I. Vài nét về lịch sử Tổ chức thương mại thế giới (“WTO”)

Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) - tiền thân của WTO.

Năm 1946, Liên hợp quốc chỉ định một Hội đồng soạn thảo Công ước nhằm thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế.

 Tuy nhiên do sự phản đối của Hoa Kỳ nên Công ước thàngh lập ITO không được các quốc gia khác phê chuẩn, dẫn đến sự thất bại của mục tiêu thành lập ITO. Do sự thất bại này, các quốc gia có nền kinh tế phát triển tham gia vào một bản hiệp định là Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT). GATT được ký kết vào năm 1947 tại Giơnevơ, Thuỵ Sỹ. Bản Hiệp định này có hiệu lực từ 1/1/1948.

 Nội dung của GATT được tinh lọc từ nội dung của Bản Công ước thành lập ITO bao gồm các định chế chủ yếu là: Nguyên tắc Tối huệ quốc trong thương mại, luật lệ chi phối các đối sách cho mục tiêu thuế quan, các hạnc hế số lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, các biện pháp chống phá giá… nhưng không có nội dung nào đề cập đến việc thành lập một Tổ chức Thương mại quốc tế.

 Đến năm 1994, GATT được thay thế bằng Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch 1994 đồng thời cho ra đời Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với đầy đủ chức năng và quyền hạn như mong muốn của Hội đồng Soạn thảo Công ước nhằm thành lập Tổ chức thương mại quốc tế năm 1946.

 

II. Cơ cấu tổ chức của GATT 

Hội đồng thành viên (bao gồm các quan chức cấp Bộ trưởng của các quốc gia thành viên): họp định kỳ hàng năm để đánh giá hoạt động của GATT trong năm. Quyết định của hội đồng thành viên chỉ có tính chất khuyến cáo, không có tính chất bắt buộc.

Do yêu cầu của các cuộc họp dài hạn trong năm, nên Hội đồng thành viên thành lập Hội đồng Đại diện (bao gồm các quan chức cấp Thứ trưởng của các quốc gia thành viên) họp khoảng 9 lần trong một năm đóng vai trò là một Uỷ ban điều hành cho GATT.

>> Xem thêm:  Thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam như thế nào?

Mỗi khoá họp thường niên, Hội đồng thành viên bầu ra một vị Chủ tịch đồng thời, Hội đồng đại diện cũng bầu ra một vị Chủ tịch. Hai vị Chủ tịch này cùng phối hợp với Tổng Giám đốc điều hành mọi hoạt động của GATT. 

Ban Thư ký: giúp việc cho Tổng Giám đốc với nhiệm vụ chủ yếu là tư vấn, hỗ trợ các quốc gia thành viên thực hiện các nghĩa vụ của họ, nghiên cứu về thương mại thế giới, phục vụ cho các hội nghị của GATT… Dưới Ban Thư ký còn một số các Uỷ ban thường trực.

(Lưu ý: theo Công pháp quốc tế GATT không phải là một tổ chức quốc tế đúng nghĩa, tức là không phải là một thực thể pháp lý để có pháp nhân).

 

III. Lược sử các vòng đàm phán thương mại đa phương

Kể từ khi GATT được thông qua năm 1947 tại Hội nghị thượng đỉnh tại Giơnevơ cho đếm khi kết thức vòng đàm phán Uruguay năm 1994 đã có tất cả 7 vòng đàm phán được tổ chức để cho ra đời tổ chức để cho ra đời Tổ chức thương mại Thế giới vào năm 1995.

