- 1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là gì?
- 2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp khác gì so với trách nhiệm quyền con người?
- 3. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong nền kinh tế kế hoạch hóa
- 4. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
- 5. Một số hoạt động thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là gì?
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility - CSR) là một khái niệm được sử dụng từ khá sớm, gắn với thời kỳ cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 18, đề cập tới việc bên cạnh mục đích tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp cần có trách nhiệm với xã hội. CSR là khái niệm rộng và được định nghĩa theo nhiều cách nhau tùy thuộc vào các phương thức tiếp cận, động cơ, lĩnh vực, quan điểm và phương pháp khác nhau. CSR có thể được hiểu là một hình thức tự quản doanh nghiệp hay là cách thức để doanh nghiệp đạt được sự cân bằng giữa phát triển kinh tế, xã hội, môi trường. Theo Hội đồng Kinh doanh Thế giới vì Phát triển Bền vững (World Business Council for Sustainable Development) thì CSR được hiểu là “cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho sự phát triển kinh tế đồng thời với việc cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động, gia đình họ, cộng đồng và toàn xã hội”.
Ngoài khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, một số khái niệm tương tự khác cũng thường được sử dụng như: trách nhiệm của doanh nghiệp (CR), doanh nghiệp công dân (corporate citizenship), doanh nghiệp có trách nhiệm (responsible business)...
2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp khác gì so với trách nhiệm quyền con người?
Cả hai khái niệm trách nhiệm về quyền con người (trách nhiệm nhân quyền) của doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) vừa có một số điểm tương đồng, vừa có một số khác biệt cả về nội hàm và phạm vi. CSR là cách tiếp cận theo hướng từ trên xuống, theo đó doanh nghiệp được quyền tự quyết định hay lựa chọn vấn đề mình quan tâm. Chẳng hạn có doanh nghiệp đóng góp cho giáo dục cộng đồng, nhưng doanh nghiệp khác lại muốn tham gia đóng góp từ thiện, cứu trợ thiên tai, v.v…
Trong khi đó, tiếp cận dựa trên quyền là cách tiếp cận từ dưới lên, lấy cá nhân làm trung tâm. Trách nhiệm nhân quyền yêu cầu doanh nghiệp phải tôn trọng tất cả các quyền con người, trong mọi công đoạn, hoạt động của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có thể có nhiều thực hành tốt về CSR nhưng vẫn có thể có rủi ro vi phạm nhân quyền hoặc đồng lõa hoặc góp phần gây nên các vi phạm nhân quyền. Do đó, doanh nghiệp không được phép chỉ chọn một hay hai vấn đề mà mình quan tâm, muốn làm từ thiện để thực hiện trách nhiệm xã hội một cách tự nguyện và bỏ qua các nội dung khác về quyền con người.
Khuôn khổ về quyền con người sẽ dựa trên cách tiếp cận toàn diện, nhấn mạnh nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể liên quan. Trước đây, doanh nghiệp chủ yếu tiếp cận các vấn đề xã hội thông qua CSR nhưng gần đây ngày càng có nhiều doanh nghiệp đưa nội dung quyền con người vào chính sách, chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.
Do vậy, có thể nói trách nhiệm nhân quyền là khái niệm toàn diện hơn CSR. CSR hướng tới việc tạo ra giá trị, còn trách nhiệm nhân quyền tạo ra khuôn khổ dựa trên các nguyên tắc có tính phổ quát toàn cầu, đặc biệt tập trung vào ngăn ngừa tình trạng vi phạm hoặc đồng loã với vi phạm nhân quyền của doanh nghiệp.
3. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong nền kinh tế kế hoạch hóa
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá chủ đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam chưa/không được bàn luận nhiều như hiện nay. Tuy nhiên, trên thực tế các doanh nghiệp nhà nước (lúc đó được gọi là các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, liên hiệp xí nghiệp, xí nghiệp liên hợp, công ty...) và các hợp tác xã đã thực hiện nhiều hoạt động có nội dung của trách nhiệm xã hội theo tiêu chí trách nhiệm xã hội mà hiện nay nhiều người vẫn nói. Đã có những thời kỳ, những giai đoạn và ở không ít địa phương, ngành hay trong doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã, chức năng kinh doanh của các chủ thể này không được phân biệt rạch ròi với chức năng quản lý và chức năng xã hội. Các doanh nghiệp nhà nước và các hợp tác xã đã đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ xã hội do Nhà nước chuyển giao, ủy quyền hoặc tự nguyện. Đó là các nhiệm vụ như chăm lo và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của công nhân, viên chức và xã viên, cải thiện điều kiện làm việc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống .v.v. Các doanh nghiệp nhà nước và các hợp tác xã có ý thức, tự nguyện, tự giác thực hiện trách nhiệm xã hội, bởi những người quản lý các tổ chức đó nhận thức được rằng, tổ chức của họ là những chủ thể do Nhà nước tổ chức ra, được Nhà nước cung cấp nguồn lực hoặc sử dụng vốn Nhà nước nên phải có trách nhiệm cùng với Nhà nước trong việc thực hiện các nhiệm vụ xã hội.
4. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, chức năng kinh doanh của các doanh nghiệp đã được phân biệt với chức năng quản lý và chức năng xã hội của các chủ thể khác. Điều đó một mặt đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhà nước và các hợp tác xã tập trung vào thực hiện chức năng chính của mình là kinh doanh, nhưng mặt khác cũng vì thế mà làm cho cốc chủ thể này sao nhãng trách nhiệm xã hội. Tất nhiên, việc các doanh nghiệp nhà nước và các hợp tác xã chưa thực hiện được đầy đủ trách nhiệm xã hội cũng còn có lý do khó khăn về tài chính, kỹ thuật hoặc những thách thức khác trong kinh doanh mà họ phải ưu tiên giải quyết. Đối với các doanh nghiệp không sử dụng vốn nhà nước và doanh nghiệp do các cá nhân và tổ chức thành lập thì do mục đích thành lập chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh nên dường như các chủ doanh nghiệp đặt mối quan tâm hàng đầu đến lợi nhuận.
Cùng với quá trình phát triển, nhận thức và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta và của doanh nghiệp về bảo vệ, bảo đảm và tôn trọng quyền con người cũng như ý nghĩa và lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với quyền con người trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đã tăng lên. Bên cạnh đó, yêu cầu và đòi hỏi tuân thủ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường thế giới cũng làm cho nhiều doanh nghiệp của nước ta chú ý nhiều hơn đến trách nhiệm xã hội của mình.
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là một trong những yếu tố góp phần phát triển doanh nghiệp bền vững. Việc nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp trong sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, ngăn ngừa, phòng chống và khắc phục ô nhiễm môi trường và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào phát triển bền vững của kinh tế quốc gia. Trong phương hướng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đề cập đến nhiệm vụ xây dựng và thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng và đối với môi trường. Đảng ta đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ đó như là một trong những nội dung của phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường. Chủ trương phát triển doanh nhân về số lượng và năng lực quản lý, có đạo đức và trách nhiệm xã hội là một trong những định hướng phát triển, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế được đề cập trong Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 2020.
5. Một số hoạt động thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trong những năm qua với vai trò là tổ chức đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp và người sử dụng lao động ở Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã phối hợp với các Bộ, ngành, các tổ chức quốc tế, hiệp hội doanh nghiệp tổ chức nhiều hoạt động thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Đó là việc trao Giải thưởng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, đăng cai tổ chức Diễn đàn châu Á về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (năm 2007). Ngoài ra, hai dự án là Thúc đẩy vai trò của cộng đồng doanh nghiệp trong việc nâng cao trách nhiệm xã hội dựa trên những nguyên tắc của Hiệp ước Toàn cầu tại Việt Nam, thành lập mạng lưới các doanh nghiệp tham gia vào Hiệp ước toàn cầu tại Việt Nam và Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam nâng cao hiểu biết và thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nhằm tăng cường liên kết với chuỗi cung ứng toàn cầu trong sản xuất bền vững do VCCI đảm nhiệm cũng góp phần vào sự nghiệp khuyến khích trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Trong thời gian qua, một số doanh nghiệp của nước ta đã xây dựng và công bố các bộ quy tắc ứng xử hoặc tiêu chuẩn thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với quyền con người. Chẳng hạn, Hiệp hội Da giày Việt Nam đã phôi hợp với Viện Nghiên cứu Da giầy xây dựng Tiêu chuẩn lao động áp dụng trong ngành Da giày Việt Nam. Tiêu chuẩn này quy định những vấn đề về lao động và các vấn đề khác liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người lao động và doanh nghiệp áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong ngành Da giày Việt Nam. Hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam đã xây dựng và ban hành Bộ quy tắc ứng xử dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài (viết tắt CoC-VN ). Ngoài ra, trong quan hệ lao động một số doanh nghiệp nước ta đã áp dụng và nhận được chứng chỉ tiêu chuẩn SA 8000. Đến ngày 30/6/2009, nước ta đã có 47 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ SA 80002.
Một điều rất cần phải biểu dương và không thể phủ nhận rằng ở nước ta, nhiều doanh nghiệp trong hoạt động của mình đã có những đóng góp tích cực cho cộng đồng thông qua các hoạt động như xây nhà tình nghĩa, giúp đỡ người có công với cách mạng, trợ giúp tài chính cho những người yếu thế trong xã hội, ủng hộ tài chính cho các quỹ từ thiện, quỹ vì người nghèo, quỹ khuyến học và phát triển tài năng, hưởng ứng và tham gia các cuộc vận động ủng hộ đồng bào bị thiên tai, bão, lụt. v.v... do các cấp chính quyền và Mặt trận Tổ quốc phát động. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển, mặt trái của kinh tế thị trường cũng lộ diện khá rõ. Đó là sự bóc lột và xâm phạm quyền lợi của người lao động, vi phạm quyền lợi người tiêu dùng, gây ô nhiễm môi trường, v.v... của một số doanh nghiệp.