- 1. Tranh chấp quốc tế là gì?
- 2. Phân loại tranh chấp quốc tế
- 3. Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp đàm phán trực tiếp
- 4. Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp môi giới
- 5. Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp trung gian
- 6. Giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua Uỷ ban điều tra
- 7. Giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua Uỷ ban hoà giải
1. Tranh chấp quốc tế là gì?
Trong quá trình cùng tồn tại, hợp tác và đấu tranh để phát triển của các quốc gia, việc các tranh chấp phát sinh, tồn tại giữa họ là điều tất yếu. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, khi các mối quan hệ hợp tác lệ thuộc giữa các quốc gia ngày càng trở lên phổ biến, sâu sắc thì nguy cơ phát sinh các tranh chấp giữa họ cũng ngày càng trở lên thường trực. Tính chất và quy mô của các tranh chấp do vậy cũng phức tạp và rộng lớn hơn. Xét một cách khái quát nhất, tranh chấp quốc tế được hiểu là một trạng thái hay tình huống quốc tế mà trong đó các chủ thể tham gia có sự bất động, mâu thuẫn với nhau về quan điểm, có những đòi hỏi quyển lợi trái ngược nhau.
Trong thực tiễn, một số thuật ngữ có thể được dùng thay thế cho thuật ngữ tranh chấp quốc tế, chẳng hạn thuật ngữ tranh cãi quốc tế bất đồng quốc tế; mâu thuẫn quốc tế; xung đột quốc tế. Trong các trường hợp đầu, các thuật ngữ được sử dụng ít thông dụng và ít tính pháp lý hơn. Trong trường hợp sau củng, xung đột quốc tế cũng được hiểu là một tình huống tranh chấp quốc tế nhưng có tính chất vũ trang. Tính chất quốc tế của một tranh chấp quốc tế thể hiện ở việc các bên tham gia tranh chấp là những quốc gia, hoặc các chủ thể khác của luật quốc tế. Việc giải quyết các tranh chấp này phải dựa trên pháp luật quốc tế (Công pháp quốc tế), theo một cơ chế hay bởi một cơ quan tài phán có tính chất quốc tế. Điều này cho phép phân biệt khái niệm tranh chấp quốc tế sử dụng trong luật quốc tế với khái niệm tranh chấp quốc tế trong lĩnh vực thương mại, dân sự. Những tranh chấp quốc tế trong lĩnh vực thương mại, dân sự là những tranh chấp giữa các bên là cá nhân, pháp nhân mang quốc tịch của các quốc gia khác nhau. Việc giải quyết chúng về nguyên tắc phải áp dụng các quy định của pháp luật quốc gia và trước các cơ quan tài phán của quốc gia. Trong trường hợp rất cá biệt, có thể tồn tại những tranh chấp giữa quốc gia với các cá nhân, pháp nhân của quốc gia khác và được giải quyết theo một cơ chế thực sự mang tính chất quốc tế.
2. Phân loại tranh chấp quốc tế
Tuỳ thuộc vào tiêu chí được sử dụng tranh chấp quốc tế có thể được phân thành nhiều loại khác nhau. Việc phân loại có ý nghĩa quan trọng trong xác định cơ chế, thủ tục thích hợp để giải quyết các tranh chấp quốc tế.
- Căn cứ vào tư cách các chủ thể của tranh chấp, có tranh chấp giữa các quốc gia và tranh chấp giữa các quốc gia với các chủ thể khác của luật quốc tế, hoặc tranh chấp giữa các chủ thể khác của luật quốc tế với nhau. Trên thực tế, các tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia luôn chiếm tuyệt đại đa số các tranh chấp quốc tế nói chung. Các quy định của luật quốc tế về giải quyết tranh chấp cũng chủ yếu liên quan đến loại tranh chấp này.
- Căn cứ vào số lượng các chủ thể tham gia tranh chấp, có thể phân biệt các tranh chấp song phương với các tranh chấp có sự tham gia của nhiều bên. Sự phân loại này có ý nghĩa trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp và việc áp dụng các quy định thủ tục, tố tụng trong giải quyết tranh chấp. Nếu căn cứ vào tính chất của tranh chấp, có thể phân biệt các tranh chấp chính trị với các tranh chấp pháp lý. Tranh chấp chính trị là tranh chấp giữa các chủ thể về những lợi ích phi pháp lý mà những đòi hỏi, lập luận của các bên không dựa trên các tiêu chí pháp lý. Tranh chấp pháp lý là tranh chấp giữa các chủ thể về việc xác định sự tồn tại, giải thích hay áp dụng một quy định pháp luật. Việc phân biệt hai loại tranh chấp này trong nhiều trường hợp chỉ mang tính tương đối: một tranh chấp chính trị cũng có thể chứa đựng những yếu tố pháp lý nhất định. Mọi tranh chấp pháp lý quốc tế đều được đặt trong một bối cảnh chính trị nhất định. Tuy nhiên, sự phân biệt này là cần thiết khi về nguyên tắc chỉ những tranh chấp pháp lý mới có thể được giải quyết bằng con đường xét xử tư pháp.
- Căn cứ vào đối tượng tranh chấp, tranh chấp quốc tế có thể được phân loại thành nhiều dạng khác nhau: tranh chấp về biên giới, lãnh thổ; tranh chấp về kinh tế, thương mại; tranh chấp về xác định trách nhiệm pháp lý quốc tế....
- Căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tranh chấp, có thể phân biệt các tranh chấp quốc tế thông thường với các tranh chấp quốc tế mà sự xuất hiện hay kéo dài có thể ảnh hưởng đến hoà bình và an ninh quốc tế. Theo luật quốc tế hiện đại, việc giải quyết các tranh chấp mà sự xuất hiện hay kéo dài có thể gây tổn hại đến hoà bình và an ninh quốc tế phải tuân thủ những nguyên tắc, quy định nhất định liên quan đến nghĩa vụ gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế của các quốc gia.
3. Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp đàm phán trực tiếp
Đàm phán trực tiếp là biện pháp cổ điển nhất nhưng cũng phổ biến nhất trong giải quyết các tranh chấp quốc tế. Ưu điểm của biện pháp này hiển nhiên thể hiện ở tỉnh trực tiếp của nó. Thông qua đàm phán, các quan điểm, lập trường cũng như yêu sách cụ thể của mỗi bên được thể hiện rõ nhất, trực tiếp nhất. Đàm phán trực tiếp cũng có ưu điểm là hạn chế được ảnh hưởng tác động của bên thứ ba vào quan hệ tranh chấp.
Pháp luật quốc tế không có quy định cụ thể về thủ tục, cách thức đàm phán giải quyết tranh chấp. Quyết định về các vấn đề này hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên, tuỳ thuộc vào bối cảnh của từng tranh chấp cụ thể. Tuy nhiên, để sử dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp khác, chẳng hạn biện pháp xét xử, thì đàm phán có thể được coi là một giai đoạn bắt buộc. Trong trường hợp đàm phán là một giai đoạn bắt buộc để giải quyết tranh chấp, nghĩa vụ đàm phán không đồng nghĩa với nghĩa vụ phải đạt đến một kết quả nhất định. Tiêu chí quyết định để đánh giá việc thực hiện nghĩa vụ đàm phán chỉ là thái độ thiện chí của mỗi bên.
Kết quả của đàm phán là sau khi được cơ quan có thẩm quyền của mỗi bên xác nhận, chấp nhận sẽ có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các bên.
4. Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp môi giới
Môi giới được hiểu là biện pháp mà thông qua đó một bên thứ ba đối với quan hệ tranh chấp dựa trên những ảnh hưởng uy tín của mình giúp các bên tranh chấp tiếp xúc, gặp gỡ để tìm các giải pháp cho quan hệ tranh chấp. Biện pháp môi giới có nguồn gốc tập quán và được pháp điển hoá trong các Công ước Lahay năm 1899 và năm 1907 về giải quyết các tranh chấp quốc tế.
Biện pháp môi giới là một trong những biện pháp giải quyết tranh chấp bằng con đường ngoại giao, có sự tham gia của bên thứ ba nhưng ở mức độ hạn chế nhất. Vai trò của bên môi giới chỉ giới hạn ở việc tác động, tạo điều kiện cho các bên tranh chấp ngôi lại cùng nhau, hoặc lần đầu hoặc sau một thời gian gián đoạn để giải quyết tranh chấp. Bên môi giới có thể là một quốc gia, một tổ chức quốc tế, nhưng thông thường là một nhân vật chính trị, ngoại giao có uy tín, có vị trí trung lập trong quan hệ với các bên tranh chấp.
5. Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp trung gian
Trung gian cũng là một biện pháp giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba được ghi nhận trong Công ước La Haye năm 1899 và 1907. Hiện nay, biện pháp này được đề cập đến trong Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc, cũng như trong hầu hết các văn kiện quốc tế quan trọng khác có liên quan đến giải quyết tranh chấp quốc tế. Về mặt bản chất, không có sự khác biệt giữa biện pháp môi giới và biện pháp trung gian: cả hai biện pháp đều thể hiện sự tham gia của bên thứ ba với mục đích giúp đỡ, tạo điều kiện cho các bên tranh chấp đi đến thỏa thuận, và đều phải thỏa mãn điều kiện về vai trò trung lập, không áp đặt của bên thứ ba. Sự khác biệt duy nhất giữa hai biện pháp này là mức độ tham gia của bên thứ ba: vai trò của bên môi giới chi dừng lại ở việc giúp các bên tranh chấp ngồi lại cùng nhau trong khi vai trò của bên trung gian còn tiếp tục kéo dài trong cả quá trình giải quyết tranh chấp. Trong thực tiễn, nếu hoàn thành tốt việc giúp các bên tranh chấp gặp gỡ hoặc quay lại đàm phán thì rất có thể bên môi giới lại được các bên tranh chấp đề nghị tiếp tục tham gia quá trình giải quyết tranh chấp với tư cách bên trung gian.
Bên trung gian có vai trò trong việc truyền đạt thông tin, quan điểm của các bên tranh chấp với nhau, đưa ra những sáng kiến, kiến nghị giúp các bên thu hẹp khoảng cách tranh chấp. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, ý kiến của bên trung gian không có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp. Trong quá trình đóng vai trò trung gian, bên trung gian có nghĩa vụ hành xử trên nguyên tắc trung thực, trung lập. Mặt khác, bên trung gian cũng có nghĩa vụ bảo mật các thông tin có được khi tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của các bên tranh chấp.
6. Giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua Uỷ ban điều tra
Uỷ ban điều tra cũng là một hình thức tham gia của bên thứ ba vào quá trình giải quyết một tranh chấp quốc tế. Biện pháp này có nguồn gốc tập quán, được pháp điển hoá trong Công ước La Haye năm 1907 và hiện nay được ghi nhận trong Điều 33 của Hiến chương Liên hợp quốc cũng như trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng khác.
Uỷ ban điều tra không có vai trò trực tiếp trong việc tìm kiếm các giải pháp cho cuộc tranh chấp, mà chỉ giới hạn ở việc tìm kiếm, xác định những sự kiện, tình huống khách quan là nguyên nhẫn hay bối cảnh của tranh chấp. Việc thành lập Uỷ ban điều tra không phải là nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên trong một tranh chấp. Trong trường hợp các bên tranh chấp cho rằng việc thành lập một Uỷ ban điều tra là cần thiết thì họ sẽ ký kết một thỏa thuận, trong đó xác định rõ cách thức thành lập, thành phần của Uỷ ban, các sự việc cần điều tra, cũng như thời hạn và giới hạn điều tra. Các kết quả làm việc của Uỷ ban điều tra được thể hiện trong một báo cáo gửi cho các bên tranh chấp và không có giá trị ràng buộc đối với các bên.
7. Giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua Uỷ ban hoà giải
Việc sử dụng Uỷ ban hoà giải để giải quyết tranh chấp quốc tế là một thực tiễn lâu đời trong quan hệ quốc tế. Biện pháp này được ghi nhận trong Lahay năm 1907, tại Điều 33 của Hiến chương Liên hợp quốc gia. quốc và trong nhiều điều ước quốc tế đa phương song phương giữa các quốc gia. Trong số các biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua con đường ngoại giao có sự tham gia của bên thứ ba thì biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua Uỷ ban hoà giải có tính thể chế nhiều nhất, thể hiện vai trò của bên thứ ba rõ nét nhất. Nhiệm vụ của Uỷ ban hoà giải là xem xét toàn bộ các khía cạnh của vụ tranh chấp, bao gồm cả các khía cạnh thực tiễn và khía cạnh pháp lý, trên cơ sở đó, đưa ra giải pháp có tính khuyến nghị đối với vụ tranh chấp cho các bên. Việc sử dụng Uỷ ban hoà giải để giải quyết tranh chấp không phải là một nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên tranh chấp, trừ trường hợp các bên đã có thỏa thuận trước như vậy.
Uỷ ban hoà giải có thể là một cơ quan thường trực được thành lập trước đó và được các bên chấp nhận, hoặc là một Uỷ ban có tính chất vụ việc (adhoc) được các bên thành lập khi tranh chấp đã phát sinh. Về cơ chế hoạt động, Uỷ ban hoà giải có những điểm tương đồng với một cơ quan xét xử, chẳng hạn đảm bảo sự đối chất, tranh tụng giữa các bên, xem xét vụ tranh chấp cả dưới góc độ sự kiện và góc độ pháp lý. Tuy nhiên, điểm đặc trưng cơ bản đế Uỷ ban hoà giải không phải là một cơ quan xét xử là tính chất không ràng buộc của kết luận của nó. Giải pháp mà Uỷ ban kiến nghị đối với vụ tranh chấp không có giá trị bắt buộc đối với các bên.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập).