Cơ sở pháp lý:

- Hiến pháp năm 2013

1. Trình tự công bằng là gì?

Nguyên tắc trình tự công bằng của pháp luật trong tiếng Anh là “due process of law”, gọi tắt là “Due process”. Có hai loại trình tự công bằng: trình tự công bằng thủ tục (procedural due process) và trình tự công bằng nội dung (substantive due process). Ở bài viết trước Luật Minh Khuê đã trình bày về trình tự công bằng thủ tục. Bài viết này, chỉ đề cập tới trình tự công bằng nội dung.

2. Trình tự công bằng nội dung (substantive due process)

2.1. Trình tự công bằng nội dung trong pháp luật Hoa Kỳ

Due process không những đòi hỏi việc định đoạt quyền con người trong một hoàn cảnh cụ thể phải tuân theo thủ tục công bằng (procedural due process) mà còn yêu cầu một phương pháp công bằng để đánh giá các quy phạm pháp luật cho phép định đoạt quyền con người (substantive due process). Như vậy, substantive due process chính là phương pháp để đánh giá tính công bằng của một đạo luật khi đạo luật đó giới hạn quyền con người. Hay nói cách khác, substantive due process là công cụ của tài phán hiến pháp để đánh giá tính hợp hiến của một quy phạm hạn chế quyền. Các tu chính án 5 và 14 của Hiến pháp Hoa Kỳ, khi đề cập đến “due process of law” đã mang hàm ý này. Các mệnh đề về due process trong các tu chính án trên, ngoài ý nghĩa liên quan đến quyền thủ tục như đã phân tích ở phần 2, chính là mệnh đề giới hạn quyền con người theo kiểu Hoa Kỳ.

Nếu chỉ dựa vào các mệnh đề due process, rất khó để trả lời cho câu hỏi thế nào là việc tước đoạt quyền con người một cách công bằng. Trên thực tế, trong suốt lịch sử ra đời hiến pháp, luật hiến pháp Hoa Kỳ đã từng bước xây dựng một học thuyết về due process thông qua sự giải thích của tòa án. Mặc dù phần lớn các quyền hiến định được diễn đạt một cách tuyệt đối, các tòa án, thông qua chức năng giải thích hiến pháp đã xác nhận các quyền này mang tính tương đối - tức có thể bị giới hạn. Các quyền tương đối được chia làm ba nhóm với ba phương pháp khác nhau để đánh giá tính hợp hiến trong việc hạn chế các quyền này.

Ba mức độ bảo vệ này là: kiểm tra chặt chẽ (strict scrutiny), kiểm tra trung bình (intermediate scrutiny) và kiểm tra tối thiểu (minimal scrutiny). Thứ nhất, mức độ kiểm tra chặt chẽ, áp dụng cho các quyền cơ bản (fundamental rights), là bài kiểm tra rất khắc nghiệt. Thực tế cho thấy, rất ít đạo luật có thể vượt qua. Một sự giới hạn quyền muốn vượt qua sự kiểm tra này phải đáp ứng hai yêu cầu: (1) Về mục đích, sự giới hạn là “thiết yếu để đạt được một mục tiêu cấp bách của nhà nước”; (2) Về phương tiện, sự giới hạn phải phù hợp để đạt được mục tiêu. Thứ hai, mức độ kiểm tra trung bình xem xét: (1) Sự giới hạn phải “thực sự liên quan tới một mục tiêu quan trọng của nhà nước”; (2) Có sự liên quan chắc chắn giữa phương pháp giới hạn và mục tiêu cần đạt được. Thứ ba, mức độ kiểm tra tối thiểu, vốn tương đối dễ dàng, yêu cầu: (1) Sự giới hạn phải “có lý do chứng tỏ sự liên quan tới một mục tiêu chính đáng của nhà nước”; (2) Phương tiện áp dụng là biện pháp hợp lý để đạt được mục tiêu.

2.2. Trình tự công bằng nội dung trong pháp luật nhân quyền quốc tế

Khác với mệnh đề due process tương đối khái quát của Hoa Kỳ, các bộ luật quốc tế về nhân quyền quy định các mệnh đề giới hạn quyền một cách cụ thể hơn. Phương thức cơ bản nhất là ghi nhận một mệnh đề chung áp dụng cho việc giới hạn đối với mọi quyền tương đối. Một ví dụ tiêu biểu là UDHR, tại khoản 2 Điều 29 đưa ra mệnh đề chung: “Khi thụ hưởng các quyền và tự do, mọi người phải chịu những giới hạn do pháp luật quy định chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng quyền và tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, và lợi ích chung trong một xã hội dân chủ”. Ngôn ngữ của mệnh đề này thể hiện tư tưởng: việc hạn chế quyền con người là ngoại lệ, hạn hữu trong những trường hợp cần thiết. Những học giả lập nên UDHR, bằng những kinh nghiệm xương máu trong lịch sử nhân loại trước năm 1948 (đặc biệt là chiến tranh thế giới thứ hai), đã rất chú trọng thiết kế những ràng buộc để ngăn ngừa sự giới hạn tùy tiện quyền con người. Những ràng buộc này thể hiện ở những điểm sau:

(1) Giới hạn quyền phải do pháp luật quy định (Khoản 2 Điều 29);

(2) Giới hạn quyền nhằm đảm bảo lợi ích chung của xã hội (Khoản 2 Điều 29);

(3) Giới hạn quyền nhằm xây dựng một xã hội dân chủ (Khoản 2 Điều 29);

(4) Giới hạn quyền không được trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên hợp quốc (Khoản 3 Điều 29);

(5) Giới hạn quyền, dù với bất kỳ lý do nào, không được nhằm hủy hoại các quyền và tự do được thừa nhận trong bản Tuyên ngôn (Điều 30).

Chúng ta nên nên nhớ rằng, trong chiến tranh thế giới thứ hai, chế độ Đức Quốc xã đã thực hiện việc diệt chủng người Do Thái dựa trên pháp luật của nước Đức, nhằm bảo vệ lợi ích chung của xã hội Đức, được nhiều người Đức ủng hộ. Tuy nhiên, chiếu theo những tiêu chí tại Điều 29, 30 của UDHR nêu trên, đạo luật diệt chủng đã vi phạm nghiêm trọng đạo đức của một xã hội dân chủ, trái với Hiến chương Liên hợp quốc và đã nhằm hủy hoại quyền sống, quyền được tôn trọng nhân phẩm một cách tàn bạo.

Ngoài phương thức đặt ra mệnh đề giới hạn chung, ở các điều khoản về các quyền cụ thể còn đưa ra những mệnh đề giới hạn riêng. Mệnh đề giới hạn riêng chính là tiêu chuẩn áp dụng riêng đối với một quyền nào đó. Lấy ví dụ trong ICCPR, khoản 1 Điều 14 nêu ra những giới hạn riêng về quyền được xét xử công khai:

“Báo chí và công chúng có thể không được tham dự một phần hay toàn thể phiên xử, vì nhu cầu đạo lý, trật tự công cộng hay an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ, hay để bảo vệ đời sống riêng tư của các đương sự tranh tụng, hay, trong những trường hợp thật cần thiết, khi toà án quyết định rằng xét xử công khai sẽ làm thiệt hại quyền lợi của công lý. Tuy nhiên, các bản án hình sự và các bản án khác phải được tuyên đọc công khai trước toà, ngoại trừ trường hợp để bảo vệ quyền lợi của thiếu nhi hay của gia đình trong những vụ tranh tụng về hôn nhân hay về việc giám hộ các con”

2.3. Trình tự công bằng trong pháp luật Việt Nam

Hiến pháp Việt Nam năm 2013, khi lần đầu tiên hiến định nguyên tắc giới hạn quyền con người, đã thể hiện bước tiến lớn trong tư duy lập hiến trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền. Khoản 2 Điều 14 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Đây có thể coi là mệnh đề chung về “substantive due process” của Việt Nam, và thể hiện việc tiếp nhận tinh thần của các bộ luật quốc tế về quyền con người. Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy những nguyên tắc giới hạn đối với một vài quyền cụ thể. Đáng lưu ý, những mệnh đề giới hạn riêng này không nằm ở Chương II mà là Chương VIII. Khoản Điều 103 giới hạn quyền được xét xử công khai khi quy định: “Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín”. Hay khoản 4 Điều 103 giới hạn quyền được xét xử tập thể với sự tham gia của hội thẩm bằng quy định “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”.

Một điều cần nhấn mạnh là các nguyên tắc hạn chế quyền trong Hiến pháp dù sao cũng chỉ mang tính định hướng. Nó là điều kiện cần để bảo về quyền con người trước sự hạn chế tùy tiện. Trong tương lai, hai điều kiện đủ trong cơ chế bảo vệ quyền cần được tiếp thu và phát triển. Đó là việc tiếp nhận học thuyết phân tích tính cân xứng (proportionality analysis) và xây dựng cơ chế tài phán hiến pháp chuyên trách.

Học thuyết phân tích tính cân xứng đề ra bốn tiêu chí để đánh giá tính hợp hiến của một quy phạm pháp luật giới hạn quyền:

(1) Giới hạn quyền phải có mục đích chính đáng;

(2) Biện pháp hạn chế quyền phải phù hợp với mục đích cần đạt được;

(3) Giới hạn quyền là biện pháp phù hợp nhất để đạt được mục tiêu;

(4) Những thiệt hại do hạn chế quyền không được lớn hơn những lợi ích mang lại.

Việc đánh giá tính hợp hiến rất phức tạp, đòi hỏi những thẩm phán chuyên biệt trong một cơ quan tài phán hiến pháp chuyên trách.

3. Vai trò của học thuyết trình tự công bằng trong luật hiến pháp hiện đại

Có thể nói, học thuyết trình tự công bằng (due process) là nền tảng của hiến pháp vì nó đảm bảo những giá trị của nhà nước pháp quyền. Due process đã khởi nguồn từ Magna Carta 1215 và tiếp tục được phát triển mạnh mẽ trong nền luật học Anh - Mỹ trong 800 năm qua và hiện nay đã lan tỏa ở phạm vi toàn cầu. Trong các hiến pháp đương đại, chỉ có một số (nổi bật là Hoa Kỳ) sử dụng thuật ngữ “due process”. Trong khi đó, các bộ luật quốc tế về quyền con người không trực tiếp đề cập đến thuật ngữ “due process”, nhưng vẫn thể hiện rõ tinh thần của học thuyết trình tự công bằng thông qua các quy định về quyền xét xử công bằng và nguyên tắc giới hạn quyền.

Mục tiêu tối thượng của due process là đảm bảo tính công bằng, chính đáng, hợp lý trong các hành vi của nhà nước khi ảnh hưởng đến quyền và tự do của con người. Due process không chỉ giới hạn quyền tư pháp và hành pháp bằng trình tự công bằng thủ tục mà còn giới hạn quyền lập pháp bằng trình tự công bằng nội dung. Trình tự công bằng thủ tục bao gồm ba loại: thủ tục công bằng (trong tố tụng) hình sự (criminal due process); thủ tục công bằng (trong tố tụng) dân sự (civil due process); và thủ tục công bằng hành chính (administrative due process).

Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã có những tiến bộ đáng kể khi lần đầu tiên hiến định trình tự công bằng nội dung thông qua nguyên tắc hạn chế quyền con người. Tuy nhiên, các thuật ngữ mô tả khái niệm “due process” hiếm khi xuất hiện trong các diễn đàn luật học ở Việt Nam. Điều này thể hiện một khoảng trống nghiên cứu về học thuyết này. Sự tiếp nhận toàn diện học thuyết về “due process” sẽ nâng cao hiệu lực của Hiến pháp năm 2013 và đóng góp cho việc sửa đổi Hiến pháp về sau.

Nguồn: Bài viết đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11(291), tháng 6/2015

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập