1. Cách xác lập di chúc định đoạt khối tài sản chung ?

Thưa luật sư, Tôi có một số thắc mắc: Ông ngoại tôi đã huy sinh trong chiến tranh chống Mỹ nay thì chỉ còn bà ngoại tôi. Bà ngoại tôi có 2 đứa con: cậu tôi và má tôi. Bà ngoại tôi có một miếng đất (đất hộ gia đình,nguồn gốc đất được hình thành sau khi ông tôi mất,700m2) được cấp sổ đỏ năm 1992, nay bà ngoại tôi muốn chuyển nhượng toàn bộ số đất đó cho má tôi! nhưng cậu tôi thì không chấp nhận nên không ký tên (cậu tôi từ trước tới giờ không ở chung với ngoại tôi,do có đất riêng, không có tên tr.
Vì lý do cậu tôi không chấp nhận không chịu ký tên nên không làm thủ tục chuyển nhượng cho má tôi được. Nay bà ngoại tôi muốn làm di chúc để lại miếng đất đó cho má tôi. Không biết làm như vậy thì có hợp pháp hay không? nếu sau nay bà ngoại tôi mất xảy ra tranh chấp thì cậu tôi có được hưởng một phần nao hay ko? Nguyện vọng của bà ngoại tôi là muốn chuyển nhượn miếng đất đó cho má tôi ?
Xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: minhvuong le

Trả lời:

Chào bạn! Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Câu hỏi của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

Trước tiên, bạn cần phải chứng thực nguồn gốc đất được hình thành không phải phần tài sản chung giữa ông bà ngoại của bạn. Vì nếu nguồn gốc đất được hình thành có phần tài sản của ông bạn, thì sau khi ông bạn mất, cậu của bạn cũng có thể có một phần quyền tài sản trong mảnh đất trên. Vì vậy, bạn cần chứng minh nguồn gốc đất được hình thành là phần tài sản của bà ngoại bạn sau khi chia tài sản thừa kế do ông bạn để lại.

Theo quy định của Bộ Luật Dân sự, bà của bạn là chủ sở hữu đất có đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo điều 113 Luật đất đai:

- Các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật Đất đai;

- Chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân khác;

- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trừ trường hợp chuyển nhượng có điều kiện theo quy định của Chính phủ;

- Cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam thuê quyền sử dụng đất;

- Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.

- Tặng cho quyền sử dụng đất;

- Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh;

- Góp vốn bằng quyền sử dụng đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài để hợp tác sản xuất, kinh doanh.

Cậu của bạn không có quyền gì với mảnh đất này. Bà của bạn hoàn toàn có thể chuyển quyền sở hữu, tặng cho hay để thừa kế quyền sử dụng đất cho mẹ bạn theo quy định của pháp luật.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Dịch vụ tư vấn đăng ký thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất;

>> Xem thêm:  Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung vợ chồng là khi nào ? Di chúc miệng có hiệu lực không ?

2. Hướng dẫn thủ tục ly hôn và chia tài sản chung ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em và chồng em cưới nhau từ năm 2011, đến nay 2015 vợ chồng em muốn li hôn. Em cần làm thủ tục hay mẫu đơn gì? và gửi ở đâu? Chúng em không có con. có đất cha mẹ chồng mới cho đứng tên 2 vợ chồng (vậy có đc xem là tài sản chung không vậy).Cưới nhau từ 2011 đến 2013 chúng em ở chung ba mẹ chồng. từ 2013 đến nay vợ chồng em ở trọ. (em đã về nhà mẹ ruột em sống được gần 2 tháng)nguyên nhân li hôn: bất đồng quan điểm sông, thường xuyên tranh cãi, không hạnh phúc) ?
Xin tư vấn giúp em, em xin cảm ơn!

Hướng dẫn thủ tục ly hôn và chia tài sản chung ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

2.1 Về xác định và chia tài sản chung:

Theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội thì:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Theo như quy định trên, đối với tài sản được tặng cho chung trong thời kỳ hôn nhân thì được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Như vậy, khi ly hôn, tài sản này sẽ được chia đôi, tuy nhiên còn dựa trên một số yếu tố được quy định tại khoản 2 Điều 59 như sau:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Như vậy, trong trường hợp này, bạn và chồng bạn có thể thỏa thuận với nhau về việc phân chia tài sản, nếu không thể thỏa thuận thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

2.2 Về thủ tục ly hôn:

Theo đó bạn chuẩn bị hồ sơ ly hôn bao gồm các giấy tờ sau:

- Đơn xin ly hôn thuận tình;

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản chính;

- CMND của vợ và chồng (bản sao có chứng thực)

- Sổ hộ khẩu (bản sao có chứng thực)

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất

Bạn nộp hồ sơ ly hôn tại Tòa án nhân dân quận (huyện) nơi vợ hoặc chồng bạn đang cư trú để giải quyết.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Xác định tài sản chung và chia tài sản chung khi ly hôn ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

3. Hướng dẫn giải quyết tranh chấp sở hữu chung nhà đất ?

Chị em bà T. gồm bốn người: ba gái, một trai. Sinh thời, cha mẹ họ tạo lập được một căn nhà tại TP Biên Hòa, Đồng Nai. Mẹ họ mất năm 1987, cha họ mất năm 1992 và đều không để lại di chúc. Sau khi người em trai qua đời năm 1995, vợ em trai (tức em dâu bà T.) tiếp tục quản lý tài sản.

Không được phân định rạch ròi nên người thắng kiện khó có giấy chủ quyền.

Từ chối chia tài sản chung

Tháng 4-2008, chị em bà T. nộp đơn kiện em dâu ra tòa để đòi chia căn nhà vì cho rằng đây là di sản do cha mẹ để lại. Theo họ, do thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đã hết nên di sản của cha mẹ trở thành tài sản chung của các đồng thừa kế.

Dù thừa nhận căn nhà do cha mẹ chồng tạo dựng nhưng, người em dâu không đồng ý chia tài sản. Bà cho biết sau khi chồng mất, mẹ con bà vẫn tiếp tục quản lý, căn nhà. Trong quá trình sử dụng, mẹ con bà đã sửa chữa gần như toàn bộ căn nhà. Năm 2000, ba người chị chồng đã ký cam kết giao nhà cho bà quản lý sử dụng và đăng ký kê khai quyền sử dụng đất.

Ba người chị chồng phản đối lập luận của em dâu. Theo họ, bản cam kết ký năm 2000 chỉ thể hiện người em dâu được đứng tên đăng ký kê khai quyền sử dụng nhà chứ không giao em dâu quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt căn nhà.

Năm 2007, họ từng ngăn cản gia đình em dâu sa chữa nhà. Dưới sự điều hành của cán bộ xây dựng phường, gia đình em dâu chấp nhận giải pháp được tiếp tục xây nhà nhưng không thay đổi hiện trạng nhà. Nếu sau này có phân chia tài sản gia tộc, gia đình em dâu phải tự chịu chi phí sửa chữa.

Sơ thẩm vụ án vào tháng 4-2009, TAND TP Biên Hòa viện dẫn Nghị quyết số 02 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao để bác đơn kiện chia tài sản chung. Theo cấp sơ thẩm, nguyên đơn không xuất trình được văn bản mà các đồng thừa kế xác nhận không có tranh chấp và thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia.

Tại phiên xử phúc thẩm hồi tháng 8-2009, TAND tỉnh Đồng Nai cũng từ chối chia tài sản. Cấp phúc thẩm cho rằng giấy xác nhận của các đồng thừa kế rằng tài sản chung chưa chia chỉ có chữ ký của ba người chị chồng. Người em dâu ký không thừa nhận, không ký vào tờ xác nhận này.

Tài sản chung

Luật sư Nguyễn Đình Hùng (Đoàn luật sư TP.HCM) cho biết chỉ cần một đồng thừa kế không thừa nhận tài sản tranh chấp là di sản chưa chia là tòa án sẽ bác ngay đơn kiện. Việc từ chối chia tài sản chung của tòa án trong trường hợp này tuy phù hợp với Nghị quyết 02 nhưng lại phát sinh nhiều mắc mứu trên thực tế.

Khi tuyên án, các cấp tòa chỉ bác đơn kiện chia tài sản chung chứ không phân định tài sản tranh chấp thuộc về ai. Về nguyên tắc, tài sản của người chết là di sản, là tài sản chung của các đồng thừa kế. Dù tòa án có bác đơn kiện chia tài sản chung thì tài sản đó vẫn là tài sản chung của các đồng thừa kế. Nghịch lý phát sinh vì người đang nắm giữ tài sản tiếp tục chiếm quyền quản lý, sử dụng tài sản vượt quá phần quyền của mình. Trong khi đó, các đồng thừa kế khác chỉ nắm giữ “quyền ảo” đối với tài sản mà họ là đồng sở hữu.

Dưới góc độ hành chính, người đang chiếm giữ tài sản cũng không được cấp giấy chủ quyền vì họ chưa có quyền định đoạt đối với toàn bộ tài sản chung. Từ đó, quyền năng của họ đối với tài sản cũng bị hạn chế. Ví dụ đơn giản là họ không thể đem nhà đi cho thuê chỉ vì căn nhà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu.

“Bị đơn thường không thừa nhận di sản là tài sản chung để đem chia cho các đồng thừa kế. Việc tòa án nương theo ý kiến phản đối của bị đơn để từ chối chia tài sản đã vô tình khoét sâu tranh chấp, làm sứt mẻ tình cảm gia đình” – luật sư Nguyễn Đình Hùng phân tích thêm.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

4. Nguyên tắc suy đoán tài sản chung theo luật ?

Quan hệ tài sản giữa vợ chồng, hay chính xác hơn là chế độ pháp lý về tài sản giữa vợ chồng là lĩnh vực thường xảy ra nhiều tranh chấp trong thực tiễn, nên cần phải có một cơ chế pháp lý hoàn chỉnh và phù hợp để giải quyết tốt những tranh chấp.

Vấn đề tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng là lĩnh vực luôn xảy ra nhiều tranh chấp trong thực tiễn, đặc biệt là khi vợ chồng phát sinh các mâu thuẫn. Một nguyên tắc góp phần giải quyết tốt các tranh chấp này được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (nguyên tắc này chưa có trong các Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986), đó là nguyên tắc suy đoán tài sản chung

Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HNGĐ) năm 2000 cũng như Luật HNGĐ năm 1986 của Việt Nam thừa nhận sự cùng tồn tại của ba khối tài sản trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng: tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ và tài sản riêng của chồng. Trong đó, khối tài sản chung của vợ chồng được người làm luật dành nhiều sự quan tâm, bảo vệ; một trong những công cụ hữu hiệu để bảo vệ khối tài sản chung (người viết tạm đặt tên) lànguyên tắc suy đoán tài sản chung quy định Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng thì nó sẽ được suy đoán là tài sản chung. Vấn đề xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được quy định tương đối cụ thể trong Luật HNGĐ, tuy nhiên, trong thực tiễn, một khi đời sống chung giữa vợ chồng càng kéo dài thì các tài sản sẽ có xu hướng không thể tránh khỏi là lẫn lộn với nhau, đặc biệt khi vợ chồng xác lập nhiều các giao dịch liên quan đến tài sản. Do đó, không phải lúc nào nguồn gốc của tài sản cũng có thể xác định được theo các quy định về việc xác định tài sản chung (Điều 27) và tài sản riêng (Điều 32). Trong bối cảnh đó, quy định về việc suy đoán tài sản chung mà người làm luật đặt ra trong khoản 3 Điều 27 có ý nghĩa như một nguyên tắc có tính chất định hướng trong việc giải quyết các tranh chấp giữa vợ chồng với nhau về nguồn gốc tài sản. Tuy nhiên, với tư cách là một nguyên tắc suy đoán, tác dụng của nguyên tắc này chỉ dừng lại ở chỗ thiết lập một sự suy đoán, không có ý nghĩa khẳng định chắc chắn tất cả tài sản trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng. Mặt khác, nguyên tắc này còn có ý nghĩa như một trở ngại không những đối với vợ, chồng trong việc chứng minh tài sản là của riêng, mà còn là trở ngại đối với người thứ ba, cụ thể là các chủ nợ riêng của vợ, chồng (các chủ nợ chỉ được đảm bảo thanh toán bằng tài sản riêng) trong việc yêu cầu kê biên tài sản riêng. Các chủ nợ riêng này muốn kê biên tài sản riêng của vợ, chồng mắc nợ, buộc phải chứng minh tài sản mà họ yêu cầu kê biên là tài sản riêng của người mắc nợ.

.Tư vấn Xác lập di chúc định đoạt khối tài sản chung có hợp pháp không

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Nếu việc suy đoán tài sản chung chỉ được ghi nhận một cách đơn giản trong Luật HNGĐ Việt Nam thì trong luật Dân sự Pháp, vấn đề này lại được quy định chi tiết tại Điều 1402: "mọi tài sản, dù là động sản hay bất động sản, đều được coi là tài sản chung của vợ chồng, nếu không chứng minh được đó là tài sản riêng của vợ hoặc của chồng theo quy định của pháp luật"; "nếu không có chứng cứ hoặc dấu vết về nguồn gốc của tài sản thì khi có tranh chấp, quyền sở hữu riêng của vợ chồng phải được chứng minh bằng văn bản. Trường hợp không có bản kiểm kê tài sản hoặc không có chứng cứ nào được xác lập từ trước, thẩm phán có thể xem xét mọi loại giấy tờ, đặc biệt là các loại giấy tờ, sổ sách của gia đình cũng như các tài liệu của ngân hàng và các hoá đơn thanh toán. Thẩm phán cũng có thể chấp nhận lời khai của nhân chứng hoặc suy đoán nếu nhận thấy vợ, chồng không có khả năng cung cấp chứng cứ bằng văn bản"[1].

2. Điểm chung đầu tiên có thể thấy trong quy định của luật Việt Nam và luật của Pháp, đó là sự suy đoán pháp lý về nguồn gốc của tài sản. Khoản 3 điều 27 Luật HNGĐ quy định việc suy đoán này sẽ được áp dụng trong trường hợp có tranh chấp giữa vợ chồng về tài sản chung hay riêng, tức là một trong số vợ hoặc chồng cho rằng, một hoặc một số tài sản nào đó bất kỳ (cả động sản và bất động sản), tồn tại trong thời kỳ hôn nhân của họ, là tài sản riêng của người này. Luật Việt Nam không quy định đặc biệt gì về các loại bằng chứng được sử dụng để chứng minh trong tranh chấp, tuy nhiên, với cách quy định trên của luật, trong thực tiễn tất cả các loại bằng chứng đều có thể được chấp nhận, cả bằng chứng viết, lời khai của nhân chứng, hóa đơn, chứng từ và hẳn nhiên là cả sự thừa nhận của bên còn lại trong tranh chấp (nếu có).

Trong khi đó, các loại bằng chứng chứng minh trong luật của Pháp được liệt kê tương đối cụ thể. Có thể thấy, loại bằng chứng nặng ký đầu tiên, được thẩm phán chấp nhận đó là các bằng chứng viết (preuve écrite). Có thể hiểu bằng chứng viết được đề cập trong quy định này là các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu riêng của vợ hoặc chồng với tài sản đang tranh chấp, biên bản kiểm kê tài sản (loại bằng chứng thứ hai này được ghi nhận một cách chính thức trong luật Pháp nhưng có vẻ chưa được thừa nhận chính thức trong luật Việt Nam).

Nguyên nhân của sự khác biệt trong quy định giữa luật Việt Nam và luật của PhápN, là từ thời điểm Luật HNGĐ năm 2000 ban hành, nhà làm luật Việt Nam đã quy định tại khoản 2 Điều 27: "nếu một tài sản chung của vợ chồng buộc phải đăng ký quyền sở hữu thì trên giấy chứng nhận quyền sở hữu sẽ phải ghi tên của cả hai vợ chồng". Quy định này được hướng dẫn thêm bởi Nghị định 70/CP (2001) hướng dẫn thi hành Luật HNGĐ năm 2000 và Nghị quyết số 02/HĐTP -TANDTC ban hành ngày 23/12/2000. Cụ thể, theo hướng dẫn của nghị quyết nêu trên, thì trong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta chưa thể đồng loạt áp dụng quy định này một cách triệt để, thì mặc dù giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản chỉ ghi tên một người, vợ hoặc chồng, tài sản đó vẫn được xem là tài sản chung của vợ chồng (điểm 3b Nghị quyết). Hướng dẫn này đưa ra nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ hôn nhân trong bối cảnh hiện nay, khi mà chỉ có một số tài sản có giá trị lớn và theo quy định của luật buộc phải đăng ký quyền sở hữu thì trên giấy chứng nhận quyền sở hữu mới được ghi tên của cả hai vợ chồng.

Sau khi Tòa án nhân dân tối cao đưa ra hướng dẫn trên thì đến năm 2001, Chính phủ ban hành Nghị định 70/CP hướng dẫn thi hành Luật HNGĐ năm 2000, quy định rằng: ôCác tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng khi đăng ký quyền sở hữu phải ghi tên của vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Luật HNGĐ năm 2000 bao gồm: nhà ở, quyền sử dụng đất và những tài sản khác mà pháp luật buộc phải đăng ký quyền sở hữu (khoản 1 Điều 5); và Việc đăng ký các tài sản, quyền tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng phải ghi tên của cả vợ và chồng được thực hiện từ ngày Nghị định này có hiệu lực.

Như vậy, các quy định hiện nay thể hiện, giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, giấy đăng ký tài sản hay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ là loại bằng chứng có giá trị pháp lý cao nhất trong việc chứng minh tài sản là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của một trong hai bên. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, các quy định của Nghị định 70/CP vẫn chưa được áp dung một cách đồng bộ và hiệu quả, và do đó, hướng dẫn của Nghị quyết số 02/HĐTP -TANDTC vẫn tiếp tục được sử dụng với đầy đủ ý nghĩa ban đầu của nó, điều này nói lên rằng, giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam không được xem là loại bằng chứng có giá trị pháp lý cao nhất để chứng minh việc tài sản tranh chấp là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng. Do vậy, trong việc chứng minh nguồn gốc tài sản bằng việc áp dụng nguyên tắc suy đoán tài sản chung, các thẩm phán chấp nhận một cách rộng rãi tất cả các loại bằng chứng có thể có một cách hợp pháp.

Trong khi đó, trong luật của Pháp, việc ghi nhận một cách đồng bộ quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản đã đem lại cho loại bằng chứng này giá trị chứng cứ, có thể nói là khá chắc chắn, được chấp nhận trong thủ tục chứng minh tài sản riêng của vợ, chồng. Như vậy, việc chấp nhận một cách rộng rãi các loại chứng cứ chứng minh trong luật Việt Nam đã tạo ra cho các bên vợ, chồng nhiều thuận lợi trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, đặc biệt trong bối cảnh các loại tài sản có xu hướng lẫn lộn vào nhau.

3. Về lâu dài, để có thể bảo vệ một cách tốt hơn quyền của chủ sở hữu tài sản riêng, các quy định của luật về việc ghi tên chủ sở hữu và các quy định hướng dẫn của Nghị định 70/CP, nên được tạo cơ sở thực tiễn cho việc thực hiện. Cụ thể là triệt để áp dụng việc ghi tên chung cho các giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản chung, và từng bước tiến hành việc đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản chung. Thực hiện tốt điều này sẽ làm giảm gánh nặng cho thẩm phán trong việc xem xét và đánh giá chứng cứ, đồng thời cũng làm đơn giản hoá công việc của vợ, chồng trong việc truy tìm các chứng cứ chứng minh.

Có thể khẳng định là giải pháp về ghi tên cả hai chủ sở hữu trong trường hợp tài sản là tài sản chung của vợ chồng sẽ không làm vô hiệu hoá nguyên tắc suy đoán tài sản chung được ghi nhận trong Luật HNGĐ năm 2000. Khẳng định này trước tiên được rút ra từ thực tiễn áp dụng của luật dân sự Pháp. Bên cạnh đó, có thể thấy, trong các gia đình Việt Nam, các tài sản thuộc loại phải đăng ký quyền sở hữu chưa nhiều mà chủ yếu vẫn là các tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu. Do đó, việc ghi tên chủ sở hữu là cả vợ, chồng sẽ không thể thực hiện được một cách đồng bộ, vì vậy, nguyên tắc suy đoán tài sản chung sẽ vẫn còn nguyên giá trị áp dụng trong thực tiễn. Hay có thể nói, giá trị thực tiễn của nguyên tắc này dẫn đến một hệ quả là việc cấp, đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản ghi tên chung của vợ chồng là chưa thực sự cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

Tóm lại, để góp phần giải quyết tốt các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng, nguyên tắc suy đoán tài sản chung được đặt ra như một công cụ pháp lý hữu hiệu trong luật Việt Nam cũng như trong luật của Pháp. Để có thể phát huy hết vai trò của mình trong thực tiễn, đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hiện nay, nguyên tắc này cần có một cơ chế pháp lý đảm bảo thực hiện phù hợp hơn trong thực tiễn.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Tư vấn thủ tục khởi kiện vụ án dân sự - hôn nhân - gia đình;

>> Xem thêm:  Vợ ở nhà chăm con, không có thu nhập thì phân chia tài sản chung khi ly hôn giải quyết như thế nào ?

5. Quy định của pháp luật về tài sản chung của vợ chồng ?

Quy định của pháp luật Hôn nhân gia đình về tài sản chung của vợ chồng 1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.

Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn lập, viết, soạn thảo di chúc và quy định về di chúc trực tuyến qua tổng đài