1. Vòng đàm phán Giơnevơ - Thuỵ Sỹ 1947.

2. Vòng đàm phán Annecy – Pháp, 1949

3. Vòng đàm phán Torquay – Anh, 1951

4. Vòng đàm phán Giơnevơ - Thuỵ Sỹ 1956

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

5. Vòng đàm phán Giơnevơ (vòng Dillon), Thuy Sỹ 1960 – 1962

6. Vòng đàm phán Giơnevơ (vòng Kenedy) Thuỵ Sỹ 1962 -1967

7. Vòng đàm phán Giơnevơ – Tokyo, Nhật 1973 – 1979

8. Vòng đàm phán Uruguay – Uruguay 1986 - 1994. 

IV.       Các cơ sở pháp lý làm nền tảng cho chế đọ tự do mậu dịch quốc tế của GATT

1. Quy chế “Tối Huệ Quốc”

2. Quy chế “Đối xử quốc gia”

3. Nguyên tắc sự minh bạch các chính sách pháp luật liên quan đến hoạt động thương mại

4. Các nguyên tắc về nguồn gốc hàng hoá xuất nhập khẩu

V.        Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Vồng đàm phán Uruguay bắt đầu từn năm 1986 và kết thúc vào ăm 1994 bằng việc “Văn kiện cuối cùng của Vòng đàm phán Uruguay về thương mại đa ơhương” được các bộ trưởng các nước tham gia đàm phán ký kết vào ngày 15/04/1994 tại Marrakesh, Marôc. Tất cả các thoả ước thương mại trong Vănkiện nêu trên đều là những vănbản pháp lý thể chế hoá lời cam kết thực hiện GATT thành những vănbản luật cao nhất của WTO. Quốc gia nào muốn gia nhập WTO đều phải công nhận tính hiệu lực bắt buộc của những thoả ước này.

Trong bối cảnh thương mại quốc tế hiện nay, các quốc gia muốn tham gia vào thị trường quốc tế và muốn được đối xử “bình đẳng” như các quốc gia khác chỉ còn có con đường duy nhất là gia nhập WTO nếu không muốn nền ngoại thương của mình bị cô lập mặc dù biết rằng WTO không chỉ gồm những gì tốt đẹp đúng như mong đợi. Và đây là một xu thế có tính chất thời đại.

VI.  Quy chế pháp lý của WTO 

WTO là một tổ chức quốc tế có pháp nhân theo Công pháp quốc tế, đựơc các quốc gia thành viên công nhận. WTO đặt nền móng cho một hệ thống thương mại đa phương, bền vững.

1.  Phạm vi hoạt động của WTO

WTO điều phối, giám sát mọi quan hệ hoạt động giữa các quốc gia thành viên qua các tổ chức đại điệno WTO thành lập. Các quan hệ hoạt động thương mại giữa các quốc gia thành viên được thể hiện trong các vănbản phụ lục gọi là các Bản Thoả ước thành lập WTO ràng buộc mọi thành viên WTO.

2. Chức năng của WTO

Với mong muốn tạo nên một hệ thống thương mại đa phương trên phạm vi toàn cầu, WTO được thành lập nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, điều phối, xúc tiến hoạt động thương mại và các mục tiêu khác quy định trong các bản Thoả ước Thương mại đa phương được các quốc gia thành viên WTO tham gia ký kết. 

Để thực hiện nhiệm vụ giải quyết những xung đột thương mại giữa các quốc gia thành viên, WTO sẽ thành lập, thông qua Tổng hội đồng, một cơ quan tài phán là Cơ quan giải quyết tranh chấp phù hợp với Bản thoả thuận về Quy tắc thủ tục giải quyết tranh chấp đồng thời giám sát bản thoả ước này ở Phụ lục 2.

Một cơ quan khác chuyên nghiên cứu, xem xét các vấn đề mang tính chất khai thông hoạt động giữa các quốc gia thành viên WTO là Cơ quan Thẩm định chính sách thương mại giám sát thi hành bản thoả ước ở Phụ lục 3.

>> Xem thêm:  Doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam được hưởng những ưu đãi gì ?

WTO còn là cơ quan tổ chức các cuộc đàm phán thương mại đa phương hợp tác với các tổ chức quốc tế liên chính phủ và phi chính phủ, với Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế trong mọi vấn đề liên quan đến thương mại quốc tế.

 

3.                  Các cơ quan trọng yếu của WTO

 

Điều IV của Bản Thoả ước thành lập WTO quy định thành lập các cơ quan chủ yếu của WTO gồm:

 

-                     Hội nghị Bộ trưởng (The Ministerial Conference)

-                     Đại Hội đồng (General Council)

-                     Uỷ ban Mậu dịch và Phát triển (Committee on Trade and Development)

-                     Uỷ ban về các biện pháp hạn chế để cân đối thanh toán (Committee on Balance-of-Payments)

>> Xem thêm:  Nguyên tắc áp dụng MFN trong luật đầu tư quốc tế

-                     Uỷ ban về Ngân sách, Tài chính và Quản trị (Committee on Budget, Finance and Administrations)

-                     Cơ quan Thẩm xét Chính sách Thương mại (Trade Policy Review Mechanism Body: TPRM)

-                     Cơ quan giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Body: DBS)

-                     Ban thư ký (Secretariat)

-                     Hội đồng Thương mại Hàng hoá (Council for Trade in Goods)

-                     Hội đồng Thương mại Dịch vụ (Council for Trade in Services)

-                     Hội đồng về Quyền sở hữu Trí tuệ liên quan đến Thương mại (Council for Trade-Related Aspects ò Intellectual Property Rights)

Ngoài ra còn có mốt số cơ quan khác được thành lập theo yêu cầu của các cơ quan vừa kể nhằm phục vụ cho từng chức năng tương ứng của mỗi cơ quan được quy định trong Bản thoả ước thành lập WTO và các Bản Thoả ước khác.

 

 

>> Xem thêm:  Người Pakistan thành lập công ty thương mại xuất nhập khẩu thủ tục và chi phí như thế nào ?

VI.       Các quy tắc pháp lý chi phối hoạt động Thương mại Hàng hoá:

 

1.         Bản Thoả ước về hàng nông sản:

 

Mục tiêu của Bản Thảo ước về hàng nông sản là thiết lập một hành lang pháp lý để cải cách lại thương mại hàng nông sản, đồng thời điều chỉnh các chính sách nông nghiệp nội địa hướng đến quyết định mục tiêu định ra chính sách thị trường tăng dần trong thương mại hàng nông sản. Các quy tắc chi phối hoạt động thương mại hàng nông sản sẽ cho phép các quốc gia nhập khẩu lẫn các quốc gia xuất khẩu có được khả năng tiên liệu và duy trì sự ổn định các biến động về hàng nông sản.

 

2.         Các nguyên tắc trong Vệ sinh và kiểm dịch

 

Bản thoả ước về các Biện pháp Vệ sinh và Kiểm dịch thực vật đã qy định các yêu cầu vệ sinh, bảo đảm an toàn về thực vật, động vật và sức khoẻ cộng đồng. Bản Thoả ước trao quyền có các quốc gia sử dụng các biện pháp an toàn vệ sinh và kiểm dịch thực vật nhưng chỉ giới hạn trong chừng mực thiết yếu nhằm bảo vệ sức khoẻ con người, đời sống động thực vật và không được tự ý hoặc không công bằng trong đối xử giữa các thành viên.

 

>> Xem thêm:  Pháp luật kinh doanh bảo hiểm trước yêu cầu sửa đổi, bổ sung để phù hợp với cam kết WTO và thực tiễn

3.         Quyết định cấp Bộ trưởng về những biện pháp liên quan đến những hậu quả tiêu cực do các Chương trình cải cách có thể mang lịa tại các quốc gia kém phát triển và tại các quốc gia nhập siêu

 

4.         Thoả ước Mậu dịch Quốc tế về Hàng hoá vải sợi và dệt may

 

Mục tiêu của Bản Thoả ước là những cam kết nhằm bảo đảm sự thống nhất cuối cùng cho các quy tắc và luật lệ của GATT trong 1994 trong Thương mại Hàng hoá Quốc tế về hàng vải sợi và dệt may, lĩnh vực mà hiện thời đang được xuất nhập khẩu chủ yếu bằng những ưu đãi qua những cuộc đàm phán song phương theo Bản Thoả ước MFA (Multifibre Agreement) từ GATT 1947.

 

5.         Bản Thoả ước về các Rào cản kỹ thuật trong thương mại

 

Đây là Bản thoả ước mở rộng và làm rõ nghĩa hơn cho Bản Thoả ước đã được soạn thảo và thi hành kể từ vòng đàm phán Tokyo. Trước năm 1994, bản Thoả ước này được gọi là luật về Tiêu chuẩn sản phẩm (Product Standards Code) lần đầu tiên thiết lập các quy tắc mang tính quốc tế về chứng nhận tiêu chuẩn cho sản phẩm. Các tiêu chuẩn quốc tế được thể chế hoá bao gồm:

 

>> Xem thêm:  Cách nhập khẩu Cycloten va 5- Methylfurfural?

a.                   Đặc tính các tính chất của một sản phẩm như chất lượng, đặc tính của sản phẩm, độ an toàn, kích cỡ

b.                  đặc tính cách tiêu tả một sản phẩm, chẳng hạn như biểu tượng, thuật ngữ chỉ sản phẩm. kiểm tra và phương pháp kiểm tra sản phẩm, bao bì, kỹ mã hiệu, nhãn hiệu được sử dụng

c.                   các thủ tục hành chính khi thực hiện những yêu cầu vừa kể áp dụng cho sản phẩm

 

6.         Bản Thoả ước về các khía cạnh thương mại liên quan đến những biện pháp đầu: Thoả ước (TRIMs - Agreement On Trade related aspects of Investment Measures - TRIMs Agreement)

 

Bản Thoả ước thừa nhận có một số hình thức đầu tư đã làm hạn chế và gây bất ổn cho thương mại quốc tế. Do đó, Bản thoả ước quy định rằng các thành viên sẽ không áp dụng bấtkỳ biện pháp đầu tư nào của Bản thoả ước TRIM khi biện pháp đó mâu thuẫn với Điều III và Điều XI của Bản Thoả ước tổng quát (GATT 1994)

 

7.         Bản Thoả ước về việc thi hành Điều VI (Luật chống phá giá)

 

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc đòi vàng cho vay từ năm 1997?

GATT 1994 đại ý quy định như sau:

- Thuế chống phá giá được ấn định (cho hàng hoá) chỉ khi nào hàng hoá được bán để xuất khẩu bởi một mức giá thấp hơn mức giá mà hàng hoá đó được bán ra trong tiêu thu nội địa.

- Thuế chống phá giá có thể không cao hơn mức giá mà với mức giá này làm cho mức giá nội địa vượt quá mức giá xuất khẩu- Thuế chống phá giá có thể không cao hơn mức giá được đánh giá là mức tiền thưởng  hoặc mức trợ giá cho xuất khẩu- 

Thuế chống phá giá và thuế chống trợ giá có thể được ấn định (cho hàng hoá0) chỉ khi nào có một sự đe doạ về tổn hại cụ thể (material injury) đến nền công nghiệp đã thiết lập tại quốc gia nhập khẩu hoặc chỉ khi nào nó (hàng hoá nhập khẩu) làm đình trệ một cách cụ thể việc thiết lập một ngành công nghiệp về hàng hoá được nhập khẩu đó

8.         Bản Thoả ước về việc thi hành Điều VII (Thoả ước Định giá thuế quan - Agreement on Implementation of Article VII - Customs Valuation)

 

Trong thương mại quốc tế, hàng hoá được mua bán xuyên qua biên giới các quốc gia và khi được nhập khẩu vào một quốc gia khác, hàng hoá đó phải chịu một suất thuế tính bằng phần trăm so với giá trị của chúng. Nhưng nếu vì một lý do hợp lý nào đó mf cơ quan hải quan không thể định thuế theo "giá trị khai báo" của hàng hoá thì các cơ quan hữu quan đó sẽ thiết lập những phương pháp định giá thuế cho hàng hoá dựa trên các điều khoản từ Bản Thoả ước Định giá thuế quan.

9.         Bản Thoả ước về Trợ giá và các biện pháp chống Trợ giá (Agreement on Subsidies and Countervailing Measures)

Khi một chính phủ sử dụng biện pháp trợ giá một cách bất hợp lý nhằm mục tiêu đẩy mạnh hàng xuất khẩu trong nước và điều đó dẫn đến một sự thiệt hại cho một quốc gia khác thì biện pháp này được xem là một hành vi vi phạm Bản Thoả ước tổng quát GATT 1994. Trong trường hợp thị trường nội địa của quốc gia nhập khẩu bị tổn hại do biện pháp trợ giá thì chính phủ của quốc gia nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp chống Trợ giá giúp đền bù cho thiệt hại đã xảy ra.

10.       Bản Thoả ước về Kiểm dịch trước khi giao hàng lên tàu (Agreement on Preshipment Inspection:  PSI)

>> Xem thêm:  Cho ví dụ về hình thức đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp ?

Bản Thoả ước thừa nhận các nguyên tắc và nghĩa vụ của GATT áp dụng cho hoạt động kiểm dịch hàng hoá trước khi giao lên tàu là do các chính phủ quy định và được uỷ quyền cho các cơ quan thuế vụ thi hành.

11.       Bản Thoả ước về Nguyên tắc chứng nhận xuất xứ (Agreement on Rules of Origin)

Thuế Hải quan không được áp dụng cho hàng hoá trừ phi hàng hoá đó được sản xuất hoặc chế tạo bên ngoài biên giới một quốc gia (hoặc bên ngoài lãnh thổ của một Liên Hiệp Thuế quan hoặc một khu vực Tự do Mậu dịch). Do đó, các nhân viên hải quan phải xác định nguồn gốc của hàng hoá. Tiêu chuẩn để xác định nguồn gốc của hàng hoá là "Các quy tắc chứng nhận xuất xứ"

12.       Bản thoả ước về các thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu (Agreement on Import Licensing Procedures)

Tiền thân của Bản Thoả ước này là Bản quy chế về Giấy phép nhập khẩu có từ vòng đàm phán Tokyo đã được hoàn chỉnh: đơn giản và minh bạch hơn.

13.       Bản Thoả ước về An ninh (Agreement on Safeguards)

Bản thoả ước về An Ninh cho phép một thành viên của GATT thực hiện một quyền bảo đảm an ninh cho ngành công nghiệp quốc nội (quốc gia nhập khẩu) tránh khỏi một sự tổn hại hoặc có khả năng xảy ra một sự tổn hại cho ngành công nghiệp quốc gia đó bởi một lượng hàng hoá được nhập khẩu ồ ạt từ một quốc gia nhập khẩu khác.

14. Bản Thoả ước tổng quát về  Thương mại Dịch vụ (General Agreement on Trade in Services)

Bản thoả ước là một thoả thuận về khung pháp lý dự liệu các nghĩa vụ cơ bản được áp dụng cho toàn bộ các quốc gia thành viên WTO. Tiếp đến, Bản thoả ước đưa ra một biểu thời hạn hay lộ trình cam kết thực hiện của các quốc gia gồm những cam kết đặc biệt sẽ là mục tiêu cho tiến trình đi dần đến toàn cầu hoá thương mại. Cuối cùng, một số phục lục quy định về các trường hợp đặc biệt trong các lĩnh vực hoạt động dịch vụ của tư nhân.

 VII.     Cơ cấu tổ chức của WTO

>> Xem thêm:  Tư vấn thuê giám đốc quản lý công ty có vốn đầu tư nước ngoài ?

(hình vẽ)

Nguồn : sưu tầm

>> Xem thêm:  Mẫu Giấy tổng hợp vốn đầu tư từ nguồn thu xổ số kiến thiết năm 2015 và năm 2016 (Mẫu sô 7)