1. Trợ cấp thôi việc cho người làm việc ở nhiều doanh nghiệp khác nhau nhưng chưa nhận trợ cấp thôi việc?

Trợ cấp thôi việc cho những người lao động có kinh nghiệm làm việc tại nhiều doanh nghiệp khác nhau, nhưng chưa nhận được trợ cấp thôi việc, đặt ra nhiều thách thức trong việc xác định quy định cụ thể. Để giải quyết vấn đề này, Nghị định 145/2020/NĐ-CP đã quy định rõ về trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm.

- Theo quy định, việc xác định thời gian làm việc thực tế của người lao động được quy định tại điểm 4, Điều 8 của Nghị định trên. Một điều quan trọng được đề cập đến là việc xác định thời gian làm việc thực tế cho người lao động trong một số trường hợp đặc biệt.

- Với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoặc doanh nghiệp cổ phần hóa từ doanh nghiệp nhà nước. Khi hợp đồng lao động kết thúc với người lao động, nếu người lao động có thời gian làm việc tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước và chuyển đến làm việc tại doanh nghiệp đó trước ngày 01 tháng 01 năm 1995, mà vẫn chưa nhận trợ cấp thôi việc, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm tính cả thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho mình và thời gian người lao động đã làm việc thực tế ở khu vực nhà nước trước đó.

- Thời gian làm việc thực tế ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 bao gồm cả thời gian làm việc ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang hưởng lương từ ngân sách nhà nước, và thời gian làm việc ở doanh nghiệp nhà nước.

- Áp dụng cho những người lao động làm việc theo nhiều hợp đồng lao động kế tiếp nhau. Nếu khi chấm dứt từng hợp đồng lao động mà người lao động chưa nhận trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, thì thời gian thực tế làm việc cho người sử dụng lao động được tính bằng tổng thời gian làm việc theo các hợp đồng lao động, trừ đi thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ do vi phạm pháp luật hoặc công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc mà pháp luật cấm, hoặc do hợp đồng lao động bị xử lý kỷ luật lao động sa thải, hoặc do hợp đồng lao động bị người lao động đơn phương chấm dứt trái pháp luật (nếu có).

Với những quy định này, nếu làm việc tại doanh nghiệp nhà nước và chưa nhận trợ cấp thôi việc, khi hợp đồng lao động kết thúc, sẽ được chi trả trợ cấp thôi việc dựa trên thời gian làm việc cho doanh nghiệp nhà nước. Quan trọng nhất là không có sự phân biệt giữa doanh nghiệp trong hay ngoài ngành, chỉ cần xác định doanh nghiệp thuộc khối nhà nước. Điều này có nghĩa là, nếu doanh nghiệp C cũng là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp A sẽ chịu trách nhiệm thanh toán trợ cấp thôi việc, bao gồm cả thời gian làm việc tại doanh nghiệp C. Ngược lại, nếu doanh nghiệp C không phải là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp này sẽ phải thanh toán trợ cấp thôi việc riêng cho anh.

 

2. Quy định về tiền lương để tính trợ cấp thôi việc sẽ là tiền lương bình quân của bao nhiêu tháng?

Trong quá trình xử lý thủ tục thôi việc, một trong những vấn đề quan trọng mà cả người lao động và người sử dụng lao động quan tâm đó là trợ cấp thôi việc. Trợ cấp này được xác định dựa trên nhiều yếu tố, trong đó tiền lương chính là một yếu tố quan trọng. Vậy, tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của những tháng nào? Để giải đáp câu hỏi này, chúng ta có thể dựa vào quy định tại khoản 3 Điều 46 của Bộ luật Lao động 2019.

- Theo quy định của Điều 46, trợ cấp thôi việc được xác định khi hợp đồng lao động chấm dứt theo một số quy định cụ thể. Trong trường hợp này, người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho họ trong thời gian từ đủ 12 tháng trở lên. Mỗi năm làm việc, người lao động sẽ được hưởng một nửa tháng tiền lương. Tuy nhiên, có một số trường hợp đặc biệt được miễn trừ, như khi người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội hoặc khi áp dụng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật Lao động.

- Quan trọng nhất là việc xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc. Theo Điều 46, thời gian này được tính từ tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động. Thời gian này sẽ được giảm đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc hay trợ cấp mất việc làm.

- Đặc biệt, để xác định số tiền cụ thể của trợ cấp thôi việc, quy định rõ ràng về tiền lương được sử dụng để tính toán. Điều này được quy định rõ trong Điều 46 khoản 3, khi nói rằng tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

- Chính phủ sẽ có trách nhiệm quy định chi tiết về các điều khoản này, đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong việc xác định trợ cấp thôi việc. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của cả người lao động và người sử dụng lao động, tạo ra một hệ thống chính sách lao động hoạch định và minh bạch, đồng thời thúc đẩy quan hệ lao động tích cực và bền vững.

 

3. Có được trả trợ cấp thôi việc với người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật?

Người lao động khi tự ý chấm dứt hợp đồng lao động mà vi phạm quy định pháp luật liệu có được hưởng trợ cấp thôi việc không, điều này được quy định rõ trong Điều 40 của Bộ luật Lao động 2019. Theo đó, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật sẽ phải chịu những nghĩa vụ và hậu quả pháp lý nặng nề.

- Điều quan trọng cần lưu ý đầu tiên là người lao động không sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc khi họ tự ý chấm dứt hợp đồng lao động một cách không đúng theo quy định. Thay vào đó, họ sẽ phải đối mặt với nhiều hậu quả khó khăn, bao gồm việc không nhận được bất kỳ khoản trợ cấp nào.

- Hơn nữa, theo quy định cụ thể tại Điều 40, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật sẽ phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền lương tương đương với nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. Điều này áp đặt trách nhiệm tài chính lớn đối với người lao động và đồng thời nhấn mạnh việc giữ gìn và tuân thủ các quy định của hợp đồng lao động.

- Ngoài ra, người lao động còn phải chi trả một khoản tiền khác tương ứng với số tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày họ không thông báo trước về việc chấm dứt hợp đồng. Điều này nhấn mạnh tới việc tính toán cẩn thận và trách nhiệm của người lao động đối với quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của mình.

- Ngoài nghĩa vụ tài chính, người lao động còn phải hoàn trả cho người sử dụng lao động các chi phí đào tạo theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật Lao động 2019. Điều này chứng tỏ rằng, việc đào tạo và phát triển kỹ năng của người lao động không chỉ là trách nhiệm của người sử dụng lao động mà còn là trách nhiệm của chính người lao động.

Tổng cộng, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật không chỉ mang lại những hậu quả tài chính đáng kể mà còn tạo ra những thách thức và trách nhiệm pháp lý mà người lao động cần phải đối mặt. Việc tuân thủ quy định và thỏa thuận trong hợp đồng lao động trở thành vô cùng quan trọng để tránh những rủi ro và thiệt hại không mong muốn cho cả hai bên liên quan.

Xem thêm >>> Trợ cấp thôi việc là gì? Điều kiện và cách tính trợ cấp thôi việc

Nếu quý khách hàng có bất kỳ vấn đề nào liên quan đến nội dung bài viết hoặc các quy định pháp luật, chúng tôi mong muốn được hỗ trợ và giải quyết vấn đề đó một cách nhanh chóng và tốt nhất có thể. Để làm điều này, quý khách hàng có thể liên hệ với chúng tôi thông qua tổng đài 1900.6162 hoặc gửi email đến địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn.