốc gia, các quyết định và chỉ thị mang tính hành chính của Hội đồng nhà nước. Trong thực tế các quy định này tồn tại dưới hình thức các quy định tạm thời do chưa có một luật hay quy định hành chính hiện hành nào phù hợp hoặc do Quốc hội hay Uỷ ban Nhà nước chưa sẵn sàng soạn thảo luật cho một vấn đề cụ thể nhưng các quy định lại trở nên rất cần thiết. Người ta dự định rằng các quy định tạm thời sẽ dần được thay thế bởi các luật cụ thể hay các quy định hành chính.

Theo Nghị quyết của Quốc hội về Cải cách thể chế của Uỷ ban nhà nước và thông báo của Uỷ ban Nhà nước về cơ cấu tổ chức thì Chính phủ Trung Quốc phải xem xét kỹ lưỡng việc cơ cấu lại then chốt vào tháng 03/2003. Do vậy Bộ Thương mại (MOFCOM) được thành lập để đảm nhận trách nhiệm của MOFTEC và SETC, trong đó có vai trò điều chỉnh bán phá giá và trợ cấp. Về thay đổi cơ cấu tổ chức, Quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp đã được sửa đổi vào tháng 3/2004 và có hiệu lực từ 01/06/2004. Quy định về chống bán phá giá năm 2004 bao gồm nhiều vấn đề từ xác định việc bán phá giá, tính toán biên độ, xác định thiệt hại, quy trình điều tra, thuế chống bán phá giá, cam kết về giá, rà soát cuối kỳ và thông báo. Vào tháng 10/2003, MOFCOM đã ban hành “Quy định về thiệt hại ngành trong cuộc điều tra chống bán phá giá” và “Quy định về thiệt hại ngành trong cuộc điều tra chống trợ cấp”.

Bài viết này sẽ phân tích hệ thống luật chống bán phá giá của Trung Quốc tập trung vào các vấn đề mang tính quy trình. Để làm được việc này thì Luật Ngoại Thương, Quy định chống bán phá giá, các quy định tạm thời và các quy định của MOFCOM sẽ được đưa ra xem xét. Những quy định mang tính quy trình thuộc các luật và quy định này sẽ được so sánh với Hiệp định chống bán phá giá của WTO để xem xét xem liệu luật và quy định về chống bán phá giá của Trung Quốc có phù hợp với các quy định của WTO hay không.

a. Đơn xin điều tra và vai trò của các ngành sản xuất nội địa

Luật Ngoại thương của Trung Quốc trao quyền được tiến hành các cuộc điều tra chống bán phá giá cho một cơ quan ngang bộ thuộc Hội đồng nhà nước chịu trách nhiệm về ngoại thương. Theo Nghị quyết của Quốc hội về cải cách thể chế nhà nước và Thông báo của Hội đồng nhà nước về cơ cấu tổ chức thì công việc này đang được MOFCOM đảm nhiệm, cơ quan này có thể tự tiến hành điều tra hoặc điều tra khi nhận được đơn kiện của ngành sản xuất nội địa. Quy định về chống bán phá giá của Trung Quốc công nhận quyền khởi kiện của một ngành sản xuất nội địa, một cá nhân, một pháp nhân hay một tổ chức có liên quan đại diện cho ngành sản xuất nội địa đệ đơn lên MOFCOM xin tiến hành một cuộc điều tra chống bán phá giá.

Quyền đệ đơn được đề cập trong các quy định tạm thời về Tiến hành điều tra chống bán phá giá. Theo các quy định này thì một đơn kiện phải do một ngành sản xuất nội địa hoặc tổ chức đại diện đưa ra và khi đó cơ quan chức năng sẽ tiến hành điều tra chống bán phá giá nếu các nhà sản xuất trong nước ủng hộ đơn kiện này có sản lượng sản phẩm tương tự chiếm hơn 50% tổng sản lượng được sản xuất ra bởi tất cả các nhà sản xuất trong nước đã bày tỏ ý kiến ủng hộ hoặc phản đối đơn kiện và sản lượng sản phẩm tương tự của các nhà sản xuất này chiếm ít nhất là 25% tổng sản lượng sản phẩm tương tự của toàn bộ ngành sản xuất trong nước. Nếu ngành sản xuất nội địa sụp đổ và kéo theo một số lượng lớn các nhà sản xuất khác thì MOFCOM sẽ xem xét lại vai trò của nguyên đơn bằng các phương pháp thống kê lấy mẫu đang được sử dụng.

Theo các nguyên tắc và quy định tạm thời của Trung Quốc, thuật ngữ “ngành sản xuất nội địa” được hiểu là toàn bộ các nhà sản xuất sn phẩm tương tự ở Trung Quốc hoặc một số nhà sản xuất trong đó có sản lượng sản phẩm chiếm tỷ lệ lớn trong tổng sản lượng sản phẩm đó trên cả nước và “tỷ lệ lớn” này là hơn 50%. Một số nhà sản xuất trong nước sẽ không nằm trong danh sách các nhà sản xuất nội địa nếu các nhà sản xuất này có liên quan tới các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu sản phẩm này hoặc chính họ là các nhà nhập khẩu hàng hóa hoặc các sản phẩm tương tự được bán phá giá.

Thêm vào đó, các quy định tạm thời bao gồm cả khái niệm “khu vực sản xuất nội địa vùng”. Theo đó, những nhà sản xuất ở một khu vực nhất định trong nước có thể được coi như một ngành sản xuất riêng biệt (ngành sản xuất nội địa vùng) miễn là họ bán tất cả hoặc hầu hết các sản phẩm tương tự ở khu vực thị trường đó, và các nhà sản xuất ở những khu vực khác của Trung Quốc không đáp ứng đủ nhu cầu về sản phẩm tương tự của thị trường này. Khi xác định một “ngành sản xuất nội địa vùng” như vậy thì phải tính đến cả tình hình bán hàng và nhu cầu với sản phẩm ở trong khu vực đó.

Một vài khía cạnh trong các quy định và luật lệ của Trung Quốc có thể được đưa ra xem xét bằng cách so sánh với luật lệ của WTO. Điểm phân tích đầu tiên là khái niệm ngành sản xuất nội địa. Làm thế nào để định nghĩa khái niệm “ngành sản xuất nội địa” là một vấn đề thiết yếu liên quan đến các vấn đề như vị trí, xác định thiệt hại, phạm vi các loại sản phẩm chịu thuế chống bán phá giá. Theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO, thuật ngữ “ ngành sản xuất nội địa” dùng để chỉ các nhà sản xuất sản xuất tất cả các sản phẩm tương tự hoặc các nhà sản xuất có sản lượng sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng sản phẩm tương tự sản xuất trong nước. Do thuật ngữ “tỷ trọng lớn” không được định nghĩa trong Hiệp định chống bán phá giá của WTO nên vẫn có nhiều tranh luận khi thuật ngữ này được dịch ra.

Ví dụ như trong Vụ kiện chống bán phá gía sản phẩm gia cầm của Argentina, Brazil đã kiện rằng do thuật ngữ “a major proportion” cũng giống như “the majority” (có nghĩa là hơn 50%) nên Argentina đã vi phạm quy định của WTO khi cho rằng ngành sản xuất nội địa là những nhà sản xuất có tổng sản lượng chiếm hơn 46% tổng sản phẩm nội địa và thu thập được những số liệu về thiệt hại liên quan đến các nhà sản xuất này.

Chống lại đơn kiện này, Argentina (bên bị đơn), Mỹ và EC (các bên thứ 3) lập luận rằng việc sử dụng thuật ngữ “a major proportion” khác với “the major proportion”, “the major proportion” không nhất thiết phải là một tỷ trọng lớn. Theo họ, “a major proportion” có nghĩa là một tỷ trọng có ý nghĩa quan trọng mà không nhất thiết phải là tỷ trọng lớn. Các lý do mà Hoa Kỳ và EC đưa ra cho việc dịch các thuật ngữ này là:

(i) Thực tế là các nhà soạn thảo ra điều khoản về ngành sản xuất nội địa đã nêu không rõ ràng về thuật ngữ “tỷ lệ 50%” trái với điều 5.4 (tỷ lệ yêu cầu là 50%). Điều 5.4 chỉ ra rằng họ dự định đưa ra một tiêu chuẩn khác.

(ii) Theo điều 5.4, một đơn kiện có thể được coi là đại diện cho ngành sản xuất nội địa thậm chí nếu các nhà sản xuất ủng hộ đơn này có sản lượng sản xuất ra chiếm dưới 50% tổng sản phẩm nội địa. Vì thế cho nên ở điều 4.1, tỷ trọng chủ yếu có thể dưới 50%.

(iii) Điều 4.1 chỉ đề cập đến khái niệm “ngành sản xuất nội địa” và không đặt ra bất kỳ trách nhiệm nào cho các thành viên.

Trong khi khước từ khiếu nại của Mỹ rằng điều 4.1 chỉ đơn thuần là một điều khoản nêu định nghĩa, thì Ban hội thẩm cũng tán thành quan điểm của Mỹ và EC rằng chúng ta được phép định nghĩa “ngành sản xuất nội địa” theo hướng là các nhà sản xuất trong nước mà chiếm giữ tỷ lệ quan trọng, có ý nghĩa trong tổng sản phẩm nội địa.

Vấn đề này cũng đang được đưa ra tranh luận trong các vòng đàm phán Doha. Thí dụ như Nhóm các nước chống bán phá giá đã đưa ra quy định về ngưỡng 50%. Theo nhóm này thì nếu được chấp thuận tỉ lệ này có thể tăng cường tính nhất quán trong việc xác định thiệt hại trong quy trình điều tra chống bán phá giá. Cho dù quy định nào được áp dụng thì Các quy định của Trung Quốc dường như vẫn phù hợp với các quy định của WTO vì tỷ lệ hơn 50% chắc chắn là một tỷ lệ lớn. Quy định này là một minh chứng cho sự rõ ràng về nghĩa trong các điều khoản của WTO.

Điểm phân tích thứ hai là trong khái niệm ngành sản xuất nội địa không đề cập đến phạm vi của các nhà sản xuất. Hiệp định chống bán phá giá của WTO cho phép loại trừ các thành viên của mình ra khỏi phạm vi của ngành sản xuất nội địa mà được gọi là “các nhà sản xuất có liên quan”, họ là các nhà sản xuất trong nước có liên quan tới các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu hoặc chính họ là những nhà nhập khẩu các sản phẩm được cho là bán phá giá. Hiệp định này đưa ra định nghĩa cho từ “có liên quan” mà sử dụng mối quan hệ với từ “kiểm soát” là tiêu chuẩn chính như sau:

Các nhà sản xuất được cho là có liên quan tới các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu chỉ khi (a) một bên trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát bên kia; hoặc (b) cả hai bên đều bị kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp bởi một bên thứ 3; hoặc (c) cả hai trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát một bên thứ 3 miễn là có cơ sở để tin tưởng hay nghi ngờ rằng ảnh hưởng của mối liên hệ như vậy khiến cho các nhà sản xuất có liên quan cư xử khác với các nhà sản xuất không liên quan.

Theo các quy định của Trung Quốc, các cơ quan điều tra có thể loại trừ các nhà sản xuất trong nước có liên quan tới các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu hoặc chính họ là những nhà nhập khẩu sản phẩm được cho là bán phá giá. Tuy nhiên nếu loại trừ quá mức thì sẽ tạo ra sự thiếu nhất quán. Hiệp định của WTO cho phép loại trừ một số nhà sản xuất có liên quan nhất định được đề cập trong Hiệp định chống bán phá giá. Hiệp định này đặt ra 2 điều kiện để được xem là các nhà sản xuất có liên quan: (i) sự tồn tại mối liên hệ kiểm soát; và (ii) bất kỳ lý do nào để nghi ngờ rằng ảnh hưởng của mối liên hệ đó sẽ khiến cho các nhà sản xuất có liên quan cư xử khác với các nhà sản xuất không liên quan. Trong trường hợp mà việc loại trừ các nhà sản xuất có liên quan là một yêu cầu quan trọng thì trách nhiệm chứng minh liệu các điều kiện này có phù hợp trong một trường hợp cụ thể hay không thuộc về bên cố gắng loại trừ một số các nhà sản xuất nhất định ra khỏi phạm vi của ngành sản xuất nội địa với lý do là có sự tồn tại của mối liên hệ kiểm soát. Có nghĩa là nếu một cơ quan điều tra đang cố gắng giới hạn ngành sản xuất nội địa bằng cách loại trừ một số các nhà sán xuất trong nước nhất định thì cơ quan này không những phải chỉ ra mối liên hệ kiểm soát tồn tại giữa các nhà sản xuất và các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu mà còn phải đưa ra cơ sở cho sự nghi ngờ rằng mối liên hệ này sẽ dẫn tới các cách cư xử khác nhau của họ. Do vậy khi đưa ra quyết định về nhà sản xuất có liên quan nếu cơ quan điều tra bỏ qua việc xem xét điều kiện hoặc đẩy trách nhiệm chứng minh cho các nhà xuất khẩu hoặc cho bên đệ đơn thì họ đã vi phạm các quy định có liên quan của WTO.

MOFCOM có thể định nghĩa thuật ngữ “các nhà sản xuất có liên quan” theo nghĩa rộng hơn trong hiệp định của WTO. Điều này có thể xảy ra khi điều kiện thứ hai không được xem xét tới hoặc khi chuyển giao trách nhiệm chứng minh. Nếu được hiểu theo nghĩa rộng hơn thì bất kỳ nhà sản xuất nào mà không có liên quan tới các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu cũng có thể được xem như các nhà sản xuất có liên quan và loại trừ ra khỏi phạm vi của ngành sản xuất nội địa. Trong trường hợp không có điều khoản định nghĩa cho thuật ngữ “ có liên quan” trong luật và các quy định của Trung Quốc (mà trái ngược với hiệp định của WTO) thì sẽ luôn luôn tiềm ẩn khả năng loại trừ quá mức và sự thiếu nhất quán với quy định của WTO.

Điểm thứ ba là điều khoản về ngành sản xuất nội địa vùng trong các quy định của Trung Quốc phù hợp với Hiệp định chống bán phá giá của WTO ở chỗ là cả hai đều điều chỉnh các yếu tố như nhau (ví dụ như tình hình kinh doanh và nhu cầu) được xem như các tiêu chí để nhận biết một ngành sản xuất nội địa độc lập. Trong thực tế mặc dù hiếm khi được MOFCOM sử dụng nhưng điều khoản này rất phù hợp khi được áp dụng ở một lãnh thổ rộng lớn như Trung Quốc. Theo các quy định của WTO, khi nhận biết một ngành sản xuất nội địa vùng thì thuế chống bán phá giá sẽ được áp dụng chủ yếu với các sản phẩm trong diện nghi vấn được bán để phục vụ cho việc tiêu dùng cuối cùng ở khu vực cụ thể. Các cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc vẫn rất chú ý đến điều này khi đưa ra các quyết định.

b. Tiến hành điều tra

Theo các quy định chống bán phá giá của Trung Quốc, trong vòng 60 ngày kể từ khi có đơn kiện, MOFCOM phải xem xét nội dung của đơn, chứng cứ và đơn có do ngành sản xuất nội địa hay đại diện của họ đưa ra hay không, đồng thời quyết định có tiến hành điều tra hay không. Trước khi đưa ra quyết định tiến hành điều tra MOFCOM phải thông báo quyết định này cho chính phủ của nước xuất khẩu. Trách nhiệm thông báo trước này phù hợp với quy định của Hiệp định chống bán phá giá của WTO.

Trong trường hợp ngoại lệ, MOFCOM có thể tiếp tục tự mình tiến hành một cuộc điều tra chống bán phá giá. Để làm được điều này, MOFCOM phải đưa ra các chứng cứ đầy đủ về việc bán phá giá, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố đó. Cơ chế tự điều tra và các điều kiện phải phù hợp với quy định chống bán phá giá của WTO.

Theo các quy định của Trung Quốc, MOFCOM phải kết thúc điều tra khi xảy ra một trong các trường hợp sau:

(i) bên kiện rút đơn

(ii) không có đầy đủ chứng cứ về việc bán phá giá, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố đó.

(iii) biên độ phá giá dưới 2%

(iv) số lượng thực tế và ước tính của hàng nhập khẩu bị bán phá giá hoặc thiệt hại là không đáng kể

(v) các trường hợp khác mà MOFCOM cho là không thích hợp để tiếp tục điều tra chống bán phá giá.

Các căn cứ để kết thúc điều tra có vẻ phù hợp với các quy định chống bán phá giá của WTO trong Hiệp định chống bán phá giá của WTO quy định mức chuẩn biên độ phá giá tối thiểu là 2%. Tuy nhiên vẫn nảy sinh các tranh luận xung quanh tiêu chuẩn “số lượng nhập khẩu không đáng kể”. Theo quy định của WTO thì nếu lượng hàng hoá bán phá giá nhập khẩu từ một nước nhất định chiếm dưới 3% lượng nhập khẩu hàng hóa tương tự của nước nhập khẩu thì lượng hàng hoá nhập khẩu bán phá giá được coi là không đáng kể, và cơ quan điều tra phải chấm dứt quá trình điều tra. Trong Quy định về chống bán phá giá của Trung Quốc thì mức tiêu chuẩn lượng nhập khẩu 3% này được nêu ra trong Điều 9 về “đánh giá tích lũy về bán phá giá” , trong khi đó một mức tiêu chuẩn như vậy lại không được nêu ra trong Điều 27, điều khoản chung quy định về bất cứ trường hợp nào mà hàng hoá nhập khẩu không đáng kể. Về lý thuyết, người ta có thể nghi ngờ việc MOFCOM sử dụng mức tiêu chuẩn 3% khi đánh giá lượng hàng nhập khẩu bán phá giá là không đáng kể chứ không cộng dồn lượng hàng hoá bán phá giá được nhập khẩu từ nhiều nước. Do vậy nếu MOFCOM tiến hành bất cứ cuộc điều tra nào hoặc không chấm dứt điều tra thì sẽ là vi phạm các quy định của WTO cho dù lượng nhập khẩu hàng bán phá giá từ một nước cụ thể chiếm dưới 3% lượng hàng nhập khẩu tương tự ở Trung Quốc. Tuy nhiên trong thực tế MOFCOM đã chấp nhận mức chuẩn 3% như một mức ngưỡng để xác định lượng hàng nhập khẩu không đáng kể trong mọi trường hợp.

C. Xác định biên độ phá giá

Biên độ phá giá là mức độ chênh lệch giữa giá xuất khẩu với giá thông thường của hàng nhập khẩu. Do vậy làm thế nào để so sánh giá xuất khẩu với giá thông thường là một vấn đề quan trọng trong việc xác định biên độ phá giá.

Theo Các quy định về chống bán phá giá của Trung Quốc, MOFCOM có thể lựa chọn hai phương pháp so sánh sau: cách thứ nhất là so sánh giá thông thường bình quân trọng số với giá trung bình trong tất cả các giao dịch xuất khẩu có thể so sánh được (gọi là so sánh “A-to-A”); cách thứ hai là so sánh giá thông thường với giá xuất khẩu dựa trên cơ sở các giao dịch (gọi là so sánh “T-to-T”). Do các mức giá xuất khẩu chênh lệch đáng kể giữa những người mua khác nhau, các khu vực và khoảng thời gian khác nhau nên rất khó để so sánh bằng những phương pháp này, khi đó có thể so sánh giữa giá thông thường bình quân và giá trong những giao dịch xuất khẩu đơn lẻ (gọi là so sánh “A-to-T). Các điều khoản này có được là do nỗ lực chi tiết hoá và cải thiện các điều khoản trong quy định cũ mà trong đó chỉ đơn giản là so sánh giá xuất khẩu với giá thông thường một cách hợp lý và công bằng.

Theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO, trong các trường hợp ngoại lệ các cơ quan điều tra có thể áp dụng phương pháp so sánh A-to-T. Nếu sử dụng phương pháp này thì cơ quan điều tra phải giải thích nguyên nhân tại sao không áp dụng các phương pháp thông thường như A-to-A hoặc T-to-T. Điều này có nghĩa là cơ quan điều tra có trách nhiệm phải chỉ ra một trường hợp ngoại lệ.

Theo Quy định của Trung Quốc thì các cơ quan điều tra có thể chấp nhận phương pháp A-to-T trong các trường hợp ngoại lệ nhưng không có trách nhiệm trong việc đưa ra nguyên nhân. Do vậy trong rất nhiều cuộc điều tra cơ quan điều tra đã đẩy trách nhiệm chỉ ra các trường hợp ngoại lệ sang các nhà xuất khẩu hoặc các nhà sản xuất liên quan tới cuộc điều tra. Hơn nữa theo các quy định về chống bán phá giá của WTO thì Ban hội thẩm của WTO chỉ có thể xác định rằng thông tin mà cơ quan điều tra đưa ra có chính xác và các đánh giá của họ về sự việc đó có công bằng và khách quan hay không. Do vậy nếu WTO tranh luận về việc áp dụng phương pháp A-to-T của MOFCOM thì bên khiếu nại sẽ không những phải chỉ ra rằng không có trường hợp đặc biệt nào mà còn phải chỉ rằng đánh giá về sự việc của MOFCOM (tức là phán quyết của MOFCOM là không tồn tại trường hợp đặc biệt nào) là không công bằng và thiếu khách quan. Đây là trách nhiệm nặng nề cho các nhà xuất khẩu hoặc sản xuất liên quan đến cuộc điều tra chống bán phá giá. Nếu như MOFCOM áp dụng phương pháp A-to-T mà không giải thích tại sao các phương pháp so sánh thông thường không được áp dụng để làm làm rõ việc giá xuất khẩu chênh lệch đáng kể giữa những người mua, những khu vực và khoảng thời gian khác nhau, thì điều này là vi phạm các quy định của WTO.

Một vấn đề khác trong hệ thống luật của Trung Quốc là cho dù đã sửa đổi những Quy định cũ nhưng hệ thống luật này vẫn không chỉ rõ chúng ta phải xem xét những nhân tố điều chỉnh nào khi so sánh một cách công bằng giá thông thường và giá xuất khẩu. Xem xét vấn đề này, Hiệp định chống bán phá giá của WTO đã nêu rõ các nhân tố khác nhau về thời gian và cấp độ giao dịch khi so sánh. Hiệp định còn giải quyết vấn đề chuyển đổi tiền tệ và sự biến động của tỷ giá hối đoái. So sánh cũng cho thấy rằng Quy định cũ của Trung Quốc có một nguyên tắc khá đơn giản rằng “giá xuất khẩu và giá thông thường của một sản phẩm xuất khẩu sẽ được so sánh công bằng và hợp lý với điều kiện là các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng so sánh về giá. Các nhân tố này là gì và làm thế nào để xem xét chúng là những câu hỏi mà các cơ quan điều tra của Trung Quốc đang băn khoăn. Sự cân nhắc này có thể không phù hợp với các quy định của WTO.

D. Các cam kết về giá

Trong suốt quá trình điều tra chống bán phá giá, một nhà xuất khẩu bán phá giá hàng hóa có đề xuất với MOFCOM một cam kết nhằm thay đổi mức giá bán hoặc ngừng xuất khẩu hàng hoá bán phá giá. Cam kết này được gọi là “cam kết về giá”. Điều khoản Cam kết về giá của Trung Quốc định nghĩa như sau:

Thuật ngữ “Cam kết về giá” được đề cập đến trong các quy định này là cam kết một cách tự nguyện của các nhà xuất khẩu và các nhà sản xuất với MOFCOM, họ hưởng ứng cuộc điều tra chống bán phá giá bằng cách thay đổi mức giá bán hoặc ngừng xuất khẩu hàng hóa đang được điều tra chống bán phá giá để được MOFCOM chấp thuận đình chỉ hoặc chấm dứt điều tra.

MOFCOM có thể đưa ra đề xuất cam kết về giá nhưng không được ép buộc các nhà xuất khẩu chấp thuận đề xuất đó. Thực tế là việc các nhà xuất khẩu hoặc các nhà sản xuất không đưa ra một cam kết về giá hoặc không chấp thuận một cam kết về giá được đề xuất có thể làm ảnh hưởng đến sự chính xác của cuộc điều tra, việc xác định bán phá giá và biên độ phá giá. Nếu MOFCOM cho rằng đề xuất cam kết về giá do các nhà xuất khẩu đưa ra có thể chấp nhận được thì MOFCOM có thể quyết định đình chỉ hoặc kết thúc điều tra chống bán phá giá mà không cần áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tạm thời hay áp thuế chống bán phá giá. Quyết định đình chỉ hoặc kết thúc điều tra phải được công bố. Nếu MOFCOM không chấp thuận đề xuất cam kết về giá thì MOFCOM phải đưa ra được lý do không chấp thuận cho các nhà xuất khẩu có liên quan. Nếu cơ quan điều tra không có kết luận sơ bộ khẳng định có hiện tượng bán phá giá và việc bán phá giá này gây thiệt hại thì sẽ không có các cam kết về giá.

Cho dù cuộc điều tra bị đình chỉ hay kết thúc thì MOFCOM vẫn có thể tiếp tục điều tra chống bán phá giá và xác định thiệt hại theo yêu cầu của nhà xuất khẩu hoặc nếu chính cơ quan này thấy cần thiết phải như vậy. Căn cứ vào kết quả của cuộc điều tra, cam kết về giá sẽ tự động chấm dứt nếu kết luận cuối cùng là không có việc bán phá giá hoặc không có thiệt hại, nếu kết luận là ngược lại thì cam kết vẫn có hiệu lực. MOFCOM có thể yêu cầu một trong số các nhà xuất khẩu chấp thuận cam kết về giá định kỳ cung cấp thông tin và tài liệu liên quan tới việc thực hiện cam kết về giá và xác minh những thông tin và tài liệu này. Những yêu cầu của MOFCOM là cần thiết để giám sát tình hình thực hiện các cam kết này.

Bên cạnh những điều khoản này thì trong các quy định và luật lệ của Trung Quốc có rất nhiều các điều khoản chi tiết về quy trình cam kết về giá. Hầu hết các quy định này không mâu thuẫn với Hiệp định của WTO vì chúng điều chỉnh những vấn đề về quy trình mà Hiệp định không đề cập tới.

Tuy nhiên có hai khía cạnh mà Quy định của Trung Quốc không phù hợp với quy định của WTO. Thứ nhất là trong các quy định tạm thời về cam kết giá thì MOFCOM có thể chỉ chấp thuận các đề xuất đưa ra bởi các nhà xuất khẩu hợp tác hiệu quả trong suốt quá trình điều tra. Theo Hiệp định của WTO, cam kết về giá đưa ra không nhất thiết phải được chấp thuận nếu cơ quan điều tra cho rằng sự chấp thuận này là không hợp lý hoặc vì lí do “chính sách chung” và khi từ chối thì cơ quan điều tra phải đưa ra lý do cho các nhà xuất khẩu và cho họ cơ hội đóng góp ý kiến.

Thiếu đi một chuẩn mực cho việc xác định rằng thế nào là “hợp tác hiệu quả” và không có sự áp dụng phù hợp cho các trường hợp thực tế nên sẽ rất khó khăn để nhận biết rằng lý do để từ chối một đề xuất cam kết về giá là thiếu “sự hợp tác hiệu quả” có phù hợp với quy định của WTO hay không. Thêm vào đó nếu cơ quan điều tra của Trung Quốc không đưa ra cho các nhà xuất khẩu lý do từ chối hoặc không cho họ cơ hội để đưa ra ý kiến, thì sẽ càng vi phạm các quy định của WTO. Trong văn bản trả lời các câu hỏi của Mexico tại cuộc họp của Uỷ ban về thực tiễn chống bán phá giá, Trung Quốc đã giải thích rằng nếu một công ty không hợp tác trong quá trình điều tra thì sẽ rất khó khăn để xác định rằng liệu cam kết về giá của công ty đó có được giám sát hiệu quả hay không. Vì vậy Trung Quốc thấy rằng sẽ là không phù hợp nếu chấp thuận những đề xuất như vậy. Tuy nhiên lý do này đưa ra là không thuyết phục do không có sự tương quan cần thiết giữa cách cư xử của các công ty trong suốt quá trình điều tra và quá trình thực hiện cam kết. Hơn nữa điều 8.6 của Hiệp định chống bán phá giá cũng đã đưa cho cơ quan điều tra chống bán phá giá các công cụ giám sát hữu hiệu đối với các nhà xuất khẩu không hợp tác, chẳng hạn như quyền thu thập thông tin từ các nhà xuất khẩu và áp dụng các biện pháp tạm thời, sử dụng thông tin tốt nhất sẵn có trong trường hợp có sự vi phạm cam kết.

Thứ hai là theo Quy định chống bán phá giá của Trung Quốc, nếu các nhà xuất khẩu vi phạm các thỏa thuận về cam kết giá thì cơ quan điều tra của Trung Quốc có thể tiếp tục cuộc điều tra dựa trên các thông tin sẵn có tốt nhất và quýêt định áp dụng các biện pháp tạm thời và áp thuế chống bán phá giá có hiệu lực hồi tố lên các sản phẩm nhập khẩu trong vòng 90 ngày trước khi áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tạm thời, miễn là trước khi vi phạm cam kết các sản phẩm nhập khẩu không bị áp thuế có hiệu lực hồi tố. Quy định “áp dụng hiệu lực hồi tố 90 ngày” này về cơ bản là phù hợp với các quy định của WTO.

Các Quy định tạm thời về cam kết giá quy định thêm rằng nếu trong kết luận cuối cùng đưa ra mức thuế chống bán phá giá chính thức thấp hơn mức đặt cọc trong kết luận sơ bộ, thì khoản chênh lệch phải được hoàn lại. Điều khoản này phù hợp với nguyên tắc bồi hoàn theo Hiệp định chống bán phá giá.

Tuy nhiên vấn đề nghiêm trọng về sự thiếu nhất quán với các quy định của WTO là ở đoạn sau của quy định này cho biết “nếu trong kết luận cuối cùng đưa ra mức thuế chống bán phá giá chính thức cao hơn mức đặt cọc trong kết luận sơ bộ thì khoản chênh lệch này vẫn bị đánh thuế.”

Theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO, trong trường hợp vi phạm cam kết về giá thì cơ quan điều tra có thể áp dụng các biện pháp tạm thời với nguồn thông tin sẵn có tốt nhất. Trong những trường hợp này, mức thuế chính thức áp dụng cho các sản phẩm tiêu dùng không quá 90 ngày trước khi áp dụng các biện pháp tạm thời phải phù hợp với Hiệp định. Một điều khoản khác của WTO quy định rằng “nếu thuế chống bán phá giá chính thức cao hơn thuế tạm thời đã thu thì mức chênh lệch sẽ không phải nộp bổ sung”. Điều khoản này không có ngoại lệ khi vi phạm cam kết về giá.

Từ các quy định này của WTO, có thể kết luận rằng trong trường hợp vi phạm cam kết về giá, bất kỳ khoản thu bổ sung nào đối với các khoản chênh lệch (nếu thuế chống bán phá giá chính thức cao hơn mức thuế tạm thời đã thu) sẽ không được coi là khoản thuế chính thức phù hợp với Hiệp định của WTO. Việc thu bổ sung như vậy sẽ dẫn tới sự vi phạm Hiệp định của WTO.

Quả thực là rất khó tìm ra một chính sách nào phù hợp để thu những khoản chênh lệch như vậy từ nhà xuất khẩu hay nhà sản xuất vi phạm cam kết. Thật không đúng khi các nhà xuất khẩu và nhà sản xuất vi phạm cam kết bị ngăn cản làm việc này do việc truy thu thuế có hiệu lực hồi tố. Các nhà xuất khẩu và sản xuất biết rằng trong trường hợp vi phạm họ phải phụ thuộc vào sự bất lợi của những thông tin sẵn có và vì vậy không có sự truy thu thuế có hiệu lực hồi tố nào có thể làm họ nản lòng thêm. Nói cách khác việc ngay lập tức áp mức thuế tạm thời trên cơ sở các thông tin sẵn có tốt nhất là đủ để chống lại việc vi phạm các cam kết. Chúng ta chỉ nên áp dụng thêm biện pháp truy thu thuế có hiệu lực hồi tố đối với các nhà xuất khẩu và sản xuất vi phạm cam kết mà hầu như không thể bào chữa được.

Kết luận

Hệ thống luật pháp hiện đại của Trung Quốc từ sau khi bắt đầu cải cách năm 1978 đã được hơn 25 năm. Các quy định khắc phục thương mại của Trung Quốc chỉ bắt đầu hình thành sau khi WTO được thành lập. Trong suốt khoảng thời gian ngắn ngủi này, Trung Quốc đã rất nỗ lực để thiết lập nên hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại của mình thông qua những sự thay đổi về luật pháp và cơ cấu tổ chức. Trong khi sự cải thiện tổng thể hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại của Trung Quốc là một bằng chứng rõ ràng thì vẫn thiếu các định nghĩa về một số thuật ngữ luật chủ yếu và một số vấn đề về luật vẫn cần được giải quyết và làm rõ. Tất nhiên sự im lặng trong luật và quy định của Trung Quốc về bản chất là không vi phạm các nghĩa vụ của WTO. Ở nhiều phần trong các luật và quy định của Trung Quốc như Điều 142 phần Các nguyên tắc chung của Luật dân sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Điều 9 trong Quy định về các vụ kiện hành chính trong thương mại quốc tế, nêu ra rằng các luật trong nước của Trung Quốc phải được hiểu theo cách phù hợp nhất với các giao ước quốc tế. Hơn nữa, chính phủ Trung Quốc thường xuyên thể hiện rằng họ rất sẵn lòng tuân theo các quy định của WTO khi không có điều khoản tương ứng nào ở các luật trong nước. Theo tuyên bố về nguyên tắc hiểu các luật trong nước và cách diễn đạt ý chí chính trị, Trung Quốc sẽ tiếp tục làm sáng tỏ và cải thiện các quy định thương mại.

Dường như với sự thành lập của MOFCOM, Trung Quốc đã hoàn thành các cải cách về tổ chức trong hệ thống các giải pháp khắc phục thương mại. Như một tổ chức mới chịu trách nhiệm về các giải pháp khắc phục thương mại, Bộ sẽ chấp thuận áp dụng các quy định mang tính thủ tục thay thế các quy định tạm thời do MOFCOM và SETC ban hành. Trong quá trình này, các vấn đề được đưa ra trong bài viết này sẽ phải được giải quyết thích đáng để hệ thống luật minh bạch hơn và phù hợp hơn với các chuẩn mực quốc tế.

Trên cơ sở quy mô của nền kinh tế Trung Quốc và tầm ảnh hưởng của các chính sách khắc phục thương mại của Trung Quốc, vấn đề này là thiết yếu và không chỉ tác động tới các doanh nghiệp và người tiêu dùng nội địa Trung Quốc mà còn tới hầu hết cộng đồng kinh doanh trên thế giới.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH – BỘ CÔNG THƯƠNG - LÊ DUY

Trích dẫn từ: http://www.qlct.gov.vn

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Cơ chế trao đổi thông tin về doanh nghiệp giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin thuế

5. Tác động của việc gia nhập WTO đến thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ở Việt Nam

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) thời gian qua đã hỗ trợ Việt Nam thực hiện thắng lợi nhiều nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội quan trọng. Tuy nhiên, việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của ta vừa qua cũng còn những tồn tại bất cập.

Chính vì vậy, mục tiêu thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta những năm sắp tới được đặt ra là rất cấp bách và quan trọng, đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên WTO. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin được trình bày một số tác động của việc gia nhập WTO đến việc thu hút và sử dụng ODA.

Vai trò của nguồn vốn ODA đối với phát triển kinh tế – xã hội

Nguồn vốn chi cho đầu tư phát triển của mỗi quốc gia được phân định thành nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài. Đối với nguồn vốn nước ngoài có các hình thức thu hút và sử dụng chủ yếu là: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII); Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); Vay thương mại từ các ngân hàng nước ngoài hoặc từ thị trường tài chính quốc tế…; Viện trợ cho không của các tổ chức phi chính phủ (NGO);… Mỗi hình thức thu hút và sử dụng vốn nước ngoài đều có bản chất, đặc điểm riêng và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Do những đặc điểm của mình, nguồn vốn ODA hỗ trợ cho quá trình phát triển kinh tế của các nước kém phát triển (LDCs) rất nhiều, đặc biệt là tác động lan toả của nguồn vốn này khi được đầu tư vào các kết cấu hạ tầng. Nguồn vốn này cũng đóng vai trò giúp các nước LDCs thoát ra khỏi khủng hoảng, thúc đẩy cải cách, đóng vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Các nhà nghiên cứu kinh tế kinh điển cho rằng, đầu tư là một trong các động lực chủ yếu thúc đẩy phát triển kinh tế. Trong giai đoạn đầu xây dựng và phát triển kinh tế, các nước chậm và đang phát triển phải đối mặt với một thách thức lớn đó là thiếu vốn đầu tư. Khả năng cung ứng vốn đầu tư lại phụ thuộc vào khả năng huy động vốn từ trong nước và khả năng huy động các nguồn vốn từ bên ngoài ; đối với các nước chậm và đang phát triển, do tích luỹ trong nước thường rất thấp nên nếu không có nguồn vốn bên ngoài thì sẽ khó có thể thành công trong phát triển kinh tế. ở Việt Nam, trong thời gian qua chúng ta đã chú trọng đến các nguồn vốn trong nước, tuy nhiên vẫn chưa đủ để đảm bảo mức tăng trưởng cao. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ tiết kiệm trong GDP của Việt Nam là 23,5% năm 1995, đến năm 2007 tỷ lệ này đạt mức 35,8% GDP. Trong các năm tới tỷ lệ tiết kiệm nội địa có thể tăng lên song không thể có đột biến do thu nhập dân cư còn ở mức thấp, mạng lưới huy động tiết kiệm của Việt Nam đã có nhiều tiến bộ trong thời gian vừa qua nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Vì vậy, để đạt được mức tăng trưởng cao thì không thể không nhờ tới nguồn vốn từ bên ngoài.

Mặt khác, nguồn vốn ODA còn có quan hệ mật thiết với nguồn vốn FDI theo hướng thúc đẩy dòng vốn FDI vào, do tác động lan toả của ODA khi tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng, tạo môi trường đầu tư thuận lợi thu hút FDI. Những nước chậm phát triển thường có cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội thấp kém, nên việc thu hút vốn FDI vào lĩnh vực này thường gặp nhiều khó khăn do hiệu quả kinh tế không cao. Để nâng cao hiệu quả kinh tế, thu hút được nhiều vốn FDI thì cần phải có vốn ODA đi trước để xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, nâng cao hiệu quả đầu tư vì thường việc cải tạo cơ sở hạ tầng cần nhiều thời gian và vốn đầu tư rất lớn mà vốn đầu tư trong nước quá ít không thể nhanh chóng cải thiện được còn vốn FDI thì đòi hỏi hiệu quả nhanh chóng. Như vậy, thu hút và tối đa hoá hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA cùng với các chính sách thu hút vốn FDI sẽ giúp thu hút nguồn ngoại lực cần thiết cho nhu cầu phát triển kinh tế nhanh và bền vững.

Nguồn vốn ODA giúp các nước nghèo tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại, và phát triển nguồn nhân lực. Tiếp cận được với nguồn vốn này, các nước nghèo có điều kiện tiếp nhận những công nghệ, kỹ thuật hiện đại của các nước phát triển thông qua quá trình mua sắm máy móc, thiết bị; được tiếp thu những kỹ thuật chuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến của các đối tác nước ngoài và của các nhà tài trợ trong quá trình thực hiện chương trình, dự án hoặc thông qua hợp tác, đào tạo kỹ thuật… Điểm lại lịch sử của ODA cho thấy có rất nhiều quốc gia tiếp thu được thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ… của các nước tài trợ, cùng với chính sách, mô hình phát triển hợp lý đã vươn lên trở thành các cường quốc về kinh tế, khoa học, công nghệ… như Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc… Việt Nam có thuận lợi khi nhà tài trợ lớn nhất là Nhật Bản có nền công nghiệp tiên tiến và nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm. Trong quá trình tiếp nhận nguồn vốn ODA chúng ta cũng thu được trợ giúp rất nhiều để tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến và phát triển nguồn nhân lực.

Nguồn vốn ODA giúp các nước đang và chậm phát triển điều chỉnh cơ cấu kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường. Thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Việt Nam cũng đã tiến hành nhiều chương trình cải tổ kinh tế với sự giúp đỡ của nhiều tổ chức quốc tế và đã thu được thành công. Tuy phần lớn thành công phát triển kinh tế – xã hội đạt được thời gian qua dựa vào nội lực, nhưng ODA và FDI cũng góp phần quan trọng vào quá trình này. Cơ cấu kinh tế có điều chỉnh theo hướng tích cực. Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP đang giảm dần trong khi đó tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên. Thời kỳ từ 1995-2007, tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp giảm từ 27,2% xuống còn 20%; công nghiệp – xây dựng tăng từ 28,8% lên 41,2%. Đây là một xu hướng tích cực của sự phát triển kinh tế ở nước ta. Trong thời gian qua, nhờ nguồn ngoại lực đã góp phần thay đổi cục diện, đời sống kinh tế của nhiều địa phương, chuyển từ tỉnh thuần nông thành tỉnh công nghiệp năng động như Vĩnh Phúc, Bình Dương. Hàng loạt các dự án cải tạo giao thông đô thị; cấp, thoát nước; phòng chống dịch bệnh… đã làm thay đổi bộ mặt các đô thị và góp phần giải quyết các yêu cầu bức xúc về xã hội, môi trường trong đời sống kinh tế, xã hội.

Một số tác động của việc gia nhập WTO đến thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA

Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO được hơn hai năm. Nền kinh tế Việt Nam đang có những chuyển biến mạnh mẽ và sâu sắc, nâng cao vị thế, bước vào một giai đoạn mới – hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, sẵn sàng đón nhận những cơ hội và thách thức mới. Cơ hội và thách thức đặt ra đối với Việt Nam khi hội nhập có mối quan hệ, tác động qua lại, có thể chuyển hoá lẫn nhau. Cơ hội không tự phát huy tác dụng mà tuỳ thuộc vào khả năng tận dụng cơ hội của nền kinh tế. Tận dụng tốt cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt qua thách thức, tạo ra cơ hội lớn hơn. Ngược lại, nếu không nắm bắt, tận dụng thì cơ hội có thể bị bỏ lỡ, thách thức sẽ tăng lên, lấn át cơ hội, cản trở sự phát triển. Thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng tác động đến đâu cũng còn tuỳ thuộc vào nỗ lực và khả năng vượt qua của nền kinh tế. Nếu tích cực chuẩn bị, có biện pháp đối phó hiệu quả vươn lên nhanh trước sức ép của các thách thức thì không những nền kinh tế nước ta sẽ vượt qua được thách thức mà còn có thể biến thách thức thành động lực phát triển. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá X) của Đảng về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO đã xác định sau khi gia nhập WTO nền kinh tế nước ta đối diện với 5 cơ hội và 5 thách thức lớn.

Qua hơn hai năm gia nhập WTO và trên cơ sở đánh giá các cơ hội và thách thức cũng như đánh giá tác động của các cam kết gia nhập WTO từ góc độ thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA, có thể nhận thấy một số tác động đối với việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA đối với Việt Nam. Cụ thể là:

Thứ nhất, gia nhập WTO sẽ thúc đẩy tài trợ ODA, nhất là ODA từ các nhà tài trợ song phương và các tổ chức phi chính phủ. Thông qua các nguyên tắc và định chế của WTO về quan hệ thương mại, mậu dịch, đầu tư… Việt Nam có điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với nhiều đối tác quốc tế hơn và ngược lại, nhiều đối tác tìm thấy được lợi ích kinh tế trong quan hệ với Việt Nam. Khi có nhiều quốc gia quan hệ kinh tế với nước ta và quan hệ kinh tế ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, số lượng doanh nghiệp có quan hệ kinh tế song phương ngày càng nhiều, quy mô ngày càng lớn sẽ giúp cho các tài trợ ODA cho Việt Nam sẽ tăng lên. Bởi lẽ, ODA có đặc điểm là thông qua tài trợ ODA, nước tài trợ muốn gia tăng ảnh hưởng của mình đến nước nhận tài trợ, qua đó để nhận được các lợi ích về kinh tế, chính trị. Mặt khác, vì lợi ích kinh tế, trong một bối cảnh nhất định các doanh nghiệp có lợi ích kinh tế tại Việt Nam có thể thông qua đại diện của họ trong chính quyền nước mình thúc đẩy tài trợ cho Việt Nam. Ngày nay các doanh nghiệp thường quan tâm đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội tại nơi họ kinh doanh thông qua tài trợ trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức phi chính phủ để thực hiện các dự án tài trợ phát triển, qua đó cũng giúp tăng cường ODA.

Các nước tài trợ ODA thường có chính sách trợ giúp, ưu đãi doanh nghiệp của nước tài trợ thông qua các rằng buộc về cung cấp ODA trong việc thuê tư vấn, chọn nhà thầu… khi có ngày càng nhiều doanh nghiệp của nước tài trợ có quan hệ kinh tế với nước ta thì mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp của các nước tài trợ sẽ cao hơn, qua đó có cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng ODA.

Thứ hai, thực hiện các cam kết gia nhập WTO nhất là các cam kết đa phương sẽ thúc đẩy cải cách hành chính, điều chỉnh hệ thống pháp luật phù hợp với chuẩn mực quốc tế hơn. Điều này góp phần giúp phát triển và hoàn thiện chính sách và thể chế quản lý và sử dụng ODA, nhất là hài hoà hoá quy định và thủ tục quản lý và thực hiện dự án ODA với các nhà tài trợ. Theo hướng này, việc rà soát hệ thống pháp luật để điều chỉnh cho phù hợp với các cam kết quốc tế sẽ thúc đẩy cải cách hành chính cũng như định hướng hoàn thiện luật pháp phù hợp với thông lệ quốc tế về tính minh bạch, tính đồng bộ, tính công bằng và hợp lý. Việc hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động quản lý nguồn vốn ODA theo hướng tăng cường phân cấp và hài hoà với các khung quản lý các nguồn vốn công đã được thúc đẩy một bước thông qua việc ban hành Nghị định 131/2006/NĐ-CP và các thông tư hướng dẫn Nghị định này về quản lý và sử dụng vốn ODA thời gian vừa qua là một minh chứng.

Thứ ba, sau khi gia nhập WTO sẽ giúp nhận thức rõ hơn, sâu sắc hơn các mâu thuẫn trong quá trình phát triển, qua đó chính sách sử dụng và quản lý nguồn vốn ODA sẽ phù hợp và có hiệu quả hơn. Khi gia nhập WTO, tham gia ngày càng chặt chẽ và sâu, rộng vào các chuỗi giá trị toàn cầu sẽ tạo điều kiện khoảng cách giàu – nghèo cũng như các mâu thuẫn phát triển vùng – miền gay gắt hơn, các vấn đề xã hội, môi trường trong quá trình phát triển kinh tế, mâu thuẫn giữa năng lực đội ngũ cán bộ công chức và yêu cầu hội nhập… sẽ ngày càng thể hiện rõ. Các mâu thuẫn trong quá trình phát triển sẽ trở thành các thách thức, các yêu cầu thực tế từ cuộc sống giúp cho nhận thức của bộ máy quản lý nhà nước cũng như cả hệ thống chính trị được thống nhất hơn và yêu cầu phải tập trung nguồn lực để giải quyết. Trên cơ sở đó, việc sử dụng và quản lý nguồn vốn ODA sẽ được tập trung và có hiệu quả hơn.

Thứ tư, nguy cơ khủng hoảng đến từ những biến động của thị trường hàng hoá, tiền tệ thế giới có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu hút và hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA. Gia nhập WTO, những biến động trên thị trường hàng hoá, tài chính, tiền tệ quốc tế sẽ tác động mạnh hơn, sâu sắc hơn đến thị trường trong nước, tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng kinh tế. ảnh hưởng đến các cân đối vĩ mô, môi trường đầu tư và qua đó ảnh hưởng đến thu hút và sử dụng ODA, đặc biệt là khả năng trả nợ của nước ta. Điều này thể hiện khá rõ thị trường tài chính, tiền tệ nước ta thời gian qua. Việc nhập siêu, lạm phát cao kỷ lục thời gian gần đây thể hiện rõ những biến động trên thị trường hàng hoá, tiền tệ quốc tế tác động mạnh đến Việt Nam và yếu kém của nền kinh tế nước ta. Từ bất ổn của kinh tế vĩ mô sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hút và hiệu quả sử dụng của các dự án đầu tư, nhất là các dự án FDI và ODA. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải ngân của số lượng vốn cam kết, đăng ký cũng như giảm hiệu quả sử dụng của các nguồn vốn này và lâu dài sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vốn vay của nước ta. Nhất là các khoản nợ nước ngoài của Việt Nam bắt đầu đến hạn trả vốn gốc và ngày càng tăng trong những năm tiếp theo. Đây sẽ là một thách thức không nhỏ đối với Chính phủ những năm tới./.

SOURCE: TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ DỰ BÁO SỐ 14 (454) THÁNG 7 NĂM 2009 - NGUYỄN ANH ĐỨC

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty