- 1. Khái quát về bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp
- 2. Khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp
- 3. Đặc điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp
- 3.1. Nền tư pháp được đặt trong một hệ thống quyền dân chủ
- 3.2.Xây dựng nền tư pháp gắn với các giá trị phổ biến của nền tư pháp văn minh tiến bộ
- 3.3. Xây dựng nền tư pháp dân chủ phù hợp với điều kiện lịch sử của Việt Nam
- 3.4. Xây dựng một nền tư pháp "lấy dân làm gốc"
- 3.5. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bằng chế định bào chữa
- 3.6. Công tác xét xử phải coi trọng hòa giải
Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162
1. Khái quát về bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp
Hoạt động tư pháp được thực hiện dựa trên những nguyên tắc dân chủ, mang tính chất nền tảng với mục tiêu là bảo vệ công lý, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Đó là những quy định cơ bản, mang tính chung nhất và có tính chỉ đạo đối với toàn bộ hoạt động tư pháp, đa phần được ghi nhận trong đạo luật cơ bản của Nhà nước là Hiến pháp do ý nghĩa chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng, được cụ thể hóa trong các luật về tổ chức các cơ quan tư pháp và các luật về tố tụng tư pháp.
Trong lĩnh vực tư pháp, quyền con người, quyền công dân được quy định và bảo đảm thực hiện chặt chẽ. Cải cách tư pháp đã làm thay đổi tư duy pháp lý về vai trò và tầm quan trọng của tư pháp và quyền tư pháp trong sự phân công quyền lực nhà nước.
Hiến pháp năm 2013 và pháp luật tố tụng tư pháp đã bổ sung nhiều quy định mới nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân như:
- Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử nhằm bảo đảm cho việc xét xử công bằng, dân chủ, khách quan;
- Nghiêm cấm tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Tòa án;
- Bổ sung một số nguyên tắc bảo vệ quyền dân sự như quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.
Các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền của người bị tình nghi phạm tội theo nguyên tắc suy đoán vô tội như một cam kết của Nhà nước trong việc bảo vệ công lý và bảo vệ quyền con người. Đồng thời, Hiến pháp còn quy định người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại vê vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự; chính sách hình sự đi theo hướng nhân văn, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện khi xử lý người phạm tội. Đó là những tiến bộ đáng kể trong tiến trình cải cách tư pháp hướng đến việc bảo vệ quyền con người như mục tiêu cải cách tư pháp đề ra.
Trong lĩnh vực tư pháp, các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyển được pháp luật quy định, có mục đích chung là bảo vệ công lý, bảo vệ quyển con người. Nhưng trong hoạt động của các cơ quan này lại dễ để xảy ra các vi phạm quyền con người, quyền công dân. Vì vậy, việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì nơi công lý, quyền con người cần được bảo vệ thì không cho phép xảy ra vi phạm các quyền con người.
2. Khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp
Tư tưởng xây dựng nền tư pháp của chế độ mới được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập từ trước Cách mạng tháng Tám. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, về bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp hình thành và phát triển xuyên suốt quá trình hoạt động cách mạng của Người, từ khi ra đi tìm đường cứu nước đến khi lãnh đạo Cách mạng tháng Tám thành công, xây dựng một nhà nước kiểu mới, không tách rời tư tưởng về quyền con người, quyền công dân. Ngay từ năm 1919, Nguyễn Ái Quốc cùng các bạn hữu chiến đấu viết “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” gửi các đồng minh thắng trận trong thế chiến thứ nhất và gửi Chính phủ Pháp. Trong số các yêu sách đó, đáng chú ý nhất là yêu sách thứ 7: “Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”.
Ở Nguyễn Ái Quốc đã định hình rất sớm một quan niệm hoàn chỉnh về quản lý xã hội theo pháp luật trong một nhà nước dân chủ theo tinh thần pháp quyền, thượng tôn pháp luật, là tiền đề cho bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta (năm 1946) khi khẳng định “tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều 1). Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Bác viết: “Cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người”. Khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngay sau ngày đọc “Tuyên ngôn Độc lập”, tại phiên họp Chính phủ chiều ngày 03-9-1945, Người đã chù trương phải tiến hành tổng tuyển cử và ban hành một bản Hiến pháp dân chủ, trong đó ghi nhận các quyền cơ bản của công dân.
Hồ Chí Minh đã dày công tìm hiểu nhà nước và pháp luật tư sản, nền tư pháp tư sản; nghiên cứu, tiếp nhận lý luận Mác - Lênin về nhà nước, pháp luật và tư pháp. Người đã nghiên cứu những giá trị tiến bộ của pháp quyền tư sản và lấy chính những giá trị đó để soi vào nền tư pháp, nền công lý được thực dân Pháp thực thi ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, Người lên án mạnh mẽ nền công lý của chế độ thực dân và đòi thực thi những quyền cơ bản của con người trong hoạt động tư pháp.
Không chỉ dừng lại ở việc lên án nền tư pháp của chế độ thực dân phong kiến, Nguyễn Ái Quốc còn thể hiện rõ quan điểm đấu tranh cho một nền tư pháp tiến bộ, vì con người, một nền tư pháp văn minh có thể bảo đảm cho bị can, bị cáo và những người có việc phải đến Tòa án được hưởng quyền bình đẳng trước Tòa án, quyền tham gia phiên toà, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, quyền được suy đoán vô tội, quyền chống án (kháng cáo), quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm; quyền được xét xử công khai...
3. Đặc điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp
3.1. Nền tư pháp được đặt trong một hệ thống quyền dân chủ
Đặc điểm thứ nhất trong quan điểm của Hồ Chí Minh khi xây dựng nền tư pháp bảo đảm quyền con người đó là nền tư pháp đó được đặt trong một hệ thống chính quyền dân chủ. Một nhà nước dân chủ trước hết phải là một nhà nước hợp hiến, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở của Hiến pháp và pháp luật. Những nguyên tắc tổ chức và hoạt động cùa một nền tư pháp dân chủ đã được ghi nhận trong Hiến pháp - đạo luật cơ bản của Nhà nước dần chủ nhân dân, trở thành những nguyên tắc hiến định chi phối toàn bộ hoạt động tư pháp của Nhà nước ta từ những ngày đầu cho đến nay.
3.2.Xây dựng nền tư pháp gắn với các giá trị phổ biến của nền tư pháp văn minh tiến bộ
Hồ Chí Minh xác định rằng xây dựng nền tư pháp của chế độ mới phải gắn liền với các nguyên tắc, các thuộc tính, các giá trị phổ biến của một nền tư pháp văn minh, tiến bộ, công bằng mà trong quá trình đấu tranh giải phóng, nhân loại đã tạo lập nên. Đó là các nguyên tắc bảo đảm quyển con người; mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; đại diện nhân dân tham gia xét xử; Tòa án xét xử công khai; bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo; Tòa án độc lập xét xử...
3.3. Xây dựng nền tư pháp dân chủ phù hợp với điều kiện lịch sử của Việt Nam
Bên cạnh những giá trị phổ biến của một nền tư pháp dân chủ, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng một nền tư pháp trong điều kiện lịch sử thực tế của Việt Nam. Nền tư pháp đó thể hiện rõ nét những đặc điểm của Việt Nam trên cơ sở tiếp thu, vừa kế thừa được những giá trị tiến bộ của nhân loại, vừa thể hiện sâu sắc các giá trị tiến bộ của tư tưởng chính trị - pháp lý phương Đông và đặc điểm của cách mạng Việt Nam trong những năm giữa thế kỷ XX.
3.4. Xây dựng một nền tư pháp "lấy dân làm gốc"
Nền tư pháp kiểu mới là một nền tư pháp “lấy dân làm gốc”, một nền tư pháp hành động vì dân, gắn với dân, gần dân. Đó cũng là một nền tư pháp của những Thẩm phán “áo vải”, lăn lộn với dân, hiểu dân và học dân mà không phải là những quan tòa xa vời, khép kín cánh cửa công đường mà xử án, luôn tạo ra sự cách biệt với dân như ở các nhà nước bóc lột. Nền tư pháp đó được hình thành trên cơ sở tiếp thu tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là tư tưởng về một Tòa án kiểu mới của V.I. Lênin. Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở Cách mạng tháng Mười con đường giải phóng duy nhất cho dân tộc và cũng đã tìm thấy ở thành quả của Cách mạng tháng Mười những “hạt nhân” hợp lý trong nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, trong đó có hệ thống tư pháp.
3.5. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bằng chế định bào chữa
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm quyền bào chữa là một trong những quyền tự do cơ bản của công dân. Chế định này chính là sự thể hiện của việc bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trước Tòa án. Để bảo đảm quyền bào chữa ngay khi Tòa án của chế độ mới vừa thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10-10-1945, trong đó tạm thời cho duy trì các tổ chức đoàn thể luật sư theo Sắc lệnh ngày 25-5-1930 của Toàn quyển Đông Dương. Tiếp đó, nguyên tắc “bảo đảm quyền bào chữa của công dân” thành nguyên tắc Hiến pháp, thực hiện chế định bào chữa viên nhân dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946. Sau đó, ngày 18-6-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 69/SL quy định về chế định bào chữa viên nhân dân: “Từ nay đến khi nào có thể lệ khác, trước các Tòa án thường và Tòa án đặc biệt xử việc tiểu hình và đại hình, trừ Tòa án binh tại mặt trận, bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư, bào chữa cho. Công dân do bị can đã tự chọn để bênh vực mình phải được ông Chánh án thừa nhận. Nếu bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án có thể, tự mình hay theo lời yêu cầu của bị can, cử một người ra bào chữa cho bị can”.
Ngoài Sắc lệnh SỐ 69/SL ngày 18-6-1949, Nghị định số 1-Nđ/Vy ngày 12-01- 1950 của Bộ Tư pháp còn quy định về bào chữa viên nhân dân, cho phép các bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực trước các Tòa án. Trong điều kiện kháng chiến gian nan, Người vẫn quan tâm đến công tác này, nhận thấy quyền này không được coi trọng cả về quan điểm lẫn thực tế từ phía cơ quan tư pháp, trong đó nổi lên là việc chưa nhận thấy một cách sâu sắc tầm quan trọng của quyền tự do bào chữa trong chế độ dân chủ nhân dân của ta nói chung và trong nển tư pháp dân chủ nhân dân của ta nói riêng. Người đã chỉ đạo Bộ Tư pháp lúc bấy giờ tự kiểm điểm lại việc thực hiện quyền bào chữa của bị can trong công tác điều tra và xét xử các vụ án hình sự.
Theo kiểm điểm của Bộ Tư pháp vào thời điểm năm 1956, những biểu hiện của việc không coi trọng quyền bào chữa của bị can thể hiện ở chỗ trong điểu tra thường có hiện tượng mớm cung, bức cung, trấn áp không để bị can được tự do khai nại, “đến nỗi nhân chứng khai có lợi cho bị can cũng bị trấn áp như bị can”; bị can ra trước tòa không biết rõ nội dung buộc tội mình như thế nào để chuẩn bị việc bào chữa và sau khi tuyên án cũng có Tòa án không báo cho bị can biết họ có quyền kháng cáo; đoàn thể luật sư chưa được chú ý giúp đỡ trong khi chế độ bào chữa nhân dân chưa được xây dựng đến nơi đến chốn.
Thấy rõ hạn chế đó, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 2225-HCTP ngày 24-10-1956 về chấn chỉnh việc thực hiện quyển bào chữa của bị can, khẳng định “quyền bào chữa là một quyền tự do dân chủ trọng yếu, trong các quyền tự do dân chủ của người dân, “là thành trì cần thiết cho các quyền tự do khác”, vì vậy nó trở thành một nguyên tắc tố tụng căn bản phải được tôn trọng và triệt để thực hiện, nó giúp bênh vực được quyền lợi hợp pháp của người bị can... Nếu bị can không được sử dụng đầy đủ quyền bào chữa thì không gọi là có công lý”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền bào chữa của công dân chính là ở chỗ coi tư tưởng này là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về luật sư ở nước ta hiện nay, vạch ra con đường tương lai sáng sủa và rộng rãi cho nghề nghiệp luật sư phát triển trong bối cảnh đổi mới của đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.
3.6. Công tác xét xử phải coi trọng hòa giải
Công tác xét xử phải coi trọng hòa giải là một điểm rất đáng chú ý trong tư tưởng Hổ Chí Minh về tư pháp. Hòa giải là một truyền thống quý báu của dân tộc, triết lý hòa giải là không có bên thắng bên thua, đem lại kết quả bền vững khi giải quyết tranh chấp; mặt khác không gây tốn kém về thời gian và vật lực. Vì vậy được các bên đồng tình và chấp thuận. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Xét xử đúng là tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn”. Với tinh thẩn đó, Sắc lệnh số 13/SL ngày 24-01-1946 quy định Ban Tư pháp xã có quyền hòa giải tất cả các sự việc dân sự và thương sự. Nếu hòa giải được, Ban Tư pháp xã có thể lập biên bản hòa giải. Sắc lệnh số 51/SL ngày 17-4-1946 quy định Ban Tư pháp xã hòa giải tất cả các việc hộ và thương mại do đương sự mang ra trước Ban Tư pháp ấy. Khi nhận được đơn kiện vê' dân sự hay thương sự, Thẩm phán Tòa án sơ cấp phải đòi hai bên đến để thử hòa giải. Những việc kiện dân sự và thương sự thuộc vê' thẩm quyền của Tòa án đệ nhị cấp đểu phải giao trước vê' cho Thẩm phán sơ cấp hòa giải. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong xét xử, hòa giải có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần giải quyết kịp thời, nhanh chóng và hiệu quả các mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trong nhân dân trên cơ sở lý tình thuyết phục, phù hợp với truyền thống đạo lý của dân tộc. Tư tưởng đức trị kết hợp với pháp trị gặp nhau chính ở điểm này. Việc Quốc hội khóa XIV thông qua Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2021) thể hiện rất rõ tư tưởng của Bác Hồ về hòa giải.
Sắc lệnh số 13/SL quy định về tổ chức các Tòa án và các ngạch thẩm phán, về cơ bản đã thiết lập được một hệ thống Tòa án của chế độ dân chủ nhân dân (còn gọi là Tòa án tư pháp hay Tòa án thường để phân biệt với Tòa án binh, Tòa án đặc biệt). Mô hình tổ chức Tòa án theo Sắc lệnh này được tổ chức như sau:
- Tòa án sơ cấp (đặt ở cấp huyện, quận, châu);
- Tòa án đệ nhị cấp (đặt ở cấp tỉnh, thành phố);
- Tòa thượng thẩm (đặt ở 03 kỳ).
Các nguyên tắc dân chủ của nền tư pháp được ghi nhận như: Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo; việc xét xử được tiến hành công khai; khi xét xử, Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, cơ quan hành chính không được can thiệp; đại diện nhân dân (phụ thẩm) tham gia xét xử...
Những nguyên tắc cơ bản này sau đó được thể hiện trong bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta năm 1946, trong đó ghi nhận các quyền con người trong hoạt động tư pháp như: “Tất cả mọi công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá” (Điều thứ 6), “tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều thứ 7); quyền bào chữa của bị cáo (“Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư” - Điều thứ 67); quyền bất khả xâm phạm về thân thể (“Cấm không được tra tấn, đánh đập, ngược đãi những bị cáo và tội nhân” - Điều thứ 68); quyển dùng tiếng nói của dần tộc mình trước Tòa án (Điểu thứ 66). Đồng thời ghi nhận những nguyên tắc bảo đảm cho quyền con người trong hoạt động tư pháp được thực hiện nghiêm túc như: nguyên tắc độc lập xét xử (“Trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” - Điều thứ 69); nguyên tắc xét xử có phụ thẩm nhân dân tham gia (Điều thứ 65); nguyên tắc xét xử công khai (Điều thứ 67)... Đây là những quy định tiến bộ, phù hợp với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, được các bản Hiến pháp sau này kế thừa, phát triển, đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Để bảo vệ được quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp, những người có trách nhiệm thực thi quyền tư pháp có vai trò rất quan trọng. Người khẳng định: “Nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp, cũng như mọi vấn đề khác, trong lúc này là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân”; góp phần “thực hiện chế độ pháp trị, giữ vững và bảo vệ quyền lợi nhân dân, bảo vệ chế độ dân chủ của ta”. Trong Thư gửi các đại biểu dự Hội nghị Tư pháp toàn quốc tháng 02-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của chính quyền... Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” cho nhân dân noi theo”.
Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về nội dung "Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp". Bạn đọc có vướng mắc pháp lý cần được hỗ trợ vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm & biên tập)