- 1. Tranh chấp lao động xảy ra là tranh chấp lao động cá nhân hay tranh chấp lao động tập thể?
- 1.1 Về dấu hiệu chủ thể:
- 1.2 Dấu hiệu về nội dung.
- 1.3 Dấu hiệu về tính chất của tranh chấp:
- 1.4 Về vai trò của tổ chức công đoàn:
- 2. Cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của những lao động trên?
- 3. Hãy tư vấn cho công ty X những thủ tục cần thiết để chấm dứt hợp đồng?
- 4. Việc công ty X thanh toán trợ cấp thôi việc cho 25 lao động là đúng hay sai?
NỘI DUNG YÊU CẦU:
Công ty X có trụ sở đóng tại quận Hoàn Kiếm – Hà Nội. Do 6 tháng đầu năm 2021, công ty làm ăn thua lỗ nên ban giám đốc công ty đã quyết định thu hẹp sản xuất bằng việc giải thể xưởng sản xuất Y. Giám đốc công ty đã ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với 25 lao động thuộc phân xưởng này và giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc cho họ. Những lao động này không đồng ý nên đã đồng loạt gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp.
- Tranh chấp lao động xảy ra là tranh chấp lao động cá nhân hay tranh chấp lao động tập thể?
- Cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của những lao động trên?
- Hãy tư vấn cho công ty X những thủ tục cần thiết để chấm dứt hợp đồng?
Việc công ty X thanh toán trợ cấp thôi việc cho 25 lao động là đúng hay sai? Tại sao?
NỘI DUNG TƯ VẤN:
1. Tranh chấp lao động xảy ra là tranh chấp lao động cá nhân hay tranh chấp lao động tập thể?
Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp lao động giữa một cá nhân hoặc một nhóm NLĐ với NSDLĐ về quyền lợi và nghĩa vụ đơn lẻ của từng cá nhân, trong quá trình tranh chấp không có sự liên kết giữa những NLĐ tham gia tranh chấp và tổ chức công đoàn chỉ tham gia với tư cách là người đại diện bảo vệ NLĐ.
Tranh chấp lao động tập thể là tranh chấp giữa tập thể NLĐ với NSDLĐ về quyền lợi và nghĩa vụ thống nhất của tập thể, quá trình tranh chấp thể hiện rõ tính tổ chức cao của tập thể NLĐ và có sự tham gia của tổ chức công đoàn với tư cách là một bên của tranh chấp.
Ta có thể phân biệt tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể qua một số tiêu chí như sau:
1.1 Về dấu hiệu chủ thể:
Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp lao động xảy ra giữa cá nhân NLĐ hoặc một nhóm NLĐ với NSDLĐ.
Tranh chấp lao động tập thể là tranh chấp giữa tập thể NLĐ với NSDLĐ. Tập thể NLĐ thường bao gồm mọi NLĐ trong một đơn vị sử dụng lao động hoặc một bộ phận của đơ vị sử dụng lao động.
Tuy nhiên, nếu tranh chấp lao động cá nhân có sự tha gia của một nhóm NLĐ thì cần phải kết hợp các dấu hiệu khác.
1.2 Dấu hiệu về nội dung.
Nội dung của tranh chấp lao động cá nhân chỉ liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân hoặc của một nhóm NLĐ, vì vậy, nếu vụ tranh chấp có nhiều NLĐ tham gia nhưng mỗi người chỉ quan tâm đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình thì vẫn coi đó là tranh chấp lao động cá nhân.
Nội dung của tranh chấp lao động tập thể liên quan đến quyền và nghĩa vụ của tập thể NLĐ. Đích nhắm tới cơ bản của các bên bao giờ cũng mang tính chất tập thể. Quyền lợi và nghĩa vụ mà các bên mong muốn thường là quyền và nghĩa vụ chung của một đơn vị sử dụng lao động hoặc một bộ phận của đơn vị sử dụng lao động đó.
1.3 Dấu hiệu về tính chất của tranh chấp:
Tranh chấp lao động cá nhân thường mang tính đơn lẻ, ngược lại, trong tranh chấp lao động tập thể, tính tổ chức bao giờ cũng là yếu tố hàng đầu. giữa những NLĐ tham gia tranh chấp có sự liên kết chặt chẽ với nhau và sự liên kết này tạo nên tính sức mạnh của cả tập thể, là áp lực đối với NSDLĐ.
1.4 Về vai trò của tổ chức công đoàn:
Đối với tranh chấp lao động cá nhân, tổ chức công đoàn chỉ tham gia với tư cách là người đại diện bảo vệ NLĐ; còn đối với tranh chấp lao đọng tập thể, tổ chức công đoàn sẽ có tư cách là một bên của tranh chấp.
Như vậy, theo nội dung yêu cầu, có thể khẳng định đây là tranh chấp lao động cá nhân.
- Chủ thể của tranh chấp là một nhóm NLĐ 25 người với NSDLĐ.
- Về nội dung, trong vụ tranh chấp này, tuy có sự tham gia của nhiều người lao động tham gia tranh chấp nhưng vẫn được xác định là tranh chấp lao động cá nhân vì yêu sách mà người lao động đưa ra liên quan đến lợi ích cá nhân, tức là nội dung tranh chấp mang tính cá nhân. 25 lao động này không đồng ý với quyết định của công ty X nên đã đồng loạt gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp, nhưng những chế độ yêu cầu này là khác nhau giữa những NLĐ.
- Về tính chất, tuy tranh chấp này có nhiều NLĐ cùng tham gia nhưng mối liên hệ của họ rời rạc, không rõ ràng, không có sự kết dính, chỉ đòi quyền lợi cho bản thân mình nên đây là tranh chấp lao động cá nhân.
2. Cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của những lao động trên?
Như đã phân tích ở trên, tranh chấp lao động giữa 25 công nhân và công ty X là tranh chấp lao động cá nhân. Theo quy định tại Điều 187 BLLĐ 2019, Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân gồm:
Trình tự giải quyết tranh chấp lao động cá nhân được quy định sau:
Bước 1:
Khi có tranh chấp lao động cá nhân, việc tranh chấp sẽ được đưa ra hòa giải viên lao động cơ sở để tiến hành hòa giải. Hòa giải viên lao động hướng dẫn các bên tranh chấp dàn xếp, thương lượng để cùng nhau đi đến quyết định cuối cùng.
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hòa giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.Tại phiên họp hòa giải, phải có mặt hai bên tranh chấp hoặc đại diện được uỷ quyền của họ.
- Hòa giải viên lao động đưa ra phương án hòa giải để các bên xem xét. Nếu hai bên chấp nhận phương án hòa giải thì lập biên bản hòa giải thành, có chữ ký của hai bên tranh chấp,. Hai bên có nghĩa vụ chấp hành các thoả thuận ghi trong biên bản hòa giải thành.
- Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.
Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.
Bước 2:
Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 6 Điều 188 BLLĐ 2019 mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án hoặc Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên, Khoản 1 Điều 188 Bộ luật lao động năm 2019 quy định:
“1. Tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
Theo nội dung yêu cầu, tranh chấp giữa 25 lao động nói trên với công ty X thuộc về trường hợp quy định tại điểm b, Khoản 1 Điều 188, vì vậy, tranh chấp này không nhất thiết phải qua thủ tục hòa giải ở bước 1, và cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của các lao động trên là tòa án.
3. Hãy tư vấn cho công ty X những thủ tục cần thiết để chấm dứt hợp đồng?
Đây là trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động có hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Bộ luật Lao động năm 2019 quy định các trường hợp người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và thời hạn báo trước mà người sử dụng lao động phải tuân thủ tại Điều 36 như sau:
“1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động vẫn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng với người lao động vì các lý do bất khả kháng hoặc vì lý do kinh tế mà người sử dụng lao động buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc.
Như vậy, công ty X có căn cứ để chấm dứt hợp đồng lao động với 25 lao động này.
Những thủ tục cần thiết để chấm dứt hợp đồng:
Theo nội dung yêu cầu, công ty X đang trong giai đoạn gặp khó khăn trong sản xuất, kinh doanh và 25 công nhân chưa từng bị công ty ra các quyết định kỷ luật lao động. Nếu công ty đang trong giai đoạn gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì căn cứ vào quy định điểm c khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2019 thì công ty X phải đưa ra các bằng chứng chứng minh rằng: công ty đã tìm mọi cách khắc phục nhưng vẫn phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc.
Đồng thời, theo quy định tại khoản 2 Điều 36 BLLĐ 2019, Công ty X phải báo trước cho 25 lao động ít nhất 45 ngày trước khi chấm dứt hợp đồng lao động với 25 công nhân này.
4. Việc công ty X thanh toán trợ cấp thôi việc cho 25 lao động là đúng hay sai?
Việc công ty X thanh toán trợ cấp thôi việc cho 25 lao động là trái với quy định của pháp luật.
Khoản 10 Điều 34, Điều 42, Điều 43 Bộ luật Lao động 2019 có quy định như sau: “Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.” Như vậy, theo quy định này, hợp đồng lao động được chấm dứt trong hai trường hợp sau: Thứ nhất là trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 36 Bộ luật lao động 2019. Thứ hai là trường hợp người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách, doanh nghiệp, hợp tác xã.
- Đối với trường hợp thứ nhất, khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 thì người sử dụng lao động chỉ phải trả cho người lao động trợ cấp thôi việc theo quy định của Điều 46 Bộ luật Lao động năm 2019.
- Đối với trường hợp thứ hai, trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách, doanh nghiệp, hợp tác xã, người sử dụng lao động phải tuân thủ các nghĩa vụ của pháp luật tại Điều 42 và Điều 43 của Bộ luật Lao động năm 2019.
Theo đó, Điều 42 và Điều 43 của Bộ luật Lao động năm 2019 có nội dung cụ thể như sau:
“Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế
Căn cứ vào các quy định trên, về cơ bản, khi có sự thay đổi về cơ cấu, công nghệ hoặc khi sáp nhập, chia, tách doanh nghiệp, người sử dụng lao động có trách nhiệm tiếp tục sử dụng người lao động. Trong trường hợp không thể giải quyết được việc làm mới hoặc không thể sử dụng hết số lao động hiện có mà phải cho người lao động thôi việc thì người sử dụng lao động phải trợ trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Lao động năm 2019, cụ thể là:
“Điều 47. Trợ cấp mất việc làm
Như vậy, người lao động khi phải nghỉ việc do thay đổi về cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc khi sáp nhập, chia, tách doanh nghiệp thì 25 lao động này phải được hưởng trợ cấp mất việc.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê