Hợp đồng 3 từ 10/4/2014-10/4/2016 công ty TNHH thời hạn 2 năm.

Hợp đồng 4 từ 1/9/2016 – 31/8/2018 công ty chuyển đổi CP thời hạn 2 năm

Hợp đồng 5 từ 1/9/2018 – 1/9/2019 công ty CP thời hạn 1 năm

Trong các hợp đồng công ty có ràng buộc sinh con lần 1 ít nhất có 3 năm công tác tại đơn vị, con thứ 2 phải cách con thứ 1 tối thiểu 03 năm, Nghỉ thai sản lần 1: 1/2018 - 7/2018. Tháng 12/2018 công ty biết tôi có con thứ 2, đến tháng 9/2018 mới chính thức kí hợp đồng lần 5 nhưng lần này công ty chỉ ký thời hạn có 1 năm, cho tôi hỏi như vậy công ty có ký hợp đồng sai luật không?

Đặc biệt trong hợp đồng lần này công ty có ký thêm thỏa thuận nếu trong thời gian hợp đồng mà phát hiện vi phạm về thai sản sẽ chính thức chấm dứt hợp đồng, Tôi đã liên lạc với công ty và công ty trả lời là thỏa thuận này sẽ có hiệu lực nếu tôi vi phạm thai sản lần 3, có nghĩa là sau khi sinh con lần 2 này mà tôi vi phạm có con nữa thì mới có hiệu lực. Và việc có tiếp tục hợp đồng lao động không thì còn tùy tình hình. Và ngày sinh của tôi là ngày 20/3 và được duyệt đơn nghỉ thai sản lần 2 từ ngày 20/3/2019 - 19/9/2019 (sau thời gian kết thúc hợp đồng lao động lần 5). Cho tôi hỏi nếu sau khi nghỉ thai sản xong (20/9/2019) công ty có được quyền chấm dứt HĐLĐ với tôi không?

Mong nhận được câu trả lời, Trân trọng cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Bảo hiểm xã hội của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Bảo hiểm xã hội, gọi: 1900.6162

Luật sư trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật lao động năm 2012;

2. Nội dung tư vấn:

2.1. Công ty ký hợp đồng đúng hay sai?

Theo quy định của