1. Triệu tập người làm chứng lên làm việc gọi điện thoại đúng hay sai ?

>> Xem thêm: Quy định mới nhất về bảo vệ người làm chứng trong vụ án hình sự ?

Thưa luật sư, Có một số điện thoại lạ gọi điện cho tôi xưng là công phường và bảo tôi là triệu tập tôi lên để làm chứng. Trong khi tôi không có dính líu đến vụ án nào ? Tôi có nên đi không ?

Luật sư trả lời :

Cảm ơn bạn đa gửi câu hỏi đến Luật Minh Khuê. Câu hỏi của bạn được đội ngũ luật sư của chúng tôi biên tập và trả lời như sau :

Căn cứ theo khoản 1 điều 185 bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định như sau :

Điều 185. Triệu tập người làm chứng

1. Khi triệu tập người làm chứng đến lấy lời khai, Điều tra viên phải gửi giấy triệu tập.

2. Giấy triệu tập người làm chứng ghi rõ họ tên, chỗ ở hoặc nơi làm việc, học tập của người làm chứng; giờ, ngày, tháng, năm và địa điểm có mặt; mục đích và nội dung làm việc, thời gian làm việc; gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.

3. Việc giao giấy triệu tập được thực hiện như sau:

a) Giấy triệu tập được giao trực tiếp cho người làm chứng hoặc thông qua chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người làm chứng cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập. Trong mọi trường hợp, việc giao giấy triệu tập phải được ký nhận. Chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người làm chứng cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập có trách nhiệm tạo điều kiện cho người làm chứng thực hiện nghĩa vụ;

b) Giấy triệu tập người làm chứng dưới 18 tuổi được giao cho cha, mẹ hoặc người đại diện khác của họ;

c) Việc giao giấy triệu tập người làm chứng theo ủy thác tư pháp của nước ngoài được thực hiện theo quy định tại khoản này và Luật tương trợ tư pháp.

4. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể triệu tập người làm chứng để lấy lời khai. Việc triệu tập người làm chứng được thực hiện theo quy định tại Điều này.

Như vậy, nếu được triệu tập bạn phải nhận được giấy triệu tập và có đóng dấu của cơ quan có thẩm quyền.

Trong trường hợp này bạn cần xác minh có đúng đó là công an không thì mới đi

2.Người làm chứng là gì ?

>> Xem thêm: Phân tích một số chiến thuật lấy lời khai của người làm chứng ?

>> Xem thêm:  Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng trong vụ án hình sự ?

Điều 66. Người làm chứng

1. Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.

2. Những người sau đây không được làm chứng:

a) Người bào chữa của người bị buộc tội;

b) Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn.

3. Người làm chứng có quyền:

a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;

b) Yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;

c) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia làm chứng;

d) Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật.

>> Xem thêm:  Người giám định là gì ? Quyền và nghĩa vụ người giám định

4. Người làm chứng có nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải;

b) Trình bày trung thực những tình tiết mà mình biết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và lý do biết được những tình tiết đó.

5. Người làm chứng khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo, trốn tránh việc khai báo mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.

6. Cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc hoặc học tập có trách nhiệm tạo điều kiện để họ tham gia tố tụng.

3.Quy định của pháp luật về triệu tập người làm chứng

>> Xem thêm: Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lấy lời khai của người làm chứng ?

1. Khi triệu tập người làm chứng đến lấy lời khai, Điều tra viên phải gửi giấy triệu tập.

2. Giấy triệu tập người làm chứng ghi rõ họ tên, chỗ ở hoặc nơi làm việc, học tập của người làm chứng; giờ, ngày, tháng, năm và địa điểm có mặt; mục đích và nội dung làm việc, thời gian làm việc; gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.

3. Việc giao giấy triệu tập được thực hiện như sau:

>> Xem thêm:  Quy định mới nhất về bảo vệ người làm chứng trong vụ án hình sự ?

a) Giấy triệu tập được giao trực tiếp cho người làm chứng hoặc thông qua chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người làm chứng cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập. Trong mọi trường hợp, việc giao giấy triệu tập phải được ký nhận. Chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người làm chứng cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập có trách nhiệm tạo điều kiện cho người làm chứng thực hiện nghĩa vụ;

b) Giấy triệu tập người làm chứng dưới 18 tuổi được giao cho cha, mẹ hoặc người đại diện khác của họ;

c) Việc giao giấy triệu tập người làm chứng theo ủy thác tư pháp của nước ngoài được thực hiện theo quy định tại khoản này và Luật tương trợ tư pháp.

4. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể triệu tập người làm chứng để lấy lời khai. Việc triệu tập người làm chứng được thực hiện theo quy định tại Điều này.

4. Người làm chứng trong tố tụng hình sự

>> Xem thêm: Luật định nghĩa tội phạm, hình phạt và những yếu tố cấu thành tội phạm theo pháp luật Hoa Kỳ?

Theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, người làm chứng là người biết được các tình tiết có liên quan đến vụ án được các cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến để lấy lời khai về các tình tiết đó.

“Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.”

Người làm chứng trước hết là những người biết được các tình tiết có liên quan đến vụ án. Họ có thể trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy hoặc được người khác kể lại về những tình tiết có liên quan đến vụ án. Theo triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc họ tự nguyện đến cơ quan tiến hành tố tụng khai báo về các tình tiết mà mình biết, được các cơ quan tiến hành tố tụng xác định tư cách là người làm chứng trong vụ án hình sự.

Để bảo đảm tính khách quan, chính xác của lời khai của người làm chứng, Bộ luật tố tụng hình sự quy định những người sau đây không được làm chứng:

>> Xem thêm:  Phân tích một số chiến thuật lấy lời khai của người làm chứng ?

– Người bào chữa cho bị can, bị cáo.

Người bào chữa là người bảo vệ quyền lợi cho bị can, bị cáo, đương nhiên là lời khai của họ luôn theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo, không thể khách quan vô tư. Hơn nữa, người bào chữa không được tiết lộ bí mật mà mình biết về bị can, bị cáo. Do vậy, người bào chữa không thể đồng thời là người làm chứng trong vụ án hình sự

– Người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần không có khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn.

Quyền của người làm chứng như sau:

Yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng. Thông thường lời khai của người làm chứng, sẽ có lợi cho một bên tham gia tố tụng và bất lợi cho phía bên kia, thường là bất lợi cho bị can, bị cáo. Vì vậy, không loại trừ khả năng bị can, bị cáo hoặc gia đình họ đe dọa người làm chứng. Người làm chứng có quyền yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng đã triệu tập mình có biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình.

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Ví dụ: trong biên bản ghi lời khai của người làm chứng; Điều tra viên không ghi đúng nội dung người làm chứng đã khai, hoặc khi Cơ quan điều tra không bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người làm chứng, người làm chứng có quyền khiếu nại hành vi của Điều tra viên, của Cơ quan điều tra.

Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật. Người làm chứng là người không có những quyền và lợi ích liên quan trực tiếp đến việc giải quyết vụ án. Việc họ tham gia tố tụng là theo triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Họ có quyền được yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng đã triệu tập họ thanh toán cho họ chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật như chi phí ăn, ở…

Người làm chứng có nghĩa vụ sau đây:

Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án; trong trường hợp cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải.

Việc người làm chứng tham gia tố tụng là nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước. Khi triệu tập họ tham gia tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã phải bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, bởi vậy, họ có trách nhiệm phải thực hiện yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Họ phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Nếu họ cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng thì có thể bị dẫn giải.

>> Xem thêm:  Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lấy lời khai của người làm chứng ?

Người làm chứng có nghĩa vụ khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án.

Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh khai báo mà không lý do chính đáng hoặc khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 382 và Điều 383 của Bộ luật hình sự.

5.Bình luận và phân tích vấn đề triệu tập người làm chứng theo quy định

>> Xem thêm: Bản chất, căn nguyên của tội phạm và phân loại tội phạm theo pháp luật Hoa Kỳ ?

– Căn cứ vào Điều 66 của Bộ luật tố tụng hình sự, người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án vì thế lời khai đúng sự thật của người làm chứng có giá trị chứng cứ quan trọng để giải quyết vụ án. Tuy nhiên, để người biết các tình tiết liên quan đến vụ án đó có thể tham gia vào giải quyết vụ án thì họ phải có một tư cách nhất định trong toàn bộ những chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng. Chính vì vậy, luật quy định, khi cần thiết để những người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án đến làm chứng, người tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên) phải có một quyết định cụ thể triệu tập họ với tư cách người làm chứng.

Để triệu tập người làm chứng, Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên phải gửi giấy triệu tập. Thay cho việc mời người biết sự việc làm chứng như trước đây, Bộ luật tố tụng hình sự quy định hình thức Giấy triệu tập người làm chứng. Hình thức giấy triệu tập mà Bộ luật quy định đã tạo hiệu lực pháp lý, bảo đảm quan trọng để buộc người biết các tình tiết của vụ án phải có mặt theo yêu cầu của điều tra viên, kiểm sát viên. Giấy triệu tập người làm chứng phải ghi rõ họ tên, chỗ ở của người làm chứng, ngày, tháng, năm, địa điểm có mặt, gặp ai.

Quyết định triệu tập của Điều tra viên, Kiểm sát viên là văn bản chính thức công nhận một người nào đó là người làm chứng trong vụ án.

Để có thể triệu tập đến làm chứng trong vụ án hình sự, những người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án đổ, Điều tra viên, Kiểm sát viên phải có đầy đủ thông tin đế khẳng định rằng:

+ Đó là những người không giữ vai trò là người bào chữa của bị can, bị cáo;

+ Đó là những người không bị khuyết tật về tâm thần hoặc thể chất đến mức mất khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án mà họ biết, hoặc không còn khả năng khai báo đúng đắn.

>> Xem thêm:  Phân tích nhiệm vụ, phương pháp và trình tự lấy lời khai của người làm chứng ?

– Trong trường hợp cần thiết, để khẳng định điều đó Điều tra viên, Kiểm sát viên có thể tiến hành trưng cầu giám định nhằm làm rõ tình trạng tâm thần của người làm chứng.

Căn cứ vào điểm c khoản 3, Điều 155 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều tra viên, Kiểm sát viên có thể trưng cầu giám định khi có sự nghi ngờ đối với những người biết được các tình tiết của vụ án về khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn những tình tiết của vụ án.

– Trong giấy triệu tập phải nêu rõ trách nhiệm về việc vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ vào khoản 4 Điều 66 của Bộ luật tố tụng hình sự người làm chứng có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Toà án. Trong trường hợp cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của người làm chứng có thể gây trở ngại cho việc điều tra truy tố, xét xử thì họ có thể bị dẫn giải. Trường hợp cố tình không có mặt nhằm từ chối khai báo và trốn tránh mà không có lý do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 383 của Bộ luật hình sự.

Giấy triệu tập được giao trực tiếp cho người làm chứng, điều đó có nghĩa là cơ quan hay người tiến hành tố tụng đã có quyết định triệu tập người làm chứng phải bảo đảm để người làm chứng hoặc được nhìn thấy và được đọc hoặc được nghe người khác đọc toàn văn giấy triệu tập.

+ Có thể được coi là giao trực tiếp, trường hợp người làm chứng có những khiếm khuyết về tinh thần hoặc thể chất, giấy triệu tập được giao cho người đại diện hợp pháp của họ.

+ Trường hợp không giao trực tiếp được, thì có thể thông qua chính quyền xã phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng cư trú hoặc làm việc để chuyển giấy triệu tập.

+ Các cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm tạo điều kiện cho người làm chứng thực hiện nghĩa vụ.

– Điều luật quy định, trong mọi trường hợp, việc giao giấy triệu tập phải được ký nhận. Tuy nhiên, điều luật không quy định cụ thể đó là chữ ký của ai và chữ ký đó được ký trên văn bản, giấy tờ nào. Thực tiễn cho thấy, trường hợp giấy triệu tập được giao trực tiếp thì người nhận giấy phải ký biên nhận. Trường hợp thông qua chính quyền xã phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng cư trú hoặc làm việc thì cần có chữ ký của người đại diện cơ quan chính quyền xã phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng cư trú hoặc làm việc. Điều này phù hợp với quy định trong điều luật về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức đó phải tạo điều kiện cho người làm chứng thực hiện nghĩa vụ. Người đưa giấy triệu tập có thể yêu cầu ký nhận vào sổ biên nhận. Tuy nhiên, để bảo đảm tính hợp pháp, chặt chẽ, thì chính quyền xã phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng cư trú hoặc làm việc khi giao giấy triệu tập cho người làm chứng phải yêu cầu người làm chứng ký xác nhận.

Trường hợp người làm chứng chưa đủ 16 tuổi, giấy triệu tập được giao cho cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp khác của họ và những người này phải ký nhận.

– Điều luật quy định riêng một khoản cho trường hợp Kiểm sát viên triệu tập người làm chứng, bởi trong quá trình tố tụng, việc triệu tập người làm chứng chủ yếu do Điều tra viên (giai đoạn trước khi xét xử) hoặc Toà án (giai đoạn xét xử, theo quy định tại Điều 66) tiến hành. Trong quá trình đó, Kiểm sát viên chỉ triệu tập trong những trường hợp đặc biệt khi Viện kiểm sát khởi tố và tiến hành điều tra đối với vụ án hình sự để thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp. Điều luật quy định khi Kiểm sát viên triệu tập người làm chứng vẫn phải thực hiện theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật tố tụng hình sự.

>> Xem thêm:  Người làm chứng trong vụ án hình sự ? Cách phân loại người làm chứng

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về người làm chứng cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Người chứng kiến là gì ? Quyền và nghĩa vụ của người chứng kiến trong vụ án hình sự ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Tổ chức điều trị cho người bị bắt buộc chữa bệnh trong thi hành án HS

Trả lời:

1. Cơ sở chữa bệnh tâm thần có trách nhiệm quản lý, tổ chức điều trị bệnh cho người bị bắt buộc chữa bệnh và không được phân biệt đối xử.

2. Trong thời gian bắt buộc chữa bệnh, thân nhân của người bị bắt buộc chữa bệnh được gặp và phối hợp chăm sóc người bị bắt buộc chữa bệnh và phải chấp hành đúng quy định về thăm gặp, chăm sóc của cơ sở chữa bệnh tâm thần.

3. Trường hợp người bị bắt buộc chữa bệnh bỏ trốn, cơ sở chữa bệnh tâm thần phải lập biên bản và thông báo ngay cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và gia đình của người đó biết để phối hợp truy tìm, đưa người đó trở lại cơ sở chữa bệnh tâm thần.

4. Kinh phí điều trị do cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc Viện kiểm sát, Tòa án tự mình quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh chi trả từ nguồn ngân sách nhà nước

Câu hỏi: Đình chỉ thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định Pháp luật

Trả lời:

1. Khi người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh, thủ trưởng cơ sở chữa bệnh tâm thần thông báo cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh để yêu cầu Hội đồng giám định y khoa tiến hành giám định về tình trạng bệnh của người đó.

Căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định y khoa về việc người đó đã khỏi bệnh, cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đề nghị Tòa án hoặc Viện kiểm sát đã ra quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ra quyết định đình chỉ việc thi hành biện pháp này.

2. Tòa án hoặc Viện kiểm sát đã ra quyết định đình chỉ thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh có trách nhiệm gửi quyết định cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh để thông báo cho cơ sở chữa bệnh tâm thần và thân nhân của người đó.

3. Sau khi nhận được quyết định đình chỉ, cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh phải đến nhận người bị bắt buộc chữa bệnh. Việc giao nhận phải lập biên bản, trong đó ghi rõ thời gian chữa bệnh tại cơ sở chữa bệnh tâm thần.

Câu hỏi: Giải quyết theo pháp luật trường hợp người bị bắt buộc chữa bệnh chết

Trả lời:

1. Trường hợp người bị bắt buộc chữa bệnh chết, thủ trưởng cơ sở chữa bệnh tâm thần phải báo ngay cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền để xác định nguyên nhân chết, thông báo cho thân nhân của người chết, cơ quan quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 136 của Luật này.

2. Sau khi được cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có thẩm quyền cho phép, cơ sở chữa bệnh tâm thần có trách nhiệm mai táng. Kinh phí cho việc mai táng do ngân sách nhà nước cấp. Trường hợp thân nhân của người chết đề nghị nhận tử thi để mai táng và tự chịu chi phí thì cơ sở chữa bệnh tâm thần giao cho họ thực hiện. Việc tổ chức mai táng phải bảo đảm an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường.