Nhà nước tự quy định cho mình các quyền trong các quan hệ mà Nhà nước tham gia, trình tự, cách thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong các quan hệ đó. Đây là chủ thể có chủ quyền - là thuộc tính chính trị pháp lý bất khả xâm pham. Nhà nước được hưởng quyền đặc miễn tư pháp, thể hiện ở ba đặc quyền sau:

1. Những tranh chấp phát sinh từ mối quan hệ do nhà nước tham gia không thuộc quyền tài phán của bất kỳ Tòa án nào nếu Nhà nước không đồng ý;

2. Tài sản của Nhà nước được hưởng quyền bất khả xâm phạm; và

3. Nhà nước có quyền miễn thi hành án theo bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Theo Điều 97 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương khi tham gia quan hệ dân sự thì bình đẳng với các chủ thế khác và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định tại Điều 99 và Điều 100 của Bộ luật này”.

Theo quy định này, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương và ở địa phương bình đẳng với chủ thể khác là cá nhân, pháp nhân khi tham gia quan hệ dân sự và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự bằng chính tài sản mà mình đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Đồng thời, Bộ luật Dân sự hiện hành cũng quy định những nội dung cơ bản về địa vị pháp lý, đại diện tham gia quan hệ dân sự, trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự và về trách nhiệm trong quan hệ dân sự của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương và ở địa phương với nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài.

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (Điều 2 Hiến Pháp năm 2013). Trong quan hệ pháp luật dân sự, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xem là chủ thể đặc biệt, tính chất đặc biệt này thể hiện ở nhiều yếu tố khác nhau như: Nhà nước nắm quyền lãnh đạo thống nhất, toàn diện về chính tộ, kinh tế, văn hóa, đối ngoại theo định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước là người đại diện cho toàn dân và là một tổ chức chính trị- quyền lực, là chủ thể quản lý, sử dụng, định đoạt với tài sản sở hữu toàn dân, là chủ thể xây dựng pháp luật...

1. Đại diện tham gia quan hệ dân sự

Điều 98 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

"Việc đại diện cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương tham gia quan hệ dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước. Việc đại diện thông qua cá nhân, pháp nhân khác chỉ được thực hiện trong các trường hợp và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định ” - Điều 98 Bộ luật dân sự năm 2015.

Nhà nước, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương là một tổ chức nên khi những tổ chức này tham gia vào quan hệ dân sự thì cần có chủ thể làm đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch nhân danh Nhà nước hoặc cơ quan nhà nước này. Việc đại diện phải phù hợp với quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước. Việc đại diện thông qua cá nhân, pháp nhân khác chỉ được thực hiện trong các trường hợp và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Việc đại diện có thể được phân chia thành đại diện trong nước và đại diện ở nước ngoài. Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 2009 quy định, cơ quan đại diện thực hiện chức năng đại diện chính thức của Nhà nước Việt Nam trong quan hệ với quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế tiếp nhận và thống nhất quản lý hoạt động đối ngoại phù hợp với quy định tại Điều 12 của Luật này. Cơ quan đại diện bao gồm: Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự, cơ quan đại diện tại tổ chức quốc tế. Cơ quan đại diện ngoại giao là đại sứ quán; Cơ quan đại diện lãnh sự là Tổng lãnh sự quán và Lãnh sự quán; và Cơ quan đại diện tổ chức quốc tế là Phái đoàn thường trực, Phái đoàn, Phái đoàn quan sát viên thường trực và cơ quan có tên gọi khác thực hiện chức năng đại diện của Nhà nước Việt Nam tại tổ chức quốc tế liên chính phủ. Thành viên cơ quan đại diện bao gồm người đứng đầu cơ quan đại diện, viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự và nhân viên cơ quan đại diện.

2. Trách nhiệm pháp lý trong quan hệ dân sự

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của mình bằng tài sản mà mình là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, trừ trường hợp tài sản đã được chuyển giao cho pháp nhân. Pháp nhân do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương thành lập không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của pháp nhân do mình thành lập, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, trừ trường hợp Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương bảo lãnh cho nghĩa vụ dân sự của pháp nhân này theo quy định của pháp luật. Cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước khác ở Trung ương, ở địa phương, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác - Điều 99 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự do minh xác lập với Nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài trong trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về việc từ bỏ quyền miễn trừ - Điểm a khoản 1 Điều 100 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong luật quốc tế, có ba nhóm đối tượng được miễn trừ khỏi thẩm quyền của một quốc gia khác: Quốc gia, Tổ chức quốc tế liên chính phủ, và người đại diện của họ (nhân viên ngoại giao, lãnh sự, nhân viên của tổ chức quốc tế...). Quyền miễn trừ quốc gia (State immunity/sovereign immunỉtỳ) là quyền bảo đảm cho một quốc gia không phải chịu sự điều chỉnh của thẩm quyền của một quốc gia khác trong đó quan trọng nhất là quyền miễn trừ tư pháp và miễn trừ đổi với tài sản quốc gia.

+ Quyền miễn trừ tư pháp: Miễn trừ tư pháp là trường hợp riêng biệt chỉ dành cho chủ thể là Nhà nước. Miễn trừ tư pháp được hiểu theo các khía cạnh sau:

+ Quyền miễn trừ đối với tài sản quốc gia: Quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia là một trong những nội dung quan trọng của quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế. Nội dung của quyền này là những tài sản được xác định thuộc quyền sở hữu của quốc gia thì không thể là đối tượng áp dụng các biện pháp tư pháp khi quốc gia đưa vào tham gia các quan hệ dân sự quốc tế. Quyền miễn trừ về tài sản của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế có cơ sở pháp lý vững chắc trong các điều ước quốc tế cũng như vãn bản pháp luật thực định của nhiều quốc gia. Điều 21 Công ước của Liên hợp quốc về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia liệt kê những loại tài sản mà quốc gia được hưởng quyền miễn trừ. Quy định tại điểm a khoản 1 Điều 100 Bộ luật Dân sự năm 2015 được hiểu, quốc gia phải chịu các nghĩa vụ trong quan hệ mà mình xác lập với chủ thể nước ngoài khi quốc gia đã từ bỏ quyền miễn trừ. Việc từ bỏ quyền miễn trừ của quốc gia cần phải được thế hiện rố ràng trong pháp luật quốc gia, trong điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên hoặc trong các văn bản cụ thể mà quốc gia kí kết.

Các bên trong quan hệ dân sự có thỏa thuận từ bỏ quyền miễn trừ. Khác với trường hợp trên, quyền miễn trừ quốc gia quy định trong các điều ước quốc tế, thì sự từ bỏ quyền miễn trừ do các bên tự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên. Khi Nhà nước, cơ quan Nhà nước Việt Nam đã từ bỏ quyền miễn trừ thì phải chịu các nghĩa vụ phát sinh khi tham gia các quan hệ.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương từ bỏ quyền miễn trừ. Đây là trường hợp, Nhà nước, cơ quan Nhà nước từ bỏ quyền miễn trừ theo ý chí, theo sự quyết định của chính mình. Thông thường, việc Nhà nước, cơ quan nhà nước từ bỏ quyền miễn trừ của mình là nhằm tạo ra một cơ chế ngang bằng với các chủ thể nước ngoài đang có quan hệ với họ. Khi Nhà nước, cơ quan nhà nước từ bỏ quyền miễn trừ thì họ phải chịu nghĩa vụ trước Nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài mà họ xác lập quan hệ.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)