1. Ngân hàng có được cung cấp thông tin khách hàng cho người khác?
Ngân hàng có trách nhiệm bảo mật thông tin khách hàng và không được tiết lộ thông tin về cuộc sống riêng tư cá nhân và tài chính của khách hàng cho bất kỳ bên thứ ba nào, dù là thông tin do khách hàng cung cấp hoặc thông tin phát sinh trong quá trình giao dịch, cung ứng các dịch vụ ngân hàng, sản phẩm theo hợp đồng giữa khách hàng và ngân hàng. Nghĩa vụ này được xây dựng dựa trên sự tôn trọng quyền riêng tư của cá nhân, nghĩa vụ liên quan đến chuyên môn và nguyên tắc đạo đức trong lĩnh vực hợp đồng và đại lý theo quy định của pháp luật. Đây là nghĩa vụ mà các ngân hàng phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Bảo mật thông tin khách hàng đóng góp vào việc khuyến khích mọi người gửi tiền vào ngân hàng. Khi ngân hàng thực hiện tốt nghĩa vụ này, nó sẽ xây dựng được sự tin tưởng của khách hàng, giúp tránh các rủi ro pháp lý và đạt được hiệu quả trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, đồng thời kích thích sự phát triển của ngành dịch vụ tài chính và kinh tế nói chung.
Khi công dân tham gia vào các dịch vụ của ngân hàng, họ có trách nhiệm cung cấp thông tin cho ngân hàng và ngân hàng có trách nhiệm giữ bí mật thông tin khách hàng.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 38 Luật Ngân hàng Nhà nước 2010 về bảo vệ bí mật thông tin như sau: "Ngân hàng Nhà nước có quyền từ chối yêu cầu cung cấp thông tin bí mật về tiền tệ và ngân hàng của tổ chức hoặc cá nhân, trừ trường hợp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật". Do đó, chỉ có khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu, ngân hàng mới có thể cung cấp thông tin khách hàng.
Hơn nữa, năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định 117/2018/NĐ-CP về việc bảo mật và cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Nghị định này quy định chặt chẽ về việc bảo vệ bí mật và thông tin khách hàng tại các ngân hàng. Theo đó, ngân hàng chỉ được cung cấp thông tin khách hàng trong hai trường hợp: khi tổ chức khác hoặc cá nhân có quyền yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng theo quy định của Bộ luật, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, hoặc khi có sự chấp thuận của khách hàng theo quy định tại Điều 11 của Nghị định này.
2. Trường hợp nào ngân hàng phải cung cấp thông tin tài khoản khách hàng cho cơ quan thuế?
Vào ngày 19/10/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 126/2020/NĐ-CP để hướng dẫn việc thực thi Luật Quản lý thuế 2019. Nghị định này đặt ra quy định rõ ràng cho ngân hàng thương mại về việc cung cấp thông tin về tài khoản thanh toán của người nộp thuế tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế.
Theo quy định, ngân hàng thương mại có trách nhiệm cung cấp các thông tin sau đây:
- Theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, ngân hàng thương mại phải cung cấp thông tin về tài khoản thanh toán của từng người nộp thuế, bao gồm:
- Tên chủ tài khoản.
- Số hiệu tài khoản theo Mã số thuế đã được cơ quan quản lý thuế cấp.
- Ngày mở tài khoản và ngày đóng tài khoản.
Theo đó:
- Việc cung cấp thông tin về tài khoản theo quy định trên sẽ được thực hiện lần đầu trong vòng 90 ngày kể từ ngày 05/12/2020.
- Các thông tin về tài khoản sẽ được cập nhật hàng tháng trong vòng 10 ngày kế tiếp.
- Phương thức cung cấp thông tin sẽ được thực hiện thông qua hình thức điện tử.
Ngoài ra, ngân hàng thương mại cũng phải cung cấp thông tin về các giao dịch qua tài khoản, số dư tài khoản, và các số liệu giao dịch theo yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế để phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra xác định nghĩa vụ thuế và thi hành các biện pháp cưỡng chế quyết định hành chính về quản lý thuế theo quy định của pháp luật.
Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm bảo mật thông tin và hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự an toàn của thông tin theo quy định của pháp luật.
Do đó, chỉ trong trường hợp có yêu cầu từ cơ quan quản lý thuế, ngân hàng thương mại mới phải cung cấp thông tin về tài khoản thanh toán của từng người nộp thuế. Mục đích của quy định này là để phục vụ cho công tác quản lý thuế, đặc biệt là quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử. Tuy nhiên, nếu cá nhân thực hiện việc kê khai nộp thuế một cách minh bạch, không có gì đáng lo ngại. Cơ quan thuế sẽ chịu trách nhiệm bảo mật thông tin cá nhân của khách hàng theo quy định của luật.
Quy định này được xây dựng dựa trên thực trạng thu thuế trong hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, theo Luật Kinh doanh thương mại điện tử. Để xác định nguồn thu nhập, cơ quan thuế cần có thông tin từ ngân hàng. Trước đây, theo quy định của Luật Quản lý thuế, ngân hàng đã phải cung cấp thông tin khi có yêu cầu, tuy nhiên, Nghị định 126 quy định chi tiết hơn, đòi hỏi cung cấp thông tin định kỳ.
3. Vì sao cần cung cấp thông tin tài khoản khách hàng cho cơ quan thuế?
Trong lĩnh vực ngân hàng, sự phát triển của khoa học công nghệ đã đồng hành với tăng cường các giao dịch quốc tế, điều này đã tạo ra nhiều lo ngại trong việc quản lý thuế. Việc từ chối cơ quan thuế truy cập thông tin ngân hàng có thể gây ra những hậu quả không lợi cho cả nước và cộng đồng quốc tế. Trong nước, điều này có thể gây cản trở khả năng của cơ quan thuế trong việc xác định và thu thuế chính xác. Đồng thời, điều này cũng có thể tạo ra sự bất bình đẳng về thuế giữa những người nộp thuế, vì một số người nộp thuế sẽ tận dụng nguồn lực công nghệ và tài chính để trốn thuế thông qua các giao dịch với các tổ chức tài chính ở các quốc gia có quy định về bảo mật thông tin khách hàng của ngân hàng đối với cơ quan thuế. Rõ ràng, sự gia tăng các giao dịch tài chính của khách hàng với các tổ chức tài chính ở nhiều quốc gia trên thế giới đã tạo ra nhiều lo ngại trong việc quản lý thuế. Điều này cũng gây sai lệch trong việc phân bổ gánh nặng thuế và có thể dẫn đến "sự thất vọng" về tính công bằng của hệ thống thuế.
Thiếu khả năng truy cập thông tin ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động rửa tiền, cho phép số tiền thu được từ hoạt động tội phạm không hợp pháp được xử lý qua hệ thống ngân hàng. Thông qua ngân hàng, các kỹ thuật rửa tiền cũng được sử dụng để che giấu thu nhập chịu thuế không hợp pháp và hợp pháp trước cơ quan thuế. Điều này cũng thúc đẩy sự bất bình đẳng về thuế giữa những người nộp thuế tuân thủ và những người cố gắng tránh thuế hoặc trốn thuế. Tương tự, sự bình đẳng giữa những người nộp thuế bị méo mó bởi những người nộp thuế tuân thủ sẽ có thu nhập sau thuế thấp hơn những người có thể che giấu thu nhập của mình thông qua việc lợi dụng sự bảo mật thông tin khách hàng.
Hơn nữa, nếu cơ quan thuế không có quyền yêu cầu cung cấp thông tin ngân hàng, sẽ ảnh hưởng đáng kể đến nguồn thu từ thuế. Chính phủ sẽ phải xem xét giảm các dịch vụ cung cấp hoặc tăng thu phí để tài trợ cho việc cung cấp các dịch vụ đó thông qua vay vốn. Thiếu khả năng truy cập thông tin ngân hàng cũng có thể làm tăng chi phí quản lý thuế và chi phí tuân thủ đối với người nộp thuế. Trên tầm quốc tế, thiếu khả năng truy cập đầy đủ thông tin ngân hàng cho mục đích thuế có thể gây cản trở cho hoạt động hợp tác quốc tế liên quan đến thuế và có thể dẫn đến hành động đơn phương của các quốc gia tìm kiếm thông tin ngân hàng, gây thiệt hại cho khách hàng và hệ thống tài chính quốc gia.
Việc từ chối cung cấp thông tin khách hàng cho cơ quan thuế cũng có thể dẫn đến việc không tuân thủ thuế tự nguyện, đặc biệt là khi ngày càng có nhiều cá nhân nhận thu nhập từ dịch vụ quảng cáo trực tuyến của các nền tảng như Google, Yahoo, YouTube hoặc kinh doanh thương mại điện tử qua các sàn thương mại điện tử như Amazon, Lazada, Tiki, Shopee, v.v. Doanh thu từ các dịch vụ quảng cáo trực tuyến và bán hàng trực tuyến có thể không được khai báo hoặc khai báo không chính xác, và dữ liệu giao dịch có thể bị sửa đổi hoặc xóa sau khi thực hiện. Trốn thuế đang diễn ra phổ biến trên tất cả các lĩnh vực, gây thất thoát nghiêm trọng cho ngân sách Nhà nước.
Đối với những tác động như vậy, nhiều quốc gia đã quy định cải thiện khả năng tiếp cận thông tin khách hàng cho mục đích thuế. Ngày càng nhiều quốc gia nhận thức rằng cho phép cơ quan thuế hoặc các cơ quan có thẩm quyền truy cập thông tin ngân hàng cho mục đích thuế có thể tăng cường thực thi pháp luật liên quan. Truy cập vào hồ sơ ngân hàng tạo điều kiện cho các cuộc điều tra của chính phủ và là cần thiết để ngăn chặn các hoạt động tài chính phạm pháp như gian lận, trốn thuế và rửa tiền.
Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc cùng tham khảo bài viết: Quy định về mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài hiện nay
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Trường hợp nào ngân hàng phải cung cấp thông tin tài khoản khách hàng cho cơ quan thuế? Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.