1. Tư vấn kiện đòi lại xe máy bị ăn cắp ?

Xin chào Luật Sư Minh Khuê ! Em có 1 sự việc mong luật sư giải đáp giúp em: Ngày 20/3/1017, em đi chơi với nhóm bạn không may xe máy của em bị mất cắp, ngay sau đó em đã trình báo sự việc này ra cơ quan công an. Hai tháng sau, công an bá đã bắt được đối tượng trộm cắp ở trong thành phố HCM và công an cũng đã đi vào để lấy xe ra và đợi xử lý. Tuy nhiên, một thời gian sau khi em gọi điện hỏi thì công an có báo có bắt được đối tượng nhưng không tìm được do đối tượng đã bán qua tay nhiều người. Vì không tìm thấy xe, đối tượng phải bồi thường cho em 19.000.000 đồng (do cơ quan công an định giá đưa ra) và đối tượng bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản.

Tuy nhiên, trong khoảng thời gian mất xe em không có phương tiện đi lại và đã phải chi trả một số tiền khá lớn để đi lại. Xin hỏi, trong trường hợp này em có thể kiện đối tượng phải bồi thường khoảng thời gian em bị mất xe đến nay được không?

Ngoài ra, em có phải chi trả phỉ cho cơ quan công an chi phí gì không (vd: phí điều tra ...)

Mong được luật sư giải đáp !

Trả lời:

Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định như sau:

Điều 170. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại.

Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Điều 586. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.

2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:

1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.

2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.

3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

4. Thiệt hại khác do luật quy định

Căn cứ vào quy định này và những thông tin bạn nêu ra thì tài sản của bạn đã bị mất do đo bạn có thể yêu cầu bồi thường về giá trị của chiếc xe cũng như yêu cầu về bồi thường các lợi ích gắn liền với việc khai thác, sử dụng chiếc xe chẳng hạn bạn dùng xe để chạy xe ôm, chở hàng, xe bị mất rồi bạn không có thu nhập, do đó lợi ích của bạn bị ảnh hưởng thì bạn có thể chứng minh và yêu cầu bồi thường các khoản liên quan đến lợi ích của việc khai thác, sử dụng của chiếc xe của bạn.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp

2. Trách nhiệm hình sự đối với hành vi mua xe do ăn cắp được ?

Thưa Luật sư, K chiếm đoạt được chiếc xe máy do ăn trộm được và theo thỏa thuận từ trước với N (người chuyên mua bán xe máy cũ), K đã bán chiếc xe này cho N lấy 30 triệu đồng.
Vậy N có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình không? Tại sao?
Xin cảm ơn Luật sư!

>> Xem thêm:  Hướng dẫn cách thức trình báo công an khi bị mất trộm tài sản ? Mức phạt hành vi trộm cắp

Người gửi: Lê Mai Lê

Nhân viên ngân hàng xem trộm tài khoản của khách hàng thì phạm tội gì?

Luật sư tư vấn luật hình sự tiêu thụ tài sản phạm tội, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì K có được chiếc xe máy 30 triệu là do hành vi trộm cắp. Do đó, K phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội trộm cắp tài sản như sau

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Tài sản là bảo vật quốc gia;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Li dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Vì N và K đã thỏa thuận từ trước nên trong trường hợp này, N và K là đồng phạm trong tội Trộm cắp tài sản. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 Bộ luật Hình sự thì N tham gia với vai trò là người giúp sức:

Điều 17. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.

Do đó, N phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội trộm cắp tài sản với vai trò là người giúp sức.

3. Trộm cắp tài sản dưới 1.000.000 đồng thì bị xử lý như thế nào?

Xin chào luật sư! Em có một vấn đề như sau: A trộm cắp hàng hóa tại siêu thị, sau đó bị bảo vệ siêu thị bắt lập biên bản, định giá hàng hóa là 760.000 (760k). A đã thanh toán cho số hàng hóa đó, Hóa đơn xuất trộm. Sau đó A bị chuyển cho công an phường tại siêu nơi siêu thị. Công an tịch thu hàng hóa trộm + CMND + Giấy phép lái xe. Sau đó thả A về. A có nhận lại : 1 biên bản vi phạm hành chính tội danh trộm cắp tài sản + 1 biên bản tạm giữ CMND + GPLX. Trong tình huống A cư trú tại phường X nhưng phạm tội tại phường Z, vi phạm lần đầu, nhân thân tốt.

Như vậy:

- Với những vi phạm trên A bị xử phạt như thế nào.

- A sẽ bị xử phạt tại phường nào (nơi vi phạm hay nơi cư trú)

- Sau khi xử phạt có bị báo về cho nơi cư trú không (công an hay UBND hay tổ trưởng nơi cư trú sẽ được thông báo về tội của A)

- Thời hạn nhận quyết định xử phạt là bao lâu. Nhận quyết định bằng cách nào?

Trả lời:

3.1. Với những vi phạm trên A bị xử phạt như thế nào?

Với hành vi trộm cắp tài sản dưới 2.000.000 đồng thì A chỉ bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Cụ thể tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định:

"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Trộm cắp tài sản;

b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác;

c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;

d) Sử dụng trái phép tài sản của người khác."

Như vậy, đối với hành vi trộm cắp tài sản với số tiền là 760.000 đồng thì người này sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

3.2. A sẽ bị xử phạt tại phường nào (nơi vi phạm hay nơi cư trú)

A sẽ bị xử phạt tại nơi có hành vi vi phạm.

3.3. Sau khi xử phạt có bị báo về cho nơi cư trú không (công an hay UBND hay tổ trưởng nơi cư trú sẽ được thông báo về tội của A)

Đối với trường hợp bị xử phạt vi phạm thì sẽ có quyết định xử phạt vi phạm hành chính gửi trực tiếp cho người có hành vi vi phạm. Không có gửi về nơi cư trú.

Trường hợp quyết định được giao trực tiếp mà cá nhân vi phạm cố tình không nhận quyết định thì người có thẩm quyền lập biên bản về việc không nhận quyết định có xác nhận của chính quyền địa phương và được coi là quyết định đã được giao.

3.4. Thời hạn nhận quyết định xử phạt là bao lâu. Nhận quyết định bằng cách nào.

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, người có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân.

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính được giao trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm và thông báo cho cá nhân bị xử phạt biết.

4. Xem trộm điện thoại của người khác có bị xử lý không?

Cho em hỏi việc tự ý xem điện thoại người khác và thông tin bí mật cá nhân của họ là phạm tội gì ạ? Mong sớm nhận được phản hồi, em cảm ơn!

Trả lời:

Hiến pháp 2013 ghi nhận: Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.

Điều 159 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;

b) Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;

c) Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;

d) Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;

đ) Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.

Như vậy, việc tự ý xem điện thoại người khác và thông tin bí mật cá nhân của người khác là hành vi "xâm phạm bí mật thư tín, điện thoại". Hành vi này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

5. Đọc trộm tin nhắn của người khác thì bị xử lý thế nào?

Luật sư giải đáp giúp tôi câu hỏi sau: Hành vi đọc trộm tin nhắn có bị phạm tội gì không? Và nếu vi phạm thì sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý như thế nào ạ?

Trả lời:

Dù bí mật bí mật thư tín, điện thoại, điện tín hoặc các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác đã được ghi nhận là một trong những quyền cơ bản của công dân nhưng việc xâm phạm bí mật thư tín, điện thoại, điện tín vẫn diễn ra hàng ngày nhưng không phải ai cũng biết rõ hậu quả pháp lý của hành vi này. Quyền cơ bản và thiêng liêng này của con người đã được ghi nhận tại khoản 2, Điều 21, Hiến pháp 2013

“Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác."

Ngoài ra, tại khoản 3, Điều 38 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng quy định:

“Thư tín. Điện thoại. Điện tín. Cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được đảm bảo an toàn và bí mật. Việc bóc mở. Kiểm soát thu giữ thư tín. Điện thoại. Điện tín cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong một số trường hợp do pháp luật quy định”

Như vậy, hành vi đọc trộm tin nhắn của người khác được coi là hành vi trái pháp luật khi không được chủ sở hữu đồng ý. Hành vi đọc trộm tin nhắn của người khác đã xâm phạm đến quyền riêng tư, quyền bí mật thư tín, điện thoại điện. Tuy nhiên, trên thực tế do mọi người không ý thức được quyền này của mình và người đọc trộm tin nhắn của người khác vẫn coi hành vi này là đơn giản nên đã hành vi này vẫn diễn ra thường xuyên và chưa được xử lý một cách nghiêm minh. Dù đây chỉ là hành động nhỏ nhưng trong một số trường hợp nó để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng.

Ví dụ trong thực tiễn, một người mượn máy tính của đồng nghiệp để làm việc và sau đó vì tò mò nên đã vào facebook của người này đọc trộm tin nhắn và cho rằng đồng nghiệp của mình đã nói xấu sau lưng. Đợi lúc người đồng nghiệp đi vệ sinh đã dẫn thêm 2 người nữa vào đánh hội đồng và còn dọa là sẽ đánh ngoài đường nếu còn tiếp tục nói xấu và mách với người khác về vụ việc. Chỉ là một phút bốc đồng của sự tò mò và một chút hiểu lầm mà đã dẫn đến những hành động không đáng có.

Trách nhiệm pháp lý đối với hành vi đọc trộm tin nhắn của người khác

Tùy mức độ hành vi cũng như hậu quả mà người đó có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu người đó chỉ dừng lại ở hành vi đọc trộm tin nhắn và không có những hành vi tiếp theo như phát tán, lưu trữ thông tin… thì chưa chắc chắn sẽ bị xử lý vi phạm.

Tuy nhiên, nếu hành vi của người đó không chỉ dừng ở mức độ xem trộm tin nhắn mà còn tiết lộ, phát tán những tin nhắn đó nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng theo quy định tại điểm g khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP “Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác”. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình. Ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Ở mức độ hậu quả hành vi cao hơn, nghiêm trọng hơn khi người có hành vi đã từng bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính thì người đó còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;

b) Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;

c) Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;

d) Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;

đ) Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác;

đ) Làm nạn nhân tự sát.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Trân trọng./.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Xe trộm cắp đem đi cầm cố chủ hộ kinh doanh đi tiêu thụ phải ngồi tù ?