Ông (B) ấy môi giới cho chị (A) qua lao động ở Đức. Chị (A) ấy vì tin tưởng nên đã giao 100tr cho ông (B). Vì là người quen nên sự việc không như ý thì 2 bên đã thỏa thuận miệng là bên người môi giới (B) sẽ bồi thường lại số tiền mà bên chị (A) em đã giao đã có người làm chứng việc này.
Nhưng hiện tại người môi giới (B) này không muốn giữ lời hứa và không muốn thanh toán số tiền này cho chị (A).
Em muốn được anh, chị tư vấn việc như vậy thì người môi giới có phải chịu trách nhiệm hay truy cứu gì trong trường hợp này không? Và nếu trình báo sự việc này lên các cơ quan có thẩm quyền hay xảy ra kiện tụng thì người môi giới có phải chịu trách nhiệm hay khép vào tội gì không?
Em xin cám ơn anh, chị rất nhiều. Hi vọng anh chị có thể sớm tư vấn giúp.
Chúc anh, chị một tuần làm việc hiệu quả. Chào anh, chị.
Người gửi: Vũ Mạnh Hùng
>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động qua điện thoại (24/7) gọi: - 1900.6162
.
Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
Trả lời
Theo quy định Luật người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, các tổ chức sau được phép môi giới đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động ra làm việc ở nước ngoài và các tổ chức sự nghiệp được phép đưa người lao động ra nước ngoài làm việc, có giấy phép hoạt động dịch vụ này. Cụt thể tại điều 6 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2007 quy định các hình thức đi làm việc ở nước ngoài bao gồm:
1. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;
2. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;
3. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề;
4. Hợp đồng cá nhân.
Do đó, với trường hợp ông B có nhận môi giới cho chị A đi lao động ở nước ngoài là không đúng quy định của pháp luật.
Với hành vi nhận số tiền 100 triệu của chị A nhưng không trả số tiền và lừa dối chị A sẽ môi giới cho chị đi làm việc ở nước ngoài, ông B có thể bị khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự 1999, với số tiền 100 triệu đã chiếm đoạt được, mức hình phạt đối với ông B là từ hai năm đến 7 năm tù giam.
Ý kiến trả lời bổ sung:
Lời chào: Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Chúc bạn mạnh khỏe và thành công.
Về vấn đề của bạn công ty xin giải đáp như sau:
Cơ sở pháp luật:
Vấn đề bạn nêu được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự 2005 (Điều 302, 307) và Bộ luật hình sự 1999 , Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 (Điều 140).
Nội dung phân tích:
1. Người môi giới phải chịu trách nhiệm dân sự và bị truy cứu trách nhiệm hình sự
+ Người môi giới phải chịu trách nhiệm dân sự.
Thỏa thuận giữa chị A và ông B là một giao dịch dân sự. Trong đó bên môi giới là ông B, bên được môi giới là chị A: chị A đã giao cho ông B 100 triệu đồng với mong muốn sẽ được xuất khẩu lao động sang Đức. Sự việc không như ý thì 2 bên đã thỏa thuận miệng là bên người môi giới (B) sẽ bồi thường lại số tiền mà bên được môi giới (A) đã giao. Thỏa thuận này đã có người thứ ba làm chứng. Như vậy, trong trường hợp này bên có quyền là chị A, bên phải thực hiện nghĩa vụ là ông B.
Hiện tại ông B không muốn giữ lời hứa và không muốn thanh toán số tiền này cho chị A. Theo quy định tại khoản 1 Điều 302 BLDS 2005 thì ông B đã vi phạm nghĩa vụ dân sự: “Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền”. Chị A có quyền yêu cầu ông B phải thực hiện nghĩa vụ của mình, nếu ông B không thực hiện nghĩa vụ thì phải bồi thường thiệt hại theo Điều 307 BLDS, bao gồm cả trách nhiệm vật chất và trách nhiệm tinh thần đối với chị A. Nghĩa là, ông B phải trả lại số tiền 100 triệu đồng và phải xin lỗi chị A.
+ Ông B có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức độ nghiêm trọng.
Bởi số tiền lên tới 100 triệu đồng, áp dụng điểm d khoản 2 Điều 140 BLHS ông B có thể bị phạt tù từ hai đến bảy năm tù.
2. Nếu trình báo sự việc này lên cơ quan có thẩm quyền hoặc có đơn khởi kiện ra Tòa án thì ông B sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng thời sẽ phải trả lại cho chị A số tiền mà ông đã nhận từ chị A.
Tội danh mà ông B có thể sẽ bị truy cứu là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 140 BLDS như đã phân tích ở trên.
Kết luận: Như vậy, trường hợp mà bạn nêu ra: ông B phải có nghĩa vụ hoặc là đưa chị A sang lao động tại Đức theo đúng thỏa thuận, hoặc là trả lại tiền cho chị A 100 triệu đồng . Nếu như khởi kiện thì ông B sẽ bị truy cứu vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với mức khung hình phạt từ hai đến bảy năm tù.
Trân trọng./.
BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
---------------------------------------------------------
THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:
1. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;
2. Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;
3. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;
4. Luật sư tư vấn pháp luật lĩnh vực luật lao động;
5. Luật sư tư vấn khởi kiện vụ án lao động tại toà án;
6. Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;
7. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án;
8. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình;