Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

1. Cơ sở pháp lý:

- Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

2. Bản chất trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Nhà nước, luôn được coi là một chủ thể của pháp luật công trong quản lý hành chính. Tuy nhiên, bản chất quan hệ pháp luật của trách nhiệm bồi thường Nhà nước, lại là một dạng quan hệ pháp luật dân sự. Là một dạng trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là trách nhiệm của Nhà nước phải bồi thường thiệt hại, hoàn trả tài sản, phục hồi danh dự cho Tổ chức, cá nhân chịu thiệt hại xuất phát từ hành vi trái pháp luật của Người thực thi công vụ. Như vậy, trong trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: Chủ thể có hành vi làm phát sinh trách nhiệm bồi thường và Chủ thể có trách nhiệm bồi thường là khác nhau.

Theo đó, chủ thể có hành vi làm phát sinh trách nhiệm bồi thường Nhà nước là Người thực thi công vụ. Song chủ thể có trách nhiệm bồi thường lại là Nhà nước. Trong khi đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác, về nguyên tắc chủ thể có hành vi gây thiệt hại cũng chính là người có trách nhiệm bồi thường (Ngoại trừ những ngoại lệ như người gây thiệt hại là người chưa thành niên .....).

Cũng chính vì thế, trong khoa học pháp lý, người ta cho rằng: Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một dạng trách nhiệm dân sự thay thế. Tức là người có hành vi trái luật và người có nghĩa vụ bồi thường là khác nhau, như đã phân tích ở trên. Tuy nhiên, sau khi Nhà nước đã tiến hành bồi thường cho tổ chức, cá nhân bị thiệt hại, tùy vào mức độ lỗi, người thực thi công vụ phải bồi hoàn lại một phần nhất định, và có thể phải chịu hình thức kỷ luật nhất định.

3. Các loại hình trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Khi nói đến trách nhiệm bồi thường, Người ta hay nghĩ ngay đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại, và cũng đồng nhất hai khái niệm này với nhau. Chính bởi thế, với trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hầu hết chung ta cũng hiểu là chỉ trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, cách hiểu như vậy là chưa thực sự chuẩn xác. Căn cứ theo quy định của Pháp luật hiện hành trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, bao gồm 03 loại hình thức thức trách nhiệm sau đây:

3.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Về nguyên tắc, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có thiệt hại xảy ra. Theo đó, dù cho có hành vi vi phạm, mà không làm phát sinh thiệt hại, cũng không phải bồi thường, dù cho đó là trong quan hệ hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng dựa trên nguyên lý chung của luật dân sự đó.

Ví dụ 1: Chủ tịch ủy ban nhân dân xã X ra quyết định cưỡng chế bằng cách phá dỡ công trình xây dựng trên đất của Bà C. Giả định sau này, có kết luận là việc cưỡng chế này bị sai, thì Nhà nước phải bồi thường thiệt hại cho Bà C, theo nguyên tắc, thiệt hại tới đâu, bồi thường tới đó. Giả định rằng, Chủ tịch ủy ban nhân dân xã X ra quyết định cưỡng chế, nhưng chưa kịp cưỡng chế, thì Bà C khiếu nại thắng, thì Nhà nước không phải bồi thường thiệt hại về công trình này, vì thực tế chưa bị phá dỡ. Tất nhiên Bà C có thể đòi bồi thường về chi phí đi lại khiếu nại kiện tụng.

3.2. Trách nhiệm hoàn trả tài sản

Trách nhiệm hoàn trả tài sản xảy ra, khi trong quá trình thực thi Công vụ, Người có thẩm quyền đã áp dụng hình thức như tịch thu tài sản, hoặc yêu cầu nộp phạt...... Mà sau này, được xác định không đúng, thì phải hoàn trả.

Ví dụ 2: A mượn xe của B đi cướp giật tài sản; Cơ quan Tố tụng hình sự cho rằng đây là phương tiện gây án nên đã ra quyết định tịch thu. Tuy nhiên sau đó, Cơ quan có thẩm quyền lại xác định, B không biết, không liên can đến Vụ án. Theo đó, trường hợp này phải hoàn trả lại chiếc xe cho B.

3.3. Trách nhiệm phục hồi danh dự

Trách nhiệm này, thường xảy ra trong các vụ án oan, sai về hình sự. Tức là việc khởi tố, điều tra, xét xử được xác định là không đúng, dẫn đến oan sai Người vô tội, thì Ngoài việc phải bồi thường thiệt hại, hoàn trả tài sản đã bị tịch thu nếu có, Cơ quan tiến hành tố tụng còn phải cải chính, xin lỗi công khai người bị hàm oan.

Lưu ý rằng: Có những sự vụ làm phát sinh đồng thời cùng lúc cả 03 loại hình trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nêu trên. Nhưng cũng có những sự vụ chỉ làm phát sinh 02 hoặc 01 loại hình trách nhiệm mà thôi. Điều này, hoàn toàn tùy thuộc vào từng vụ việc cụ thể.

4. Xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu đòi bồi thường

Cơ quan giải quyết bồi thường là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật về tố tụng.

Trong trường hợp giải quyết tại Tòa án thì đó có thể là vụ án hành chính, trong trường hợp yêu cầu bồi thường cùng với khởi kiện quyết định, hành vi hành chính; Cũng có thể chỉ là vụ án dân sự, trong trường hợp đã xác định được sai phạm của người thực thi công vụ, tức là lúc này, chỉ còn tranh chấp về giá trị bồi thường........

Tuy nhiên, trong trường hợp đã xác định được sai phạm của người thực thi công vụ, tức là lúc này chỉ còn vấn đề về giá trị bồi thường. Thì trước khi khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa, người dân có quyền trực tiếp yêu cầu Cơ quan có trách nhiệm giải quyết việc bồi thường. Chỉ khi nào không đồng thuận được thì mới nên khởi kiện ra Tòa.

Theo quy định thì cơ quan giải quyết bồi thường là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại. Ví dụ 3: Trường hợp người thi hành công vụ là Chấp hành viên của Cục thi hành án dân sự tỉnh A, thì Cơ quan giải quyết bồi thường là Cục thi hành án dân sự Tỉnh A - Trong trường hợp bị khởi kiện ra Tòa, Bị đơn chính là Cục thi hành án dân sự Tỉnh A; Hay trong trường hợp Người thi hành công vụ là Chuyên viên văn phòng của Ủy ban nhân dân huyện B, thì Cơ quan giải quyết bồi thường là Ủy ban nhân dân huyện B - Trong trường hợp bị khởi kiện ra Tòa, Bị đơn chính là Ủy ban nhân dân huyện B.

Mặc dù vậy, không phải lúc nào việc xác định Cơ quan giải quyết bồi thường là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại, cũng là dễ dàng. Nhất là đối với những người không có nhiều am hiểu pháp lý. Chính bởi vậy, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã có một quy định rất đột phá, giúp chúng ta khi không thể xác định được Cơ quan có trách nhiệm giải quyết là ai thì cứ gửi Hồ sơ yêu cầu bồi thường đến Sở Tư pháp. Trên cơ sở đó, chính sở Tư pháp sẽ có trách nhiệm xác định và chuyển Hồ sơ đến Cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

5. Xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm được tiến hành như thế nào?

Để xác định chính xác được thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cần phải xác định được thiệt hại được bồi thường là gì? Và giá trị thiệt hại được bồi thường tính từ thời điểm nào?

Theo quy định pháp luật: (i) Thiệt hại được bồi thường là thiệt hại thực tế đã phát sinh, các khoản lãi phát sinh; (ii) Giá trị thiệt hại được bồi thường được tính tại thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường hoặc tại thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá trị thiệt hại.

Việc xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm được tiến hành như sau:

Thứ nhất, trường hợp tài sản đã bị phát mại, bị mất:

Thì thiệt hại được xác định căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và mức độ hao mòn của tài sản trên thị trường tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Thời điểm để xác định hiện trạng tài sản làm căn cứ tính mức bồi thường là thời điểm thiệt hại xảy ra.

Thứ hai, trường hợp tài sản bị hư hỏng:

Thì thiệt hại được xác định là chi phí có liên quan theo giá thị trường tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để sửa chữa, khôi phục lại tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa, khôi phục thì thiệt hại được xác định như trường hợp thứ nhất.

Thứ ba, trường hợp có thiệt hại phát sinh do việc không sử dụng, khai thác tài sản:

Thì thiệt hại được xác định là thu nhập thực tế bị mất. Đối với những tài sản trên thị trường có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định phù hợp với mức giá thuê trung bình 01 tháng của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này; đối với những tài sản trên thị trường không có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định trên cơ sở thu nhập trung bình của 03 tháng liền kề do tài sản bị thiệt hại mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm thiệt hại xảy ra.

Thứ tư, trường hợp các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các khoản tiền bị tịch thu, thi hành án, khoản tiền đã đặt để bảo đảm theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì phải hoàn trả các khoản tiền đó và khoản lãi cho người bị thiệt hại.

+ Trường hợp các khoản tiền đó là khoản vay có lãi thì khoản lãi được tính là khoản lãi vay hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự.

+ Trường hợp các khoản tiền đó không phải là khoản vay có lãi thì khoản lãi được tính theo lãi suất phát sinh do chậm trả tiền trong trường hợp không có thỏa thuận theo quy định của Bộ luật Dân sự tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này.

Thứ năm, trường hợp người bị thiệt hại không thể thực hiện được các giao dịch dân sự, kinh tế đã có hiệu lực và đã phải thanh toán tiền phạt do vi phạm nghĩa vụ trong giao dịch dân sự, kinh tế đó thì thiệt hại được xác định là số tiền phạt theo mức phạt đã thỏa thuận và khoản lãi của khoản tiền phạt đó.

+ Trường hợp khoản tiền phạt đó là khoản vay có lãi thì khoản lãi được tính là khoản lãi vay hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự.

+ Trường hợp khoản tiền phạt đó không phải là khoản vay có lãi thì khoản lãi được tính theo lãi suất phát sinh do chậm trả tiền trong trường hợp không có thỏa thuận theo quy định của Bộ luật Dân sự tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này.

Thứ sáu, trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì thiệt hại được bồi thường là phần thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê