1. Trình tự, thủ tục sáp nhập doanh nghiệp ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Trình tự, thủ tục sáp nhập doanh nghiệp là gì ? Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nhận sáp nhập như thế nào? Những thành viên của công ty bị sáp nhập có quyền lợi và nghĩa vụ gì ? Nghĩa vụ với các khoản nợ ?
Cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 195, Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định Sáp nhập doanh nghiệp:
1. Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.

Thủ tục sáp nhập doanh nghiệp:

Căn cứ vào Khoản 2, Điều 195 Luật doanh nghiệp 2014 có quy định

>> Thủ tục sáp nhập công ty được quy định như sau:
a) Các công ty liên quan chuẩn bị hợp đồng sáp nhập và dự thảo Điều lệ công ty nhận sáp nhập. Hợp đồng sáp nhập phải có các nội dung chủ yếu về tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty nhận sáp nhập; tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty bị sáp nhập; thủ tục và điều kiện sáp nhập; phương án sử dụng lao động; cách thức, thủ tục, thời hạn và điều kiện chuyển đổi tài sản, chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty bị sáp nhập thành phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty nhận sáp nhập; thời hạn thực hiện sáp nhập;
b) Các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của các công ty liên quan thông qua hợp đồng sáp nhập, Điều lệ công ty nhận sáp nhập và tiến hành đăng ký doanh nghiệp công ty nhận sáp nhập theo quy định của Luật này. Hợp đồng sáp nhập phải được gửi đến tất cả các chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua;
c) Sau khi đăng ký doanh nghiệp, công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại; công ty nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị sáp nhập.
3. Trường hợp sáp nhập mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của công ty thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành sáp nhập, trừ trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác.
Cấm các trường hợp sáp nhập các công ty mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan, trừ trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác.

Hồ sơ, trình tự đăng ký doanh nghiệp công ty nhận sáp nhập thực hiện theo các quy định tương ứng của Luật này và phải kèm theo bản sao các giấy tờ sau đây:

a) Hợp đồng sáp nhập;
b) Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập của các công ty nhận sáp nhập;
c) Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập của các công ty bị sáp nhập, trừ trường hợp công ty nhận sáp nhập là thành viên, cổ đông sở hữu trên 65% vốn điều lệ hoặc cổ phần có quyền biểu quyết của công ty bị sáp nhập.
5. Cơ quan đăng ký kinh doanh tiến hành cập nhật tình trạng pháp lý của công ty bị sáp nhập trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và thực hiện thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp cho công ty nhận sáp nhập.
Trường hợp công ty bị sáp nhập có địa chỉ trụ sở chính ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đặt trụ sở chính công ty nhận sáp nhập thì Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi công ty nhận sáp nhập thông báo việc đăng ký doanh nghiệp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi đặt trụ sở chính công ty bị sáp nhập để cập nhật tình trạng pháp lý của công ty bị sáp nhập trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Như vậy, Công ty nhận sáp nhận sẽ kế thừa tất cả những nghĩa vụ của công ty bị sáp nhập: như những khoản nợ, nghĩa vụ với người lao động, nghĩa vụ liên quan đến thuế và tài chính khác.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn về thủ tục và chi phí sáp nhập Công ty ? Cần làm gì để mua lại thành công một công ty ?

2. Hai công ty kinh doanh lĩnh vực khác có sáp nhập được không ?

Thưa luật sư, Cho mình hỏi: Hai công ty ở 02 lĩnh vực khác nhau thực hiện thủ tục sáp nhập như thế nào?
Cảm ơn luật sư!

Hai công ty ở 02 lĩnh vực khác nhau thực hiện thủ tục sáp nhập như thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp về thủ tục sáp nhập, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 195 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về sáp nhập doanh nghiệp như sau:

“1. Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.

2. Thủ tục sáp nhập công ty được quy định như sau:
a) Các công ty liên quan chuẩn bị hợp đồng sáp nhập và dự thảo Điều lệ công ty nhận sáp nhập. Hợp đồng sáp nhập phải có các nội dung chủ yếu về tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty nhận sáp nhập; tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty bị sáp nhập; thủ tục và điều kiện sáp nhập; phương án sử dụng lao động; cách thức, thủ tục, thời hạn và điều kiện chuyển đổi tài sản, chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty bị sáp nhập thành phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty nhận sáp nhập; thời hạn thực hiện sáp nhập;
b) Các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của các công ty liên quan thông qua hợp đồng sáp nhập, Điều lệ công ty nhận sáp nhập và tiến hành đăng ký doanh nghiệp công ty nhận sáp nhập theo quy định của Luật này. Hợp đồng sáp nhập phải được gửi đến tất cả các chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua;
c) Sau khi đăng ký doanh nghiệp, công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại; công ty nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị sáp nhập.

3. Trường hợp sáp nhập mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của công ty thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành sáp nhập, trừ trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác.
Cấm các trường hợp sáp nhập các công ty mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan, trừ trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác.

4. Hồ sơ, trình tự đăng ký doanh nghiệp công ty nhận sáp nhập thực hiện theo các quy định tương ứng của Luật này và phải kèm theo bản sao các giấy tờ sau đây:
a) Hợp đồng sáp nhập;
b) Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập của các công ty nhận sáp nhập;
c) Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập của các công ty bị sáp nhập, trừ trường hợp công ty nhận sáp nhập là thành viên, cổ đông sở hữu trên 65% vốn điều lệ hoặc cổ phần có quyền biểu quyết của công ty bị sáp nhập.

5. Cơ quan đăng ký kinh doanh tiến hành cập nhật tình trạng pháp lý của công ty bị sáp nhập trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và thực hiện thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp cho công ty nhận sáp nhập.

Trường hợp công ty bị sáp nhập có địa chỉ trụ sở chính ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đặt trụ sở chính công ty nhận sáp nhập thì Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi công ty nhận sáp nhập thông báo việc đăng ký doanh nghiệp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi đặt trụ sở chính công ty bị sáp nhập để cập nhật tình trạng pháp lý của công ty bị sáp nhập trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp”.

Về điều kiện để sáp nhập hai công ty:

Hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2014Luật Cạnh tranh năm 2004 đã thống nhất được về điều kiện chung sáp nhập doanh nghiệp:

"Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập".

Tức là không yêu cầu về điều kiện sáp nhập phải là "công ty cùng loại" theo quy định tại luật doanh nghiệp cũ.

- Trường hợp sáp nhập mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của công ty thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành sáp nhập, trừ trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác.

- Cấm các trường hợp sáp nhập các công ty mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan, trừ trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác.

Hồ sơ sáp nhập công ty:

- Hồ sơ đăng ký kinh doanh theo loại hình của các công ty được sáp nhập;

- Hợp đồng hợp nhất;

- Biên bản họp về việc sáp nhập công ty:

+ Của Hội đồng thành viên công ty đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên;

+ Của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần;

- Quyết định bằng văn bản về việc sáp nhập công ty:

+ Của Hội đồng thành viên công ty đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên

+ Của Đại hội đồng cổ đông đối với Công ty Cổ phần;

- CMND hoặc hộ chiếu có chứng thực của chính quyền địa phương của tất cả các sáng lập viên của công ty nhận Sáp nhập;

- Bản sao hợp lệ (bản sao có công chứng) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty sáp nhập và công ty bị sáp nhập;

Thủ tục sáp nhập:

- Các công ty liên quan chuẩn bị hợp đồng sáp nhập và dự thảo Điều lệ công ty nhận sáp nhập.

- Các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của các công ty liên quan thông qua hợp đồng sáp nhập, Điều lệ công ty nhận sáp nhập và tiến hành đăng ký doanh nghiệp công ty nhận sáp nhập theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014.

- Gửi hợp đồng sáp nhập đến tất cả các chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua;
Sau khi nộp hồ sơ tới Sở kế hoạch và đầu tư sẽ có những khả năng sau đây:

- Nộp hồ sơ sáp nhập doanh nghiệp tới Sở Kế hoạch và đầu tư;

- Nếu hồ sơ đầy đủ và hợp lệ,bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ra phiếu nhận và hẹn ngày trả kết quả;

- Nếu hồ sơ chưa đúng,bộ phận tiếp nhận và trả kết quả yêu cầu bổ sung;

- Nếu hồ sơ thiếu:bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ra văn bản yêu cầu bổ sung.

-Trả kết quả.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê, Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục mua bán, sáp nhập doanh nghiệp thực hiện thế nào ? Cách lập hồ sơ xin sáp nhập công ty ?

3. Hướng dẫn đăng ký doanh nghiệp trên cơ sở sáp nhập ?

Thưa luật sư: Tôi muốn được tư vấn thành lập doanh nghiệp đối với các công ty được thành lập trên cơ sở chia, tách, hợp nhất và đối với công ty nhận sáp nhập miễn phí để tự mình làm hồ sơ đăng ký hay tôi muốn tìm một dịch vụ thành lập công ty chuyên nghiệp ?
Xin cám ơn !

>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Soạn thảo và nộp hồ sơ thành lập công ty đối với các công ty được thành lập trên cơ sở chia, tách, hợp nhất và đối với công ty nhận sáp nhập.

Bước 1: Soạn thảo hồ sơ công ty, chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP (văn bản thay thế: Nghị định 78/2015/NĐ-CP) về đăng ký doanh nghiệp.

Điều 22. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với các công ty được thành lập trên cơ sở chia, tách, hợp nhất và đối với công ty nhận sáp nhập

1. Trường hợp chia công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần thành một số công ty cùng loại, ngoài giấy tờ quy định tại Điều 20, Điều 21 Nghị định này, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải có quyết định chia công ty theo quy định tại Điều 150 của Luật Doanh nghiệp, biên bản họp Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần về việc chia công ty và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ tương đương khác của công ty.

2. Trường hợp tách công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần để thành lập một hoặc một số công ty mới cùng loại, ngoài giấy tờ quy định tại Điều 20, Điều 21 Nghị định này, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của công ty được tách phải có quyết định tách công ty theo quy định tại Điều 151 của Luật Doanh nghiệp, biên bản họp Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần về việc tách công ty và bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ tương đương khác của công ty.

3. Trường hợp hợp nhất một số công ty cùng loại thành một công ty mới, ngoài giấy tờ quy định tại Điều 20, Điều 21 Nghị định này, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải có hợp đồng hợp nhất công ty theo quy định tại Điều 152 của Luật Doanh nghiệp, biên bản họp và quyết định của Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, biên bản họp và quyết định của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần về việc hợp nhất và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ tương đương khác của các công ty bị hợp nhất.

4. Trường hợp sáp nhập một hoặc một số công ty vào một công ty khác cùng loại, ngoài giấy tờ quy định tại Chương V Nghị định này, trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của công ty nhận sáp nhập phải có thêm hợp đồng sáp nhập theo quy định tại Điều 153 của Luật Doanh nghiệp, biên bản họp và quyết định của Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần về việc sáp nhập và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của công ty nhận sáp nhập và các công ty bị sáp nhập.

Việc đăng bố cáo thành lập doanh nghiệp mới thực hiện đồng thời với việc bố cáo chấm dứt hoạt động doanh nghiệp cũ cũng như việc giải quyết các quyền và nghĩa vụ có liên quan.

Bước 2: Nộp hồ sơ đến Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính (Điều 25 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010). Lưu ý: Không nhất thiết người đại diện pháp luật của công ty phải đi nộp hồ sơ. Người đại diện pháp luật của công ty có thể ủy quyền cho người khác đi nộp thay. Nếu trường hợp ủy quyền thì người được ủy quyền cần có giấy ủy quyền hợp lệ (Điều 9 - Thông tư số 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Sau 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, nếu hồ sơ hợp lệ sẽ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Quy trình và thủ tục sáp nhập doanh nghiệp mới nhất ? Thủ tục sáp nhập công ty như thế nào ?

4. Mua bán, sáp nhập như thế nào để chuyên nghiệp hơn ?

Đầu năm đến nay, hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (M&A) tại Việt Nam diễn ra khá sôi động từ các diễn đàn đến giao dịch thực tế, trái với xu hướng trầm lắng trên thế giới.

Mua bán, sáp nhập như thế nào để chuyên nghiệp hơn?

Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

Tuy nhiên, hành lang pháp lý, kinh nghiệm đàm phán cũng như các rủi ro khác đang là những trở ngại lớn đối với thị trường M&A tại Việt Nam.

Đánh giá về mối liên hệ giữa suy giảm kinh tế và sự bùng nổ M&A ở Việt Nam thời gian vừa qua, ông Ewan Patrick, Giám đốc Tư vấn tài chính Deloitte Việt Nam, nói:

- Gần 6 tháng qua, các thương vụ M&A tại Việt Nam trở nên nhộn nhịp hơn trong khi M&A ở trên thế giới lại quá phẳng lặng, kể từ lúc Leman Brothers lâm vào khủng hoảng hồi cuối tháng chín năm ngoái.

Tôi nghĩ Việt Nam là một nước với rất nhiều cơ hội và rất nhiều “phần thưởng” cho những nhà đầu tư. Cũng như các nền kinh tế mới nổi, những cơ hội này luôn được gắn kèm với rủi ro.

Dường như M&A ở Việt Nam thiên về đầu tư tài chính đơn thuần trong khi cốt lõi là sự thay đổi cơ cấu sở hữu, quản trị điều hành và tái cấu trúc. Phải làm gì để thay đổi thực tế này?

Đúng là phần lớn các thương vụ ở Việt Nam, được chúng tôi gọi là “plain vanilla”, tức là chỉ mua bán tài sản đơn thuần.

Trong vòng hai đến ba năm trở lại đây điều mà tôi trải nghiệm là việc sử dụng hữu hiệu một số những công cụ tài chính phức tạp, nếu như những công cụ tài chính này được sử dụng rộng rãi hơn, những rủi ro cho đầu tư sẽ được giảm thiểu và giao dịch sẽ được hoàn tất trong thời gian sớm hơn.

Nhiều ý kiến cho rằng, giá trị các công ty Việt Nam khá tốt nhưng vì thiếu kinh nghiệm đàm phán nên bị giảm giá trị khi thực hiện M&A. Ông có lời khuyên gì cho các doanh nghiệp Việt Nam?

Định giá doanh nghiệp và tài sản ở Việt Nam là một chủ đề khá thú vị. Trong quá khứ, doanh nghiệp Việt Nam định giá từ giá trị thực của tài sản nhưng trên thị trường M&A hay bất kỳ thị trường nào, giá trị tài sản là giá mà người mua sẵn sàng chi trả cho tài sản đó.

Như vậy, một công ty có thể mua một tài sản với giá vài trăm ngàn USD nhưng khi bán lại, người mua tiếp theo chỉ trả không quá 10 nghìn USD thì giá trị tài sản đó chỉ 10 nghìn USD mà thôi.

Dĩ nhiên, để mua bán thành công thì phải dựa vào khá nhiều kỹ thuật có thể sử dụng để tăng giá trị của một công ty nhưng có một thứ mà tôi muốn nhấn mạnh đó là: từ góc nhìn của nhà đầu tư, định giá công ty Việt Nam sẽ dựa trên kỳ vọng sinh lời trong tương lai của công ty và yếu tố con người đóng vai trò lớn trong doanh nghiệp trong việc sinh lời trong tương lai.

Vì thế, với việc đưa vào những kỹ năng quản lý, chuyên môn và cả hệ thống quản lý và kiểm soát sẽ làm cho khả năng sinh lời trong tương lai được đẩy nhanh, đồng thời, khiến cho những nhà đầu tư tiềm năng cân nhắc cơ hội đầu tư của mình tự tin hơn. Nếu như nhà đầu tư cảm thấy chắc chắn và tin hơn về công ty định đầu tư, họ sẽ sẵn sàng hoàn thành giao dịch với một khoảng thời gian ngắn hơn.

Không ít cuộc “hôn nhân” M&A hoàn thành nhưng sau đó thì “cơm không lành, canh không ngọt” vì ai cũng muốn quyền kiểm soát nhiều hơn. Làm thế nào để cân bằng lợi ích?

Quá trình sau giai đoạn đầu tư là khi mà có nhiều giá trị có thể mất nhất, trong vòng 6 đến 9 tháng đầu tiên sau khi có sự sáp nhập, điều rất quan trọng là những giả định đã dùng để xác định đầu tư phải được thực hiện trên thực tế.

Ví dụ, nếu mà bên mua cho rằng doanh thu sẽ tăng 20% và vì thế họ sẵn sàng trả rất nhiều triệu USD cho công ty. Trước khi họ thực hiện đầu tư, họ nên bàn thảo và thống nhất những quan điểm này để sau đó những mặc định đó sẽ trở thành hiện thực.

Ví dụ ở khối ngân hàng ở Việt Nam, chúng ta đã thấy rất nhiều thương vụ đầu tư trong vòng vài năm trở lại đây, chúng ta cũng thấy khá nhiều những vụ đầu tư với triển vọng tốt đã không thành công bởi đúng lý do đã nêu ở trên; vì vậy kế hoạch hành động phải được lên rất chi tiết và phải có khả năng thực hiện được bởi cả bên bán và bên mua.

Ban điều hành (ban giám đốc) cần chia sẻ một tầm nhìn chung. Nếu như ban điều hành không chia sẻ với nhau tầm nhìn và toàn cảnh không được tốt cho lắm, điều đó sẽ bắt đầu ảnh hưởng đến việc đầu tư.

Với việc hiện nay nhập khẩu đang tăng và tổng sản lượng trong nước hiện vẫn khả quan - dù không được tốt như năm ngoái, chúng ta cũng bắt đầu thấy được ngày càng nhiều những vụ đầu tư có tính lịch sử được thực hiện nhưng lại không được thành công như một số “joint venture” trong ngành bất động sản.

Đã có trường hợp doanh nghiệp mua một doanh nghiệp nước ngoài với giá rẻ nhưng thực tế, món “hàng” đó đang gánh một khoản nợ rất lớn. Phải soát xét như thế nào để tránh rủi ro này?

Vấn đề đối với mức giá mua lại là nếu ai đó trả 1 USD để mua lại một công ty mà họ nghĩ là đáng giá, có nghĩa là doanh nghiệp đó có thể có giá trị thực tế là 50 USD, nhưng lại đang gánh rất nhiều khoản nợ mà trách nhiệm thanh toán trị giá 49 USD, vì vậy người mua sẽ có thể trả 1 USD để mua lại công ty đó.

Với vai trò là người bán tự chuẩn bị cho quá trình soát xét, điều mà chúng ta chưa thấy nhiều lắm ở Việt Nam cho đến nay, tôi tin rằng những chủ doanh nghiệp Việt Nam thực tế sẽ có thể tìm ra được nhiều giá trị của công ty mình hơn trong quá trình mua bán và sáp nhập nếu họ quản lý quá trình này chủ động hơn.

Sự chủ động tôi nói đến ở đây là việc chuẩn bị những thông tin tài chính đáng tin cậy hơn, đưa ra khung thời gian đàm phán cho bất cứ việc gì, và dành đủ thời gian cho đội dự án ngồi lại và đưa ra những thảo luận chi tiết với người mua tiềm năng.

Nếu chúng ta quan sát ở những thị trường phát triển hơn, có rất nhiều công cụ và kỹ thuật cho các dịch vụ, ví dụ như dịch vụ soát xét. Và tôi tin rằng trong thời gian khoảng 5 năm, dịch vụ soát xét này sẽ trở nên phổ biến hơn tại thị trường Việt Nam. Tôi cũng chia sẻ suy nghĩ với bạn rằng người bán sẽ được giá hơn nếu họ tiếp cận quá trình này tốt hơn.

Theo ông, lĩnh vực nào đang thu hút sự M&A của các công ty nước ngoài?

Chúng ta đang thấy rất nhiều doanh nghiệp quan tâm đến lĩnh vực viễn thông, ví dụ như việc cổ phần hóa của MobiFone, VinaPhone…Ở Deloitte, chúng tôi đã thực hiện rất nhiều giao dịch trong lĩnh vực dầu khí và các dịch vụ tài chính.

Dầu khí là một lĩnh vực vô cùng quan trọng đối với toàn nền kinh tế Việt Nam và tôi nghĩ việc xây dựng và cải tiến doanh nghiệp có thể mang lại những kỹ thuật tiên tiến, rất thuận lợi cho Việt Nam.

Ngoài ra, lĩnh vực ngân hàng cũng rất được quan tâm. Với nhu cầu về ngành tài chính như hiện nay, chúng tôi dự đoán sẽ chứng kiến sự thay đổi giảm đáng kể về số lượng ngân hàng thương mại trong thời gian tới.

Nếu có cơ hội, ông có mua 10% cổ phần VietinBank và Vietcombank, khi mà 80% vẫn dưới quyền kiểm soát của nhà nước và 10% còn lại thuộc về công chúng?

Đó là một cơ hội thú vị. Tôi thấy câu hỏi này khá liên quan đến khái niệm quản trị doanh nghiệp; nếu mua 10% cổ phần bạn sẽ có một số quyền kiểm soát và quản lý.

Tôi nghĩ với những giao dịch ở Việt Nam, chúng ta đã thấy những quyền kiểm soát đó thể hiện ở những giao dịch 10%, và sự kiểm soát sẽ được cải thiện theo thời gian. Cá nhân tôi, nếu tôi đủ giàu để mua 10% của Ngân hàng Vietinbank hay Vietcombank, tôi chắc chắn sẽ cân nhắc chuyện này.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Mẫu giấy xác nhận thu nhập tiền lương, tiền công mới nhất 2020

5. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua hình thức sáp nhập doanh nghiệp ?

Trên thế giới, việc tạo ra môi trường và hành lang pháp lý đồng bộ cho việc thu hút FDI đều được các nước chú trọng, tạo ra những điều kiện tốt nhất cho thị trường M&A phát triển. Với giá trị lên đến hàng ngàn tỷ USD mỗi năm, thị trường M&A không chỉ là kênh hút vốn của Nhà nước, doanh nghiệp mà còn tạo ra cơ hội cho nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường quốc gia dự định đầu tư một cách nhanh nhất, tiết kiệm được chi phí lớn nhất. Vì vậy, FDI và M&A có mối quan hệ biện chứng, việc hút lượng FDI nhiều hay ít phụ thuộc không nhỏ vào việc thiết lập, vận hành và phát triển thị trường M&A, và ngược lại M&A là giúp cho FDI xâm nhập nhanh nhất vào thị trường, bài viết này xin giới thiệu về một số khía cạnh liên quan đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua hình thức mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.

>> Luật sư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

1. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và mua bán sáp nhập doanh nghiệp trên thế giới và Việt Nam

1.1. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và mua bán sáp nhập doanh nghiệp trên thế giới.

Theo thống kê từ Tổ chức Thương mại và phát triển Liên hợp quốc (UNTACD), kể từ năm 2004 đến năm 2006, thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng liên tục, giá trị vốn FDI của năm 2005 trên thế giới là 916,3 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2004, giá trị vốn FDI của năm 2006 đạt trên 1200 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2005, 6 tháng đầu năm 2007, lượng vốn FDI của thế giới cũng đã vượt ngưỡng 700 tỷ USD. Nguồn vốn FDI đi qua nhiều kênh khác nhau, trong đó kênh mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A) góp phần quan trọng vào việc gia tăng số lượng và giá trị của lượng FDI trên toàn cầu. Theo những đánh giá của Thomson và PricewaterhouseCoopers’ (PwC) thì tổng giá trị M&A trong năm 2006 đã lên đến gần 3500 tỷ USD với gần 40.000 vụ, xu hướng cổ phần hoá, tư nhân hoá đang diễn ra tại các nước phát triển và đang phát triển là những cơ sở quan trọng cho thị trường M&A bùng nổ.

Thống kê của Thomson trong quý 2/2007 cho thấy, tổng giá trị của những vụ M&A trên thế giới trong 6 tháng đầu năm 2007 là trên 2500 tỷ USD với mức tăng trưởng bùng nổ lên đến con số 53%. Giá trị giao dịch M&A của các khu vực trên thế giới đã tăng, khu vực Châu Âu đạt 1056 tỷ USD, khu vực Châu á – Thái Bình Dương đạt 230 tỷ USD, Khu vực Châu Phi, Trung Đông là 28 tỷ USD, Khu vực Châu Mỹ là 1270 tỷ USD, Nhật Bản là 70 tỷ USD Một trong những đánh giá quan trọng của UNTACD là: giá trị FDI gia tăng đột biến trong những năm vừa qua phụ thuộc không nhỏ vào mức độ ngày càng gia tăng của hoạt động M&A, xu hướng M&A qua biên giới ngày càng gia tăng sẽ kéo theo tốc độ gia tăng của FDI, đặc biệt tại các nước đang phát triển.

1.2. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và mua bán sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam

Trong những năm vừa qua, lượng FDI đổ vào Việt Nam khá lớn, tổng số vốn FDI đăng ký đầu tư tại Việt Nam kể từ năm 2001 đến nay vào khoảng trên 25 tỷ USD và có chiều hướng tăng dần, nếu như năm 2005 lượng vốn đăng ký chỉ đạt 4,2 tỷ USD thì năm 2006 cả nước thu hút được 10,2 tỷ USD, tăng 45,1% so với năm trước, tổng số dự án cấp trong 6 tháng đầu năm 2007 là 575 dự án với tổng vốn đầu tư là 4,3 tỷ USD. Tuy nhiên, lượng vốn FDI này chủ yếu được đầu tư thông qua các hình thức đầu tư như thành lập doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài (khoảng 6000 doanh nghiệp FDI), hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc đầu tư thông qua các dự án BOT, BTO và chỉ có một ít vốn FDI được đầu tư vào Việt Nam dưới hình thức M&A do các quỹ đầu tư, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt nam đổ vốn đầu tư tại các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hoặc đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian vừa qua. Điều này là một thực tế, bởi vì giao dịch M&A ở Việt Nam còn khá mới mẻ, số vụ và giá trị giao dịch M&A còn thấp, kể từ năm 2000 lại đây chỉ đạt trung bình là 20 vụ/năm với giá trị khoảng từ 250 triệu USD/năm, trong đó lượng FDI qua hình thức M&A không được thống kê chính thức nhưng chắc chắn là rất nhỏ.

Trong thời gian vừa qua thị trường M&A đã phát triển nhanh chóng, nếu như trong trong năm 2005 có 18 vụ với tổng giá trị là 61 triệu USD; năm 2006, số vụ M&A là 32 với tổng giá trị là 245 triệu USD thì chỉ trong sáu tháng đầu năm 2007, Việt Nam có 46 vụ M&A đạt giá trị 625 triệu USD (gấp đôi năm 2006 và gấp 15 lần cùng kỳ năm ngoái), có 16 vụ trong nước và 30 vụ có yếu tố nước ngoài, trong đó các công ty nước ngoài mua bán, sáp nhập chủ yếu đến từ các nước Châu á (22 vụ). Những vụ M&A điển hình trong thời gian qua là Công ty cổ phần doanh nghiệp trẻ Đồng Nai mua lại Cheerfield Rama, Daiichi mua lại Bảo Minh CMG, Kinh Đô mua lại Kem Wall, Anco mua lại nhà máy sữa của Nestle. Theo dự báo của các chuyên gia trong những năm tới sự phát triển của thị trường M&A Việt Nam là một tất yếu sẽ hút thêm được các luồng vốn FDI từ các nước trong và ngoài khu vực cho nền kinh tế Việt Nam.

2. Ưu điểm, nhược điểm của việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua thị trường mua bán và sáp nhập doanh nghiệp.

2.1. Ưu điểm:

(i) Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể tiếp cận thị trường quốc gia dự định đầu tư một cách nhanh nhất thông qua thị trường có sẵn của các công ty bị mua, bị sáp nhập mà không cần phải bỏ chi phí ban đầu ra để nghiên cứu, tiếp cận thị trường. Ngoài ra, các giá trị khác của công ty bị mua, bị sáp nhập ở quốc gia dự định đầu tư như thương hiệu, thị phần, thị trường, nguồn nhân lực, kinh nghiệm, thiết bị sẽ là những cơ sở, lợi thế kinh doanh quan trọng để nhà đầu tư có được quyết định đầu tư chính xác và có thể đem lại hiệu quả đầu tư cao. Vì vậy, việc nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư thông qua việc mua bán, sáp nhập DN ở quốc gia dự định đầu tư chắc chắn sẽ có nhiều lợi thế nhất định so với các hình thức đầu tư trực tiếp khác như thành lập doanh nghiệp, hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Hiện nay, với tư cách là một hình thức tập trung kinh tế, tập trung nguồn lực, đầu tư thông qua M&A sẽ tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ, tạo ra một nguồn lực lớn hơn cạnh tranh. Hơn nữa, với sự kết hợp ngoại sinh này sẽ làm cho các tập đoàn đa quốc gia, các công ty lớn trên thế giới tăng thêm sức mạnh trong kinh doanh, cạnh tranh tại một thị trường mới, đồng thời cũng là một sự đảm bảo về uy tín trong kinh doanh cho các công bị bị mua lại, bị sáp nhập. Vì vậy, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này, chẳng hạn có một số tập đoàn tài chính, ngân hàng, bảo hiểm lớn trên thế giới như HSBC mua lại 10% của Techcombank, 10% vốn của Bảo Việt, Satra Group mua 1 triệu cổ phiếu với giá 80 tỷ đồng của Ngân hàng Phương Nam, Daichi mua lại Bảo Minh, APEC Investment đầu tư gần 100 tỷ vào Tập đoàn Hoà Phát là những ví dụ cho thấy xu hướng này đã, đang và sẽ phát triển nhanh chóng ở Việt Nam trong thời gian tới.

(iii) Các Doanh nghiệp bị sáp nhập, bị mua lại sẽ thu được rất nhiều lợi ích thông qua hình thức đầu tư bằng M&A, bởi với nguồn lực tài chính lớn mạnh, thương hiệu, kinh nghiệm quản trị từ bên ngoài được đầu tư trực tiếp vào Doanh nghiệp, thông qua M&A thực hiện được việc tái cấu trúc doanh nghiệp trên nhiều phương diện, làm tăng giá trị của Doanh nghiệp mới sau khi được mua lại, sáp nhập. Chủ sở hữu Doanh nghiệp có thể thu được một khoản lợi ích nhất định, từ việc bán Doanh nghiệp, bán cơ sở kinh doanh của mình cho nhà đầu tư nước ngoài. Đối với Việt Nam việc cho phép các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư thông qua việc mua lại, sáp nhập với các Doanh nghiệp trong nước sẽ mang lại nhiều lợi ích và nâng giá trị của Doanh nghiệp. Bởi vì mặc dù Việt Nam đang có khoảng 250.000 Doanh nghiệp đăng ký hoạt động nhưng có đến 97% là Doanh nghiệp nhỏ và vừa với số vốn điều lệ chưa vượt quá 3 triệu USD. Nhiều điểm yếu của doanh nghiệp Việt Nam thể hiện trong 6 chữ M của tiếng Anh là Money (Vốn), Machinery (Máy móc, công nghệ), Materials (Nguyên vật liệu), Man Power (Nhân lực), Management (quản trị) và Marketing (Tiếp cận thị trường).

2.2. Nhược điểm:

(i) Trong các vụ đầu tư qua thị trường M&A, nhà đầu tư quan tâm đối với giá trị và hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp mình dự định đầu tư, nhưng thẩm định giá trị và hồ sơ pháp lý không phải là việc dễ đối với các doanh nghiệp đến từ nước ngoài. Hơn nữa, tính minh bạch của các Doanh nghiệp bị mua, bị sáp nhập cũng có thể chưa cao sẽ dẫn đến việc lừa nhau về mặt giá trị, rủi ro pháp lý có thể xảy ra bất cứ khi nào trong thương vụ M&A. (a) Việc thẩm định giá trị của cả công ty mua, sáp nhập và công ty bị mua lại, bị sáp nhập là vấn đề quan trọng, liên quan đến “túi tiền” và lợi ích của cả hai bên, vì rằng, lợi ích là cái mà cả hai bên hướng tới. Thông thường, cả hai bên trong thương vụ M&A đều có cách đánh giá lẫn nhau về giá trị công ty mục tiêu và thường là đi ngược nhau trong việc đánh giá này. Do đó, kiểm toán viên, thẩm định viên về tài sản có vị trí quan trọng ở khâu này để đưa ra một mức giá khách quan, trung thực đáp ứng được mong mỏi của cả hai bên. Trên thế giới, có một số phương thức thẩm định giá trị công ty như tỷ suất P/E, tỷ suất giá trị doanh nghiệp trên doanh thu (EV/Sales), chi phí thay thế (M&A dựa trên việc cân nhắc yếu tố chi phí để thiết lập một công ty từ đầu so với một công ty có sẵn), phương pháp chiếu khấu dòng tiền (DCF) (b) Thẩm định hồ sơ pháp lý của hai bên trong một thương vụ M&A cũng không phải là việc dễ, bởi vì ngoài việc thẩm định các hồ sơ hiện hữu, kiểm soát được các quyền và nghĩa vụ liên quan, người thẩm định còn phải dự liệu các rủi ro pháp lý có thể xảy ra thời kỳ “hậu” M&A. Vì vậy, cần phải có sự tham vấn, tư vấn từ luật sư chuyên nghiệp về M&A cho việc thẩm định hồ sơ pháp lý.

(ii) Do M&A là một hình thức tập trung kinh tế, do đó nếu nhà đầu tư nước ngoài không nghiên cứu kỹ pháp luật cạnh tranh, chống đc quyền cho thương vụ đầu tư bằng hình thức M&A, thì nó có thể rơi vào (a) trường hợp cấm thực hiện các hành vi tập trung kinh tế (trong đó có M&A) nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia M&A chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, trừ sau khi M&A vẫn là Doanh nghiệp nhỏ và vừa, (b) trường hợp phải có nghĩa vụ thông báo trước cho Cục quản lý cạnh tranh nếu việc đầu tư bằng M&A có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan, trừ sau khi M&A vẫn là doanh nghiệp nhỏ và vừa nếu vi phạm các quy định đó, doanh nghiệp đầu tư thông qua M&A có thể sẽ phải chịu các hình thức xử lý, các biện pháp của pháp luật về cạnh tranh, chống độc quyền, và có thể bị khởi kiện bất cứ khi nào. Đây chính là một nhược điểm lớn của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài qua thị trường M&A.

(iv) Sự am hiểu về văn hoá, phong tục, thị trường, pháp luật Việt Nam còn ít, do đó nhiều vấn đề có thể phát sinh trong và sau quá trình M&A. Việc giải quyết các vấn đề hậu M&A có thể là một cản trở đối với việc hút vốn qua kênh đầu tư này như giảm nhân viên, giảm lương, đào tạo lại, sắp xếp, thuyên chuyển…

3. Hành lang pháp lý về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua thị trường mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam

Để tạo ra một hành lang pháp lý cho thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nước cũng như Việt Nam đều phải có những thay đổi về mặt chính sách như việc áp dụng các nguyên tắc, tập quán quốc tế về sự bình đẳng, công bằng.. trong kinh doanh nói chung, đầu tư nói riêng. Đồng thời đặt ra các hình thức, điều kiện, lĩnh vực, khu vực khuyến khích, hạn chế thu hút đầu tư, trong đó có việc tạo hành lang pháp lý ghi nhận hình thức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.

Theo Báo cáo thường niên Doanh nghiệp Việt Nam năm 2006, do Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam công bố ngày 15/09/2007 vừa qua thì tính đến hết năm 2006 chúng ta có 253.130 doanh nghiệp đăng ký hoạt động. Những năm vừa qua, để đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế và xu thế hội nhập, nhiều đạo luật quan trọng liên quan đã được ban hành. Chẳng hạn Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005, Luật Chứng khoán năm 2006 việc ban hành các đạo luật nói trên đã đáp ứng được nhu cầu xác lập vị trí pháp lý, điều tiết các quan hệ, hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài của các loại doanh nghiệp nói chung, trong đó có M&A nói riêng. Trước khi có Luật đầu tư năm 2005, hoạt động đầu tư FDI thông qua M&A được quy định trong một số điều khoản, M&A các doanh nghiệp tư nhân (Điều 103 Luật Doanh nghiệp 1999), M&A các doanh nghiệp nhà nước trong Nghị định 103/1999/NĐ-CP; Nghị định số 80/2005/NĐ-CP của Chính phủ về giao, bán, khoán kinh doanh Doanh nghiệp nhà nước Hiện nay, giao dịch M&A được Luật Doanh nghiệp ghi nhận, tạo ra cơ sở pháp lý đầy đủ hơn, cho phép các chủ doanh nghiệp được quyền định đoạt doanh nghiệp trong việc mua bán, sáp nhập, hợp nhất (Điều 145, Điều 152, Điều 153 Luật Doanh nghiệp).

Luật Đầu tư năm 2005 đã kế thừa và ghi nhận M&A là một hình thức đầu tư quan trọng, cụ thể: “Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp” như một trong những hình thức đầu tư trực tiếp, dưới các hình thức:

(i) Đóng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới hoặc để tham gia quản lý hoạt động đầu tư,

(ii) Mua toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động,

(iii) Mua cổ phiếu để thâu tóm hoặc sáp nhập doanh nghiệp.

Mặc dù hành lang pháp lý liên quan đến M&A còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ, thống nhất, tuy nhiên những quy định pháp luật hiện hành là cơ sở quan trọng góp phần thúc đẩy thị trường M&A nói chung, thu hút FDI qua thị trường M&A nói riêng. Do đó, việc hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận M&A là một hình thức đầu tư, mà còn phải xây dựng được các quy định điều tiết các vấn đề cụ thể, đặt trong mối quan hệ giữa luật đầu tư với pháp luật có liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật cạnh tranh, Luật chứng khoán. Có như vậy hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua hình thức M&A mới đạt được hiệu quả cao, đồng thời giải đáp được các vấn đề thị phần, thị trường, giới hạn, tỷ lệ phần trăm vốn mà nhà đầu tư đặt ra khi dự định đầu tư vào một doanh nghiệp Việt Nam thông qua hình thức này.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa tại Việt nam