1. Trợ cấp để nuôi con nhỏ sau ly hôn là bao nhiêu ?

Luật Minh Khuê tư vấn về trợ cấp để nuôi con nhỏ sau ly hôn theo quy định của pháp luật Việt nam hiên nay, như sau:

Tư vấn ly hôn: Ai được quyền nuôi con - Cafe sáng VTV3

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ giải quyết ly hôn

Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".

Theo quy định này, pháp luật cho phép vợ hoặc chồng đơn phương ly hôn. Tuy nhiên, nếu như thuận tình ly hôn thì Tòa án xem xét sự thuận tình, tự nguyện của các bên, còn đơn phương ly hôn thì Tòa án lại xem xét chủ yếu căn cứ mà bên đơn phương ly hôn đưa ra. Điều luật quy định rằng: "hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được".

Hôn nhân của vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

Về thẩm quyền theo cấp: Tòa án nhân dân có thẩm quyền ở đây là Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật dân sự năm 2005 (văn bản mới: Bộ luật dân sự năm 2015) như sau:

"Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;"

Về thẩm quyền theo lãnh thổ: Quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

"Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;"

Kính chào Luật sư! Em đang có 1 thắc mắc xin nhờ Luật sư tư vấn.Hiện em đang thuê trọ tại Phường TL, Hà Nội có sổ tạm trú KT3 nhưng trong sổ chỉ có tên em và tên con trai 4 tuổi (vì thời điểm làm sổ thì chồng em đang đi lao động nước ngoài).Chúng em đăng ký kết hôn tại Nghệ An. Cùng chung hộ khẩu với nhà chồng. Bây giờ em muốn ly hôn chồng do chồng em ngoại tình. Anh ấy không đồng ý ký vào đơn ly hôn. Nếu làm đơn ly hôn em nộp đơn trên Hà Nội được không? vì em không muốn đi lại về nhà chồng rất xa xôi. Nếu ly hôn thuận tình và nếu đơn phương thì phải làm những gì ? Em xin luật sư tư vấn. Em xin chân thành cảm ơn Luật sư! Mong nhận được phản hồi sớm từ Luật sư

-> Vậy thẩm quyền giải quyết của tòa án khi giải quyết ly hôn là tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc. Bạn xem xét do không nói rõ chồng bạn ở đâu nên chưa xác định chính xác cho bạn. Bạn muốn giải quyết ly hôn tại tòa án Hà Nội thì chồng bạn phải tạm trú tại Hà Nội hoặc vợ chồng bạn đồng ý giải quyết tại tòa án Hà Nội.

2. Giải quyết việc nam nữ chung sống không đăng lý kết hôn

Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình

"Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn."

Luật sư cho em hỏi, em mang thai tháng thứ năm nhưng người yêu em đã có gia đình, anh ta không ly hôn với vợ, nhưng cũng không liên lạc với em khi biết em mang thai tháng thứ 4. Vậy luật sư cho em hỏi em có thể đòi quyền lợi chu cấp và nuôi dưỡng con được không, và chu cấp bao nhiêu ? Nếu như anh ta không thực hiện nghĩa vụ chu cấp cho con và em thì phải chịu phạt theo luật như thế nào? Em chân thành cảm ơn

-> Bạn có hành vi chung sống với người khác như vợ chồng khi biết rõ họ đang có vợ chồng thì mới bị xử phạt vi phạm hành chính. Việc bạn yêu cầu anh kia cấp dưỡng là hợp lý, vì mặt pháp luật anh này được coi là cha ruột của cháu nếu bạn đưa đơn ra tòa án yêu cầu nhận cha cho con và yêu cầu cấp dưỡng.

3. Mức cấp dưỡng sau ly hôn

Theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn như sau:

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nghị quyết số như sau: "Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và do các bên thỏa thuận. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì tùy vào từng trường hợp cụ thể, vào khả năng của mỗi bên mà quyết định mức cấp dưỡng nuôi con cho hợp lý...".

Khi quyết định mức tiền phải cấp dưỡng, tòa án sẽ căn cứ vào mức thu nhập của người cấp dưỡng, vì vậy mức cấp dưỡng thường không cao hơn mức thu nhập của người cấp dưỡng. Tuy nhiên, trong trường hợp mức cấp dưỡng nuôi con tòa án phán quyết vẫn vượt quá khả năng của người cấp dưỡng thì người cấp dưỡng có quyền làm đơn đề nghị tòa án xem xét lại mức cấp dưỡng.

Luật sư tư vấn giúp: vợ chồng em cưới nhau từ năm 2006, vợ chồng em đã có 2 con trai, cháu lớn 9 tuổi, cháu nhỏ 6 tuổi, khi chúng em cưới nhau thì về nhà chồng ở luôn cho tới nay. Em ngoài giờ làm vẫn hết mực lo cho gia đình, con cái ngược lại chồng em ỷ lại có gia đình, sau giờ làm tụ tập nhậu nhẹt về khuya,không lo cho gia đình. Gần đây nữa em phát hiện có quen 1 em gái, thường đi cùng nhau, khi em biết chuyện thì mọi việc có vẻ nghiêm trọng hơn. Em có ý định sẽ ly hôn. Về phần tài sản chúng em có mua miếng đất nhưng cũng chưa trả xong, có 1 khoản tiền anh ấy cho bạn của anh ấy mượn nhưng không có giấy tờ chứng minh. Luật sư cho em hỏi khi ly hôn: - nếu em muốn nuôi 1 đứa, nhà chồng sẽ nuôi 1 đứa thì việc chu cấp sẽ như thế nào, làm sao để em có thể nhận nuôi cả 2 đứa và mức cấp dưỡng như thế nào? - Nhà chung và phần tiền cho mượn mà không có chứng từ chứng minh thì em phải làm sao? Kính mong Luật tư vấn cho em lời khuyên. Em cảm ơn ạ

-> Nhà là tài sản chung vợ chồng về nguyên tắc chia đôi, hoặc chia theo công sức đóng góp. Khoản tiền cho vay là tài sản chung vợ chồng nhưng cần chứng minh được từ lời khai của người cho vay và người đi vay.

Xin chào luật sư!. Em lập gia đình được 9 năm. Khi cưới chồng em không có tài sản gì ngoài chiếc xe Future. Sau khi sinh con em ở nhà giữ con được 2 tuổi thì xin việc làm, lương tháng được hơn 3 triệu. Khi con em được 3 tuổi thì chồng em dành dụm mua miếng đất trị giá 150 triệu, khi làm giấy tờ anh ấy đứng tên 1 mình. Và bây giờ con em được 9 tuổi đang cất nhà khoảng 6 trăm triệu. Anh ấy nói với em nhà đó là của riêng anh chứ em không có đóng góp gì cả. Em xin nói thêm là lương tháng em dành để nuôi con ăn học và đi chợ cho cả nhà, đóng tiền điện nước nên không có dư. Lương chính thức và thu nhập thêm của anh ấy gần chục triệu đồng chỉ để đóng tiền nhà trọ mỗi tháng 1 triệu, mua bảo hiểm cho con 1 năm 7,5 triệu và đi đám tiệc, còn lại anh ấy để dành không đưa cho em đồng nào cả. Bây giờ cất nhà anh ấy bảo nhà là của riêng anh ấy vậy có đúng không ? Nếu em được hưởng thì hưởng bao nhiêu thưa luật sư ? Gỉa sử chúng em ly hôn anh ấy có phải cấp dưỡng cho con em hay không ? Em xin cảm ơn!

->Vậy mức cấp dưỡng sẽ do hai bên thỏa thuận với nhau, quy định của pháp luật không có con số cụ thể tuy nhiên bạn có thể căn cứ vào mức thu nhập của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, nhu cầu cho việc sinh hoạt của người được cấp dưỡng và người có nghĩa vụ cấp dưỡng...

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Mọi vướng mắc xin vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình về trợ cấp nuôi con sau ly hôn trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem ngay: Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn được quy định như thế nào ?

2. Tư vấn về tiền cấp dưỡng cho con sau ly hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê. Tôi có câu hỏi mong được giải đáp như sau: Tôi đã ly hôn chồng được 3 năm và tòa xử cho tôi nuôi con , chồng cũ phải cấp dưỡng hàng tháng 1 triệu đồng. Ban đầu bố cháu không đưa, tôi dọa báo bên thi hành án thì mới chịu trả nhưng luôn tìm mọi cách để bớt đi.

Thường xuyên nhất là hè và tết ông bà nội cháu đón về quê chơi 1 vài tuần là bố cháu cắt tiền cấp dưỡng tháng đó và 1 tháng nữa. Chắc ý là tôi phải trả tiền cấp dưỡng con tháng đấy cho anh ta. Tôi muốn hỏi trong luật có nội dung nào quy định về việc tự chuyển đổi tiền cấp dưỡng như thế không? Tôi có thể đề nghị tòa án là trung gian thu tiền cấp dưỡng cho con tôi không? Vì tôi thực sự không muốn cứ phải đòi tiền cho con rồi bên nhà nội cháu lại nói với cháu là tôi lấy hết tiền của bố cháu. Thực sự tôi không hề dùng đến số tiền đó để nuôi con mà lập một sổ tiết kiệm riêng cho cháu, nhưng tôi cũng không biết sau này giải thích sao với cháu về số tiền thiếu hụt qua các năm với kiểu nói 1 đàng làm 1 nẻo như thế của bố cháu.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân về quyền nuôi con khi ly hôn : 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về nghĩ vụ cấp dưỡng sau ly hôn như sau :

Điều 115. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn

Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.

Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 117. Phương thức cấp dưỡng

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 119. Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

Như vậy, pháp luật không có quy định về việc anh đưa cháu về chăm sóc tháng nào thì tháng đấy không phải nộp tiền cáp dưỡng theo quy định. Trong trường hợp này chị có thể gửi đơn yêu cầu tòa án buộc chồng chị phải thực hiện nghĩa vụ.Trong trường hợp chồng chị không thực hiện quyết định thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng,Chị gửi đơn yêu cầu thi hành án đến cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án sẽ thực hiện biện pháp cưỡng chế theo quy định. Tòa không thể đứng ra để thu hộ tiền cấp dưỡng cho chị.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem ngay: Hỏi về việc ly hôn có phải bồi thường tuổi thanh xuân cho người vợ là bao nhiều tiền ?

3. Sau khi ly hôn chồng không cấp dưỡng xử lý thế nào ?

Thưa Luật sư, cháu đang làm thủ tục đơn phương ly hôn vì chồng cháu không chịu kí đơn. Vậy sau khi ly hôn nếu chồng cháu không chịu cấp dưỡng nuôi con thì cháu phải làm thế nào ạ? Trong thời gian chung sống chúng cháu có vay nợ, số tiền mỗi chỗ một ít, tổng khoảng 20 triệu nhưng không có giấy tờ vay mượn. Vậy cháu có thể nhờ tòa chia ra để cả hai cùng trả nợ được không ạ. Phí ra tòa đơn phương của cháu hết khoảng bao nhiêu ?

Sau khi ly hôn chồng không cấp dưỡng xử lý thế nào ?

Luật sư tư vấn Luật Hôn nhân và gia đình, gọi: 1900.6162

Trả lời:

* Vấn đề cấp dưỡng:

Khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 quy định:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

[...] 2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con."

Như vậy, căn cứ theo quy định pháp luật trên thì chồng bạn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con bạn, nếu chồng bạn không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

* Vấn đề nợ:

Theo như dữ liệu bạn đưa ra thì vợ chồng bạn có vay nợ với số tiền là 20 triệu và bạn muốn nhờ Tòa chia ra để cả hai cùng trả nợ, nếu như hai vợ chồng bạn thỏa thuận về vấn đề này thì Tòa án sẽ tôn trọng sự thỏa thuận của các bạn, điều 4 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 quy định:

"Điều 4. Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận

Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào.

Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng."

* Về án phí:

Theo quy định tại Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án thì án phí ly hôn là 300.000 đồng nếu anh chị không có tranh chấp về tài sản.

>> Trong trường hợp này, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Án phí ly hôn áp dụng mới nhất áp dụng hiện nay là bao nhiêu tiền ?

4. Sau ly hôn, con trưởng thành có nghĩa vụ cấp dưỡng cha hay không ?

Kính chào Luật Minh Khuê. Tôi có câu hỏi mong được giải đáp như sau: Cha mẹ tôi ly dị cách đây 18 năm, 4 đứa con đều theo mẹ. Trong đó có 3 người con chưa đủ 18 tuổi nhưng cha tôi không đồng ý cấp dưỡng. Mẹ tôi do không hiểu biết nên cũng không yêu cầu cấp dưỡng.

Khi đó ra tòa có giải quyết chia cho mẹ tôi 3 công đất ruộng và nửa công vườn để cất nhà. Trong suốt 18 năm qua, cha tôi cũng không hề quan tâm chăm sóc hay chu cấp để nuôi anh chị em tôi. Trong khi đó cha tôi đã có vợ và con khác, ruộng đất trên 10 công đều bị ông bán và tiêu xài. Hiện nay cha tôi đang bệnh và yêu cầu anh chị em tôi phải chu cấp tiền để chữa bệnh, nếu không sẽ lấy lại 1 công đất mà trước đây chia cho mẹ tôi để bán lấy tiền chữa bệnh. Nhưng chị em tôi không muốn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng vì thực tế ông chưa bao giờ nuôi dưỡng chăm sóc chúng tôi và hiện tại ông cũng có vợ và còn tài sản riêng. Vậy tôi xin hỏi luật sư, việc cha tôi yêu cầu được cấp dưỡng như vậy có đúng hay không? Nếu vấn đề đưa ra pháp luật sẽ giải quyết như thế nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.T

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân về thủ tục ly hôn đơn phương : 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ điều 111 Luật hôn nhân gia đình 2014

"Điều 111. Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha, mẹ

Con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình".

Dựa trên quy định này, nếu như bố bạn không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi bản thân, thì anh chị em bạn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dường. Tuy nhiên, bố bạn đã có gia đình riêng và tài sản có thể tự nuôi sống bản thân thì anh chị em bạn không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho bố bạn,

>> Xem ngay: Tư vấn ly hôn đơn phương, đòi quyền nuôi con và chia tài sản ?

5. Đòi tiền cấp dưỡng sau khi ly hôn có được không ?

Thưa luật sư! Tôi và chồng cũ của tôi đã ly hôn vào năm 2009 và có với nhau 1 đứa con chung( con gái). Năm nay cháu 11 tuổi. Khi ra tòa án để tiến hành quyết định ly hôn thì tôi không có đòi hỏi tiền cấp dưỡng từ phía người chồng cũ vì lúc đó thấy anh ấy chưa có việc làm.

Đồng thời bố đẻ của anh ấy cũng có nói với tôi là ráng chăm lo cho con khi nào chồng tôi đi làm có tiền thì ông ấy sẽ nói với chồng cũ của tôi có trách nhiệm cấp dưỡng. Vì kính nể lời nói của bố chồng(trước đây) nên tôi không đòi tiền cấp dưỡng tại Tòa án. Nhưng đến nay đã qua 6 năm mà người chồng cũ đó và kể cả gia bên chồng cũ vẫn thờ ơ không hề nói tới vấn đề cấp dưỡng cho con tôi thậm chí lời hỏi thăm cũng như liên hệ xem con tôi giờ sinh sống như thế nào và khôn lớn ra sao cũng không có. Theo như tôi biết thì hiện giờ kinh tế của anh ấy(chồng cũ) cũng ổn định. Bây giờ tôi muốn đòi tiền cấp dưỡng lại thì phải tiến hành các bước như thế nào. Mong quý Luật sư tư vấn cho tôi.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đòi tiền cấp dưỡng sau khi ly hôn có được không ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 24 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

"24. Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này."

Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau khi ly hôn được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 58. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật này".

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."

Theo đó tại mục 11 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của luật hôn nhân và gia đình có quy định cụ thể về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn (Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình) như sau:

"11. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn (Điều 92).

Khi áp dụng quy định tại Điều 92 cần chú ý một số điểm sau đây:

a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 92 thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng vì lý do nào đó thì Toà án cần giải thích cho họ hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để họ biết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con thì Toà án không buộc bên kia phải cấp dưỡng nuôi con.

b. Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và do các bên thoả thuận. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, vào khả năng của mỗi bên mà quyết định mức cấp dưỡng nuôi con cho hợp lý.

c. Về phương thức cấp dưỡng do các bên thoả thuận định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì Toà án quyết định phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng."

Như vậy do khi ly hôn bạn không yêu cầu chồng cũ của bạn cấp dưỡng và Tòa án quyết định không buộc chồng cũ của bạn phải cấp dưỡng nuôi con. Việc sau khi đã ly hôn mà bạn muốn chồng cũ của bạn cấp dưỡng thì bạn và chồng cũ của bạn có thể tự thỏa thuận với nhau về việc cấp dưỡng.

>> Xem thêm: Ly hôn đơn phương vắng mặt có được không ?

6. Tư vấn ly hôn đơn phương khi chồng không thăm và cấp dưỡng cho con ?

Chào luật sư! Tôi kết hôn năm 2004 , sau đó năm 2007 do cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nên tôi đã mang theo con trai về nhà mẹ đẻ ở Bến Tre. Sau đó tôi gửi con cho mẹ trông và lên Sài Gòn làm , từ đó đến nay chồng tôi không về thăm con và cũng không cấp dưỡng nuôi con . Nay tôi muốn ly hôn đơn phương nhưng tôi không có CMND và hộ khẩu của chồng ( tôi và chồng không chung hộ khẩu) chồng tôi quê ở Vĩnh Long, hiện tại tôi không biết chồng tôi ở đâu, vậy tôi phải làm gì và nộp đơn ly hôn ở đâu?
Cảm ơn!

Trả lời:

Trường hợp của bạn ly hôn đơn phương nên bạn sẽ cần phải chuẩn bị các thủ tục như sau:

- Mẫu đơn xin ly hôn đơn phương

- Bản sao có chứng thực CMTND và hộ khẩu của 2 vợ chồng (trường hợp chồng bạn không chịu giao cho chị các giấy tờ trên thì chị có thể đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nơi chồng chị đang cư trú trình bày lý do và xin họ xác nhận là chồng chị đã sinh sống tại đó để thay cho chứng minh thư nhân dân)

- Bản sao giấy khai sinh của con

-Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của 2 vợ chồng chị

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với trường hợp ly hôn khi chị không biết nơi cư trú của chồng bạn sẽ tuân theo quy định tại Điều 36 Bộ Luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 như sau:

Điều 36. Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;

c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;

đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;

g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;

h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.

Những điều cần lưu ý: Như vậy, căn cứ theo quy định trên thì bạn có thể nộp đơn ly hôn cùng các hồ sơ, giấy tờ trên tại Tòa án nhân dân cấp quận (huyện) nơi chồng chị cư trú cuối cùng hoặc nơi chồng chị có tài sản trước khi chị không biết hiện giờ chồng chị đang cư trú ở đâu

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê