1. Ghi âm cuộc gọi có vi phạm pháp luật không?

Căn cứ theo quy định tại Điều 12 Luật Viễn thông 2009 quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động viễn thông được quy định như sau:

- Lợi dụng hoạt động viễn thông nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; tuyên truyền chiến tranh xâm lược; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc.

- Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những thông tin bí mật khác do pháp luật quy định.

- Thu trộm, nghe trộm, xem trộm thông tin trên mạng viễn thông; trộm cắp, sử dụng trái phép tài nguyên viễn thông, mật khẩu, khóa mật mã và thông tin riêng của tổ chức, cá nhân khác.

- Đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân.

- Quảng cáo, tuyên truyền, mua bán hàng hóa, dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật.

- Cản trở trái pháp luật, gây rối, phá hoại việc thiết lập cơ sở hạ tầng viễn thông, việc cung cấp và sử dụng hợp pháp các dịch vụ viễn thông.”

Bên cạnh đó, Điều 21 Hiến pháp 2013 có quy định về quyền riêng tư của con người như sau:

- Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.

Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn.

- Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.

Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác."

Do đó, việc ghi âm trái phép các cuộc gọi là hành vi vi phạm pháp luật.

Nếu người có hành vi ghi âm sử dụng nội dung ghi âm được vào những mục đích khác như đe dọa nhằm mục đích riêng hoặc nhằm gây tổn hại tới danh dự, nhân phẩm, hạ thấp uy tín của người khác, xúc phạm người khác, tiết lộ bí mật cá nhân hoặc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp… của người khác, thì việc tiến hành ghi âm để thực hiện các mục đích nêu trên là hành vi trái pháp luật.

Hậu quả pháp lý đối với người thực hiện lúc này sẽ dựa trên quy định pháp luật hiện hành và các thiệt hại thực tế xảy ra, cơ quan nhà nước xem xét tính chất và hậu quả hành vi để áp dụng biện pháp xử lý cũng như hình phạt thỏa đáng theo quy định pháp luật.

2. Khi nào ghi âm cuộc gọi trái phép bị xử phạt hành chính?

Căn cứ theo quy định tại điểm q khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin thì việc xử lí được quy định như sau:

Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin:

- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

+ Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật..

Như vậy, nếu người nào có hành vi ghi âm cuộc gọi trái pháp luật thì khi bị phát hiện, người đó có thể bị phạt hành chính lên đến 20 triệu đồng (đối với tổ chức) và lên đến 10 triệu đồng (đôi với cá nhân) (theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 15/2020/NĐ-CP). Bên cạnh đó, còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (theo quy định tại điểm b khoản 8 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP)

3. Ghi âm lén có được coi là nguồn chứng cứ không?

Ghi âm lén có thể được sử dụng làm một nguồn chứng cứ vì những lý do sau:

Thứ nhất, Căn cứ theo quy định tại  khoản 1, Điều 94 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 thì Chứng cứ được thu thập từ tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử

Thứ hai, Căn cứ tại điểm c, khoản 1 Điều 87 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 thì nguồn chứng cứ là Dữ liệu điện tử theo đó:

- Dữ liệu điện tử là ký hiệu; chữ viết, chữ số, hình ảnh; âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra; lưu trữ; truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử.

- Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử; mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác.

Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo; lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác”.

Như vậy, dữ liệu điện tử bao gồm dữ liệu “âm thanh” được thu thập từ “phương tiện điện tử” theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 được coi là nguồn của chứng cứ trong điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.

Việc ghi âm có thể được tiến hành để nhằm cung cấp nội dung chứa đựng chứng cứ chứng minh các tình tiết có ý nghĩa trong việc giải quyết các tranh chấp hoặc làm rõ các sự kiện pháp lý trong quá trình tố tụng.

Đồng thời trong tố tụng dân sự ghi âm để được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của ghi âm nếu họ tự thu âm; hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của ghi đó; hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc ghi âm đó.

4. Lưu hành ghi âm có nội dung tiêu cực bị xử lý như thế nào?

Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định 38/2021/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung nghệ thuật biểu diễn như sau:

- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung kích động bạo lực; ảnh hưởng xấu đến quan hệ đối ngoại; sử dụng trang phục, từ ngữ, âm thanh, hình ảnh, động tác, phương tiện biểu đạt, hình thức biểu diễn hành vi trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc; tác động tiêu cực đến đạo đức, sức khỏe cộng đồng và tâm lý xã hội.

Như vậy, trường hợp lưu hành bản ghi âm có nội dung tác động tiêu cực đến đạo đức, xã hội thì sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Lưu ý, mức phạt này áp dụng đối với cá nhân vi phạm, trường hợp tổ chức vi phạm mức phạt sẽ gấp đôi (khoản 2, 3 Điều 5 Nghị định 38/2021/NĐ-CP).

Đồng thời, buộc tiêu hủy văn hóa phẩm có nội dung độc hại; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được; buộc tháo gỡ bản ghi âm dưới hình thức điện tử trên môi trường mạng và kỹ thuật số (điểm b, c, d khoản 5 Điều 13 Nghị định 38/2021/NĐ-CP).

Cá nhân, tổ chức nộp bản ghi âm, ghi hình nào để lưu chiểu tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì chịu trách nhiệm về tính trùng khớp kể cả nội dung và hình thức với bản ghi âm, ghi hình lưu hành trên thực tế. Trường hợp vi phạm thì chịu mức phạt tiền như trên.

Xem thêm: Có được ghi âm, ghi hình tại buổi hòa giải, đối thoại tại Tòa án không ?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Trường hợp nào ghi âm cuộc gọi sẽ bị xử phạt hành chính? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!