1. Tư vấn phân chia tài sản thừa kế khi có hai vợ ?

Xin chào luật sư luật minh khuê, tôi tên tài muốn luật sư giải đáp về việc phân chia tài sản đúng theo pháp luật. Cụ thể như sau: gia đình tôi gồm có: ba, mẹ, bà nội, anh, chị và tôi là út trong gia đình. Ba mẹ tôi lấy nhau vào năm 1975 và sinh được 3 người con. Tuy nhiên, sau đó ba mẹ tôi có mâu thuẫn với nhau, ba tôi ở với người đàn bà khác từ 1992 đến 2017 và có đăng ký kết hôn. Năm 2017, không may ba tôi đột ngột qua đời vì tai nạn giao thông và không có di chúc của ba tôi để lại thừa kế.
Vậy luật sư cho hỏi trường hợp này ai là người được công nhận là vợ và chia thừa kế tài sản của bố tôi như thế nào ?
Cảm ơn!

Luật sư trả lời:

1. Sống với nhau như vợ chồng từ năm 1975 có phải là vợ chồng hợp pháp không?

Về nguyên tắc việc chung sống với nhau như vợ chồng mà không thực hiện việc đăng ký kết hôn sẽ không làm phát sinh quan hệ vợ chồng hợp pháp. Bởi theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình việc đăng ký kết hôn là thủ tục bắt buộc để quan hệ vợ chồng phát sinh.

Tuy nhiên Luật hôn nhân gia đình bắt đầu được ban hành từ năm 1986, với các trường hợp đã sống với nhau trước thời điểm năm 1986 thì sẽ không thể làm thủ tục đăng ký kết hôn vì không có văn bản hướng dẫn, vì thế pháp luật tạo điều kiện bằng cách công nhận cho những trường hợp chung sống với nhau trước ngày 3/1/1987 là hôn nhân hợp pháp. Điều đó có nghĩa, với những trường hợp sống chung trước ngày 3/1/1987 pháp luật chỉ khuyến khích đăng ký kết hôn chứ không bắt buộc.

Chính vì vậy trường hợp của gia đình bạn, bố mẹ bạn được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp.

2. Việc kết hôn với người thứ hai có vi phạm pháp luật không ?

Thực tế, khi bố bạn đăng ký kết hôn với người thứ hai thì cơ quan nhà nước cũng không biết về việc bố bạn từng có vợ, hơn nữa tình trạng cá nhân của bố bạn vẫn đang độc thân. Như đã phân tích ở trên trong trường hợp này, việc đăng ký kết hôn với người thứ hai chưa bị coi là vi phạm pháp luật, tuy nhiên việc kết hôn đó sẽ không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng hợp pháp. Vì ở nước ta chỉ bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng, mẹ bạn đã được công nhận là vợ hợp pháp thì trường hợp ngay cả khi người thứ hai có đăng ký kết hôn thì cũng không được công nhận.

3. Chia tài sản thừa kế trong trường hợp này như thế nào ?

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, trường hợp người có tài sản mất mà không để lại di chúc chỉ định người thừa kế thì di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật.

Chia di sản thừa kế theo pháp luật sẽ căn cứ vào hàng thừa kế, theo thứ tự hàng thừa kế thứ nhất sẽ hưởng thừa kế trước, hàng thừa kế thứ nhất gồm: bố, mẹ, vợ, con. Như đã phân tích ở trên, trong trường hợp này chỉ có mẹ của bạn là vợ hợp pháp của bố bạn, nên trường hợp này khi chia tài sản thừa kế người vợ được chia tài sản là mẹ của bạn chứ không phải là người phụ nữ sống chung với bố bạn sau này.

Vì tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung nên trường hợp này, khi bố bạn mất đi thì mẹ bạn sẽ có quyền được nhận một nửa tài sản, nửa tài sản còn lại sẽ chia đều cho những người thừa kế là: bà nội, vợ và các con (4 suất thừa kế)

4. Nếu giữa bố tôi và người phụ nữ kia có tài sản chung thì giải quyết như thế nào ?

Trường hợp này, dù hôn nhân của bố và mẹ bạn là hợp pháp nhưng không thể phủ nhận rằng, tài sản mà bố bạn có được không chỉ là tài sản chung của vợ chồng mà đó còn là tài sản chung với người đã kết hôn sau này. Về nguyên tắc định đoạt tài sản chung thì các chủ sở hữu chung đều có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung. Vì thế mặc dù người phụ nữ kia không được nhận di sản thừa kế của bố bạn, nhưng phải chia cho họ một nửa tài sản.

Trường hợp này việc chia thừa kế sẽ được tiến hành như sau: tài sản được chia đôi cho bố bạn và người phụ nữa sống chung - mỗi người một phần. Phần tài sản sau khi được chia của bố bạn sẽ dùng để chia thừa kế cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất như trường hợp ở trên.

5. Trường hợp có tranh chấp về chia thừa kế thì giải quyết như thế nào ?

Nếu các bên không thể thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản thừa kế thì phương án giải quyết tranh chấp là khởi kiện đến Tòa án cấp huyện có thẩm quyền.

Trường hợp này cần chuẩn bị hồ sơ khởi kiện gồm có:

1. Đơn khởi kiện

2. Bản sao chứng thực giấy chứng tử của bố bạn

3. Giấy tờ chứng minh quan hệ nhân thân như: giấy khai sinh, sổ hộ khẩu

4. Giấy tờ chứng minh việc chung sống của bố, mẹ

5. Tài liệu chứng minh về tài sản của bố bạn để lại.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn thừa kế đất đai khi bản di chúc bị hủy ? Cách quyết tranh chất thừa kế đất đai ?

2. Chia tài sản thừa kế cho con riêng của chồng ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Ông A có 3 người con là B, C, D, Ông A mất nhưng không để lại di chúc. B, C, D đã yêu cầu Tòa án ra quyết định phân chia tài sản do ông A để lại. Sau khi có phán quyết của Tòa án chia tài sản thừa kế thành 3 phần bằng nhau cho B, C, D, bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Chị E đến nhà của B, C, D chứng minh mình là con của ông A, có giấy tờ chứng minh hợp pháp đúng E là con ông A. Hỏi:

- Chị E có được chia tài sản hay không?

Người gửi: Phương Thanh Nguyễn

Tư vấn phân chia tài sản thừa kế khi có hai vợ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chị E hoàn toàn có quyền được chia tài sản,Vì ông A không để lại di chúc nên di sản được chia theo pháp luật, những người hưởng di sản theo quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005:

Ðiều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.

Đối chiếu với quy định nêu trên và với thông tin bạn cung cấp thì những người thừa kế theo pháp luật của ông A bao gồm: A, B, C,D .

Vậy chị E hoàn toàn có thể được chia tài sản vì E vẫn thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định của pháp luật.

- Nếu có, chị E sẽ phải làm gì để được chia tài sản? Nếu anh (chị) là thẩm phán, anh (chị) sẽ giải quyết như thế nào?

Để được chia tài sản thì chị E có thể yêu cầu tòa án nd huyện nơi ông A cư trú để được hưởng quyền lợi của mình.

Căn cứ pháp lý: khoản 5, điều 25 luật tố tụng dân sự 2004

Điều 25. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

1. Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam.

2. Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản.

3. Tranh chấp về hợp đồng dân sự.

4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 29 của Bộ luật này.

5. Tranh chấp về thừa kế tài sản.

6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

7. Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

8. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật.

9. Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định.

Nếu tôi là thẩm phán tôi sẽ giải quyết như sau:

Nếu những người thừa kế này đã tự thỏa thuận được với nhau thì tôn trọng sự thỏa thuận của họ.

Còn nếu họ không thỏa thuận được với nhau thì: Việc chia đều tài sản cho B, C, D, E .những người thừa kế là A, B, C sẽ phải thanh toán cho E một khoản tiền ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận.

Căn cứ pháp lý:

687. Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế Điều

1. Trong trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp đã phân chia di sản mà có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì người đó phải trả lại di sản hoặc thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản được hưởng tại thời điểm chia thừa kế cho những người thừa kế, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ: Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

>> Xem thêm:  Tư vấn về quyền thừa kế đất đai của con trưởng ? Người định cư ở nước ngoài có được thừa kế ?

3. Tư vấn về thủ tục phân chia tài sản thừa kế ?

Chào luật sư, Cháu muốn hỏi: Nhà bà cháu có 6 người con trong đó 4 người đã lập gia đình và về nhà chồng, còn 1 người cô đi làm và chưa có gia đình.

Bây giờ mọi người đòi phân chia tài sản, sổ đỏ cha cháu đứng tên vậy nên làm thế nào mới đúng ạ ?

Cháu xin cảm ơn!

Người gửi: N.N

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào điều 632 Bộ luật dân sự 2005 quy định về quyền bình đẳng thừa kết của cá nhân:

“ Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.

Căn cứ vào quy định này thì mọi cá nhân nếu thuộc diện được hưởng di sản thừa kế thì sẽ được quyền hưởng di sản thừa kế như nhau theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp này nếu như bà của bạn mất không có di chúc thì di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật.

Nếu gia đình bạn chứng minh được mảnh đất mà gia đình bạn được nhận chuyển nhượng từ người khác hoặc được bà bạn tặng cho riêng trong thời kỳ bà bạn còn sống thì tài sản này đã là của bố bạn chứ không còn là tài sản của bà bạn nữa do đó không thể tiến hành phân chia được. Còn nếu như không chứng minh được hoặc không có giấy tờ để chứng minh thì tài sản đấy sẽ được xác định là di sản thừa kế của bà bạn để lại và những người con của bà bạn có quyền yêu cầu phân chia di sản thừa kế theo hàng thừa kế được quy định tại điểm a, khoản 1 điều 676 BLDS 2005:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau:

a. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ,cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”.

Theo quy định này thì bà bạn có sáu người con, những người này đều sẽ được hưởng di sản với tỷ lệ ngang nhau. Nếu như có thể thỏa thuận được phân chia như thế nào thì đấy là theo thỏa thuận của các bên. Còn nếu không thỏa thuận được thì có thể khởi kiện ra Tòa án yêu cầu phân chia di sản thừa kế.

Trong trường hợp này, bố bạn đứng tên ngôi nhà, nhưng ngôi nhà này là sở hữu chung nếu bố bạn không chứng minh được đây là tài sản riêng của mình như đã phân tích ở trên, còn nếu không chứng minh được thì đây được xác định là sở hữu chung, bố bạn là người quản lý di sản thừa kế theo như quy định tại điều 638 BLDS và quyền sử dụng đất do bố bạn đứng tên đấy sẽ được chia cho những người đồng thừa kế theo quy định của pháp luật.

Ở đây cần xem xét một yếu tố nữa là thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là 10 năm tính từ thời điểm người để lại tài sản thừa kế chết. Trong trường hợp này nếu như bà bạn đã mất được hơn 10 năm thì những người còn lại sẽ không có quyền yêu cầu phân chia di sản thừa kế theo quy định tại điều 645 BLDS.

Như vậy, số tài sản mà bố bạn đang đứng tên sẽ được chia đều cho những người đồng thừa kế nếu vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện là 10 năm, cách thức phân chia sẽ do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được sẽ khởi kiện ra Tòa án nơi có di sản thừa kế đó để yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Người nhà bỏ đi hơn 20 năm không rõ tin tức thì có được chia thừa kế không ?

4. Vợ hai có được chia tài sản thừa kế không ?

Kính chào luật sư! cha tôi hiện nay đa yếu cha lấy dì đến nay đa được 20 năm mảnh đất của gia đình tôi có tù thời cố để lại, hiện nay tôi là con trai duy nhất của cha tôi, và dì tôi có một đúa con gái vây tôi xin hỏi quyền lợi và nghĩa vụ của tôi như thế nào ?
Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: h

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Do bạn không nói rõ người con gái của dì bạn là con chung của bố bạn với dì bạn hay là con riêng của dì bạn. Hơn nữa, bố bạn vẫn chưa mất hiện đang yếu nên bố bạn vẫn có quyền làm di chúc để phân chia phần di sản của mình sau khi chết, mảnh đất mà bạn hỏi có phải là tài sản chung của bố bạn và mẹ bạn từ lúc mẹ bạn còn sống hay chỉ là tài sản riêng của bố bạn do cụ cố bạn để lại riêng cho bố bạn. Chính vì vậy, nên chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

1. Trường hợp mảnh đất đó là tài sản riêng của bố bạn do cụ cố để lại cho bố bạn và bố bạn không đồng ý nhập tài sản đó vào tài sản chung của 2 vợ chồng với mẹ bạn.

- Nếu bố bạn lập di chúc và di chúc bố bạn lập trong thời gian còn sống là hợp pháp theo quy định của pháp luật thì quyền thừa kế đối với phần di sản do bố bạn để lại sẽ tuân theo nội dung di chúc của bố bạn.

Tuy nhiên, nếu như những người như bạn không nằm trong nội dung di chúc được hưởng phần di sản thừa kế thì trong bạn vẫn có thể được hưởng phần thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc bằng 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật nếu như bạn mất khả năng lao động. Ngược lại, nếu bố bạn viết di chúc chỉ để lại phần di sản cho bạn thì dì bạn vẫn sẽ được hưởng suất thừa kế bằng 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc của bố bạn để lại nếu như bố bạn và dì đã đăng ký kết hôn theo quy định của Bộ luật dân sự 2005.

Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.

- Nếu như bố bạn không lập di chúc thì khi bố bạn chết di sản của ông (toàn bộ mảnh đất) sẽ được chia theo pháp luật theo điều 676 bộ luật dân sự 2005 :

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Trường hợp người con gái của dì bạn là con chung của bố bạn với dì bạn thì người con gái đó vẫn được hưởng phần di sản thừa kế bình thường như bạn và dì bạn. Còn nếu đó là con riêng của dì bạn nếu bố bạn chăm sóc nuôi dưỡng như cha con thì theo quy định tại điều 679 bộ luật dân sư 2005 thì người con gái đó vẫn có quyền được hưởng thừa kế giống như bạn và dì bạn.

Điều 679. Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế

Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 của Bộ luật này.

2. Nếu mảnh đất đó là tài sản chung của bố mẹ bạn ?

Tương tự như trên đã phân tích nhưng phần di sản thừa kế của bố bạn để lại sẽ chỉ là 1/2 mảnh đất cộng với phần di sản bố bạn được thừa kế từ di sản thừa kế của mẹ bạn để lại (1/4 mảnh đất) chứ không phải là toàn bộ mảnh đất như trường hợp ở trên.

Như vậy, bạn nên căn cứ vào tình hình thực tế xem bố bạn có thực hiện việc lập di chúc hay không, mảnh đất đó là tài sản chung hay tài sản riêng của bố mẹ bạn cũng như các quy định về thừa kế theo pháp luật ở trên để có thể có câu trả lời chính xác nhất đối với phần di sản của bố bạn để lại.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ emailTư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Chia thừa kế khi một bên vợ hoặc chồng chết ? Sống vô trách nhiệm với Cha Mẹ già có được thừa kế

5. Phân chia tài sản thừa kế trong trường hợp có hai vợ ?

Xin chào Luật Minh Khuê, Tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Ông nội tôi có 2 đời vợ: vợ lớn có 4 người con, vợ 2 có 10 người con. Tài sản đang tranh chấp: 1 ngôi nhà của ông nội tôi. (Ông nội tôi và 2 người vợ đều đã qua đời & không có di chúc).
Tôi muốn hỏi:
Trong trường hợp nếu bán ngôi nhà đó, thì việc phân chia tài sản sẽ như thế nào? Theo như tôi tìm hiểu, giá trị ngôi nhà đó sẽ chia làm 2 phần: A và B. Phần A: sẽ chia cho 4 người con dòng lớn. Phần B: sẽ chia cho 10 người con dòng sau & 4 người con dòng lớn. Tôi muốn hỏi thêm: Vì 4 người con dòng lớn có công sức chăm lo và xây dựng ngôi nhà khang trang (con dòng nhỏ không cư trú từ nhỏ đến lớn), nên có thể chia tài sản đó theo tỷ lệ 6/4 được hay không? (dòng lớn 6, dòng nhỏ 4). Ngoài ra, trong trường hợp nếu chia tài sản đó làm 5 phần thì có được không? (Dòng lớn 4 phần, 10 người con dòng nhỏ 1 phần. Vì thực tế những người con dòng nhỏ không góp công sức vào việc xây dựng ngôi nhà).
Xin cho tôi ý kiến. Chân thành cám ơn.
Người gửi: N.T.M

Phân chia tài sản thừa kế trong trường hợp có hai vợ ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về thừa kế tài sản trực tuyến gọi:1900.6162

Trả lời:

Điều 675 khoản 1 điểm a Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau:

Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc

Trường hợp của bạn, ông nội bạn qua đời không để lại di chúc nên sẽ thuộc trường hợp phân chia tài sản thừa kế theo pháp luật.

Điều 676 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Điều 641 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

Điều 641. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm

Trong trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước (sau đây gọi là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 677 của Bộ luật này.

Trước hết, cần xác định vợ hợp pháp của ông nội bạn vào thời điểm mở thừa kế (lúc ông nội bạn qua đời) là người đã đăng ký kết hôn với ông nội bạn, được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình 2014 hoặc Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình.

Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 9. Đăng ký kết hôn
1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.
2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.

Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình quy định:

Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình.

a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng;

c) Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Đối với người vợ không hợp pháp thì người vợ này có quyền yêu cầu tòa án xác định quyền lợi của người đó đối với nhà đất này. Khi giải quyết tranh chấp, tòa án có thể tính đến công sức, tiền bạc do người vợ đó đóng góp vào việc hình thành tài sản (ví dụ: tiền góp mua chung đất, tiền xây nhà, tiền và công sức cải tạo nhà đất trong thời gian chung sống...). Phần tài sản của người vợ không hợp pháp được chia đều cho các con của người vợ này.

Căn cứ vào quy định tại điều 641 và điều 676 Bộ luật dân sự 2005, xét hai trường hợp:

Trường hợp 1: Vợ hợp pháp của ông nội bạn chết sau thời điểm mở thừa kế (thời điểm ông nội bạn qua đời)

Tài sản của ông nội bạn là ngôi nhà sau khi trừ đi phần quyền lợi của người vợ không hợp pháp thì được chia đều cho người vợ hợp pháp và 14 người con; người vợ hợp pháp đã chết không để lại di chúc thì phần di sản của người vợ hợp pháp được chia đều cho các con của người vợ này (thừa kế theo pháp luật).

Trường hợp 2: Vợ hợp pháp của ông nội bạn chết trước hoặc cùng thời điểm ông nội bạn chết

Trong trường hợp này, các con của ông nội bạn (không phân biệt dòng lớn hay dòng nhỏ) đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng phần di sản bằng nhau; tức là tài sản thừa kế (ngôi nhà sau khi trừ đi phần quyền lợi của người vợ không hợp pháp) được chia đều cho 14 người con của ông nội bạn.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Cách lập biên bản phân chia thừa kế hợp pháp ? Cách giải quyết tranh chấp tài sản thừa kế ?