Lúc đó anh, chị bị đau ở chân, còn cháu nhỏ quá hoảng sợ và khóc rất nhiều. Lúc đó tôi ôm bé nhỏ kiểm tra có bị gì không và dỗ cháu nín nhưng không đuợc. Lúc đó tôi đưa bé cháu cho anh, chị tôi. Trong lúc đó nhìn lên thì tôi thấy thanh niên kia không lo gì, chỉ lo cho chiếc xe có hư hại gì thôi. Quá bức xúc tôi liền đánh thanh niên 3 cái. Rồi xong tôi và mọi nguời chở anh, chị và bé cháu vào bệnh viện. Trong lúc ở bệnh viện thì ba của thanh niên đến và cũng quen biết với bác tôi ( mẹ cuả anh, chị). Hai bên không thấy có gì nghiêm trọng nên tự hoà giải. Đến lúc đó tôi trả lại chìa khoá xe. Hai bên ra về. Nhưng đến tối thì nguời nhà của thanh niên đó có ra nhà nói thanh niên đó bị gãy 1 cái răng phải nhập viện. Tôi và gia đình có đến thăm và có nói có gì tôi chiệu 1 phần tiền thuốc. Lúc đó ba của thanh niên cũng đồng ý. Tôi đã để lại số điện thoại để liên lạc. Một ngày sau thì thanh niên đó xuất viện và vẫn bình thuờng nên tôi nghĩ mọi việc đã xong. Nhưng đến 1 tuần sau thì tôi nhận đuợc giấy mời lên làm việc của công an xã về việc đánh thanh niên đó. Lúc đó tôi biết ba của thanh niên kiện tôi về việc đánh nguời gây thương tích. Tôi đuợc biết tiền viện phí và mọi thứ chưa tới 1 triệu đồng nhưng ba của thanh niên đó đòi hỏi bồi thuờng 6 triệu đồng. Nội dung sự việc như vậy tôi có những câu hỏi thắc mắc như sau:

1/ Sau khi 2 bên đã tự hoà giải xong thì có quyền khởi kiện tôi không ?

2/ Nếu khởi kiện đuợc thì tôi bị tội gì, mức xử phạt ra sao ?

3/ Thanh niên trên chạy xe muợn, phân khối lớn khi chưa đủ tuổi gây ra tai nạn, chạy rất nhanh trong khu vực dân cư thì sẽ bị những lỗi gì? xử phạt ra sao ?

4/ Tôi có quyền khiếu kiện lại việc ba của thanh niên trên cố tình hoà giải để lấy xe về nhằm xoá bỏ hiện truờng rồi mới khởi kiện tôi về việc đánh nguời không. Ba của thanh niên trên có tội gì không và mức xử lý ra sao ?

Xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>>Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Luật xử lý vi phạm hành chính 2012

Nghị định 171/2013/NĐ-CP

Nội dung phân tích:

1/ Vấn đề 1: 

Việc hòa giải là xuất phát từ thỏa thuận giữa 2 bên các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa. Hòa giải cũng là giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương lượng với nhau.

Do vậy, việc hòa giải không được sự bảo hộ của pháp luật nên việc sau khi 2 bên đã hòa giải mà xảy ra kiện cáo thì việc kiện cáo đó không  có vi phạm pháp luật.

2/ Vấn đề 2:

Theo quy định tại Điều 104, Bộ luật Hình sự về Tội cố ý gây thương tích như sau:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì  lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ  61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Trường hợp của bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích và mức phạt sẽ tùy thuộc vào tỷ lệ thương tật, vì ở đây không cung cấp về tỉ lệ thương tật của thanh niên đó nên chúng tôi không thể đưa ra được mức xử phạt cụ thể cho bạn, nhưng bạn có thể tham khảo các mức phạt tương ứng với mức tỉ lệ thương thật ở trên chúng tôi đã cung cấp. Trong trường hợp tỉ lệ thương tật dưới 11% và không thuộc trong các trường hợp quy định tại khoản 1 điều 104 thì bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra bạn còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm an ninh trật tự.

3/ Vấn đề 3:

Trong thông tin bạn cung cấp chưa nói rõ thành niên đó cụ thể bao nhiêu tuổi nên chúng tôi sẽ đưa ra các trường hợp như sau:

Căn cứ Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012: Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính:

“1. Các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính.”

Nếu người thanh niên đó từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý. Trong tình huống trên, người thanh niên đã điều khiển xe máy khi chưa đủ tuổi sẽ bị phạt cảnh cáo theo Khoản 1 Điều 21 Nghị định 171/2013/NĐ-CP: “1. Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô hoặc điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô.”

Nếu người thanh niên từ đủ 16 tuổi trở lên, với hành vi điều khiển xe máy không đủ tuổi sẽ bị xử phạt theo quy định tại điểm a Khoản 4 điều 21 Nghị định 171/2013/NĐ-CP: “4. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên”

Căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 3 năm tù. Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 7 năm tù. Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 15 năm tù. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, còn người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Như vậy, người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ bị xem xét trách nhiệm hình sự khi họ phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng (do cố ý hoặc vô ý).

Theo quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự:

"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy, Nếu người thanh niên đó chưa đủ 16 tuổi không bị xử lý hình sự về tội này, còn từ đủ 16 tuổi trở lên thì cỏ thể chịu trách nhiệm hình sự theo điều 202. 

Về bồi thường thiệt hại, theo quy định của Bộ luật dân sự, trong trường hợp này cha mẹ của người gây tai nạn có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân. Mức độ bồi thường tùy thuộc thiệt hại thực tế đã xảy ra và mức độ lỗi của các bên.

4/ Vấn đề 4: 

Với vấn đề khiếu kiện nếu như hai bên không thể thỏa thuận với nhau về việc bồi thường thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết, bạn có thể cung cấp các bằng chứng cụ thể để bảo vệ quyền lợi của mình trước tòa.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư hình sự.