1. Các sáng kiến quốc tế không mang tính ràng buộc
Kinh tế, quyền con người và phát triển bền vững có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong thời đại ngày nay, không chỉ những nước phát triển mà cả những nước đang phát triển ở các mức độ khác nhau đều coi trọng phát triển bền vững và đặt ra vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, trong đó có trách nhiệm đối với quyển con người (Corporate Accountability on Human Rights). Đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility - CSR) và cao hơn nữa là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền con người đã và đang trở thành chủ để được tranh luận sôi nổi ở nhiều quốc gia.
Việc đưa ra các căn cứ để quy kết trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền con người vốn đã khó nhưng khó hơn là xác định phạm vi, mức độ trách nhiệm và phương thức ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền con người. Trên bình diện quốc tế hiện nay tồn tại khá nhiều hưởng dẫn và sáng kiến quốc tế không mang tính ràng buộc điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp trong mối quan hệ với quyền con người. Có thể kể đến là Hướng dẫn của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Tuyên bô ba bên của Tổ chức Lao động quốc tế. Ngoài những hướng dẫn trên, chủ đề trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền con người còn phản ánh trong các sáng kiến quốc tế như: Sáng kiến kinh doanh tuân thủ xã hội (Business Social Compliance Initiative), Sáng kiến báo cáo toàn cầu (Global Reporting Initiative), Sáng kiến minh bạch hóa công nghiệp khai khoáng (Extractive Industries Transparency Initiative), Quy trình Kimberly, Trách nhiệm xã hội quốc tế (Social Accountability International). Như là các căn cứ xác định trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn các quy định của Tổ chức minh bạch quốc tế, Hiệp ước toàn cầu của Liên hợp quốc (gọi tắt là Global Compact), Sáng kiến về quyền con người của các nhà lãnh đạo kinh doanh (Business Leaders Initiative on Human Rights) và Nguyên tắc tự nguyện về an ninh và nhân quyền.
2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility - CSR) là một khái niệm được sử dụng từ khá sớm, gắn với thời kỳ cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 18, đề cập tới việc bên cạnh mục đích tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp cần có trách nhiệm với xã hội. CSR là khái niệm rộng và được định nghĩa theo nhiều cách nhau tùy thuộc vào các phương thức tiếp cận, động cơ, lĩnh vực, quan điểm và phương pháp khác nhau. CSR có thể được hiểu là một hình thức tự quản doanh nghiệp hay là cách thức để doanh nghiệp đạt được sự cân bằng giữa phát triển kinh tế, xã hội, môi trường.
Theo Hội đồng Kinh doanh Thế giới vì Phát triển Bền vững (World Business Council for Sustainable Development) thì CSR được hiểu là “cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho sự phát triển kinh tế đồng thời với việc cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động, gia đình họ, cộng đồng và toàn xã hội”. Ngoài khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, một số khái niệm tương tự khác cũng thường được sử dụng như: trách nhiệm của doanh nghiệp (CR), doanh nghiệp công dân (corporate citizenship), doanh nghiệp có trách nhiệm (responsible business)....
Cả hai khái niệm trách nhiệm về quyền con người (trách nhiệm nhân quyền) của doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) vừa có một số điểm tương đồng, vừa có một số khác biệt cả về nội hàm và phạm vi. CSR là cách tiếp cận theo hướng từ trên xuống, theo đó doanh nghiệp được quyền tự quyết định hay lựa chọn vấn đề mình quan tâm. Chẳng hạn có doanh nghiệp đóng góp cho giáo dục cộng đồng, nhưng doanh nghiệp khác lại muốn tham gia đóng góp từ thiện, cứu trợ thiên tai, v.v…
Trong khi đó, tiếp cận dựa trên quyền là cách tiếp cận từ dưới lên, lấy cá nhân làm trung tâm. Trách nhiệm nhân quyền yêu cầu doanh nghiệp phải tôn trọng tất cả các quyền con người, trong mọi công đoạn, hoạt động của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có thể có nhiều thực hành tốt về CSR nhưng vẫn có thể có rủi ro vi phạm nhân quyền hoặc đồng lõa hoặc góp phần gây nên các vi phạm nhân quyền. Do đó, doanh nghiệp không được phép chỉ chọn một hay hai vấn đề mà mình quan tâm, muốn làm từ thiện để thực hiện trách nhiệm xã hội một cách tự nguyện và bỏ qua các nội dung khác về quyền con người.
3. Các quy phạm về trách nhiệm của các tập đoàn xuyên quốc gia và các doanh nghiệp kinh doanh khác
Trong một nỗ lực vì quyền con người, ngày 3/8/2003 Tiểu ban về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của Liên hợp quốc đã thông qua Bản “Các quy phạm về trách nhiệm của các tập đoàn xuyên quốc gia và các doanh nghiệp kinh doanh khác - UN Norms on the Responsibilities of Transnational Corporations and Other Business Enterprises with Regard to Human Rights” và giới thiệu để ủy ban Nhân quyền của Liên hợp quốc tiếp tục thảo luận, ý nghĩa đặc biệt của văn bản này đối với các tổ chức phi chính phủ là không tạo mới mà tập hợp lại các quy phạm đã được chứa đựng trong các văn bản pháp lý quốc tế và các tiêu chuẩn quốc tế mang tính tự nguyện có liên quan đến doanh nghiệp. Trong văn bản này, trách nhiệm chính đối với sự tôn trọng, bảo vệ và khuyến khích quyền con người được xác định cho các chính phủ. Trách nhiệm đối với quyền con người được định hướng không chỉ tới các chính phủ mà trực tiếp cả đối với doanh nghiệp. Việc trao cho các doanh nghiệp trách nhiệm đối với quyền con người trong phạm vi hoạt động và ảnh hưởng của nó là điểm mối của văn kiện này.
Nội dung của Bản “Các quy phạm về trách nhiệm của các tập đoàn xuyên quốc gia và các doanh nghiệp kinh doanh khác” chứa đựng các quy định về nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với việc khuyến khích, bảo vệ và tôn trọng quyền con người, về đảm bảo cơ hội bình đẳng để loại bỏ sự phân biệt đối xử do chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến. Đồng thời, văn bản này còn quy định các hành, vi mà doanh nghiệp cần tiến hành để bảo đảm quyền an toàn của cá nhân, quyền của người lao động, tôn trọng chủ quyền quốc gia và quyền con người cũng như thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường. Bản quy tắc này được chào đón do nó có mức độ ràng buộc cao hơn so với các hướng dẫn và sáng kiến khác. Tuy nhiên, sự thiếu hụt hiện nay của các chức năng thực thi và giám sát đã cho thấy một bất lợi đáng kể. Liệu Bản “Các quy phạm về trách nhiệm của các tập đoàn xuyên quốc gia và các doanh nghiệp kinh doanh khác” có đạt được trạng thái của một sự ràng buộc pháp lý theo luật quốc tế hoặc hiệu lực pháp lý là vấn đề còn chưa rõ ràng. Mặt khác, việc xử lý của Bản “Các quy phạm về trách nhiệm của các tập đoàn xuyên quốc gia và các doanh nghiệp kinh doanh khác” cũng chưa được hoàn thành và chưa đạt được sự thống nhất trong nội bộ các cơ quan của Liên hợp quốc.
Ngoài các hướng dẫn và sáng kiến mang tính quốc tế về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nói trên, một số công ty đa quốc gia như Nike, Timberland, Gap, IKEA... đều có các bộ quy tắc ứng xử (CoC) riêng và đòi hỏi các doanh nghiệp cung cấp hàng hoá cho họ phải tuân thủ các quy tắc ứng xử đó.
4. Thảo ước toàn cầu của Liên hợp quốc
Thỏa ước Toàn cầu (Global Compact) là một thỏa thuận quốc tế được thông qua năm 2000 theo sáng kiến của Tổng thư ký LHQ nhằm mục đích kêu gọi lãnh đạo các công ty, các cơ quan LHQ, tổ chức xã hội dân sự cùng ủng hộ 10 nguyên tắc cơ bản về ba lĩnh vực là: quyền con người, lao động và bảo vệ môi trường nhằm hỗ trợ việc thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ.
Hai nguyên tắc đầu tiên trong Thỏa ước này đề cập trực tiếp về quyền con người:
- Doanh nghiệp cần hỗ trợ và tôn trọng các quyền con người đã được quốc tế ghi nhận;
- Doanh nghiệp cần đảm bảo không gây ra vi phạm quyền con người.
Thỏa ước Toàn cầu mang lại một số lợi ích nhất định cho các bên tham gia như làm gia tăng cơ hội hợp tác và đối thoại ở cấp độ toàn cầu và địa phương giữa các doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và chính phủ về một số vấn đề cơ bản liên quan đến con người; tạo diễn đàn trao đổi kinh nghiệm thực tiễn về các chiến lược và giải pháp thực tiễn để giải quyết những vấn đề thách thức; tạo điều kiện để các công ty được tiếp cận với nguồn thông tin, kiến thức của LHQ về các vấn đề phát triển; góp phần nâng cao danh tiếng của các công ty với người tiêu dùng và nhà đầu tư.
Thỏa ước Toàn cầu được đánh giá là sáng kiến quốc tế lớn nhất về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Ngay sau khi được thông qua, Thỏa ước này đã nhanh chóng nhận được sự ủng hộ của nhiều công ty, kể các tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu trên thế giới.
5. Hạn chế của các hướng dẫn và sáng kiến quốc tế
Hạn chế lớn nhất của các hướng dẫn và sáng kiến quốc tế đã viện dẫn ở trên là chúng đều dựa trên nền tảng tự nguyện và mang tính khuyến nghị. Do đó, mức độ ràng buộc và cưỡng chế của các hướng dẫn và sáng kiến đối với doanh nghiệp thấp. Mặt khác, đối tượng và phạm vi của các hướng dẫn và sáng kiến được giới hạn trong một nhóm doanh nghiệp, nhóm quốc gia và không có khả năng áp dụng đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp ỗ tất cả các quốc gia. Ngoài tiêu chuẩn quốc tế SA8000 về điều kiện lao động, cho đến nay trên thế giới trong lĩnh vực trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nói chung và đối với quyền con người nói riêng chưa có hướng dẫn nào đối với trách nhiệm của doanh nghiệp có giá trị như một tiêu chuẩn ISO1. Từ năm 2004 Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO) đã soạn thảo “Hướng dẫn tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội - ISO 26000”. Phiên bản cuối cùng của Bản Hướng dẫn này đã được đa số’ hội đồng tiêu chuẩn quốc gia thông qua ngày 12/9/2010 và sẽ được xuất bản vào cuối năm 2010 như một tiêu chuẩn quốc tế. Bộ tiêu chuẩn ISO 26000 là một hướng dẫn mang tính định hướng và khuyến nghị. Việc áp dụng nó là tự nguyện. ISO 26000 không phải là một quản lý hệ thống tiêu chuẩn được chứng nhận như ISO 9001 hay ISO 14001.
Một thực tế khác cũng cần phải nhìn nhận là sự tự kiểm tra và các biện pháp khác dựa trên sự tự nguyện đáng tiếc không đạt được hiệu quả như mong muốn. Một ví dụ điển hình của những tác động tiêu cực là Hiệp ước toàn cầu Liên hợp quốc (Global Compact). Việc ban hành một hiệp định quốc tế có tính ràng buộc quy định trực tiếp nghĩa vụ của tập đoàn xuyên quốc gia được thực hiện qua sự tổ chức khả năng khởi kiện cá nhân hoặc thậm chí một toà án quốc tế có lẽ là điều lý tưởng, nhưng điều này từ những lý do chính trị cũng như từ sự vận động hành lang rất mạnh mà trở nên không tưởng. Hạn chế này đã được nói đến nhiều trong các cuộc thảo luận Bản Các quy phạm về trách nhiệm của các tập đoàn xuyên quốc gia và các doanh nghiệp kinh doanh khác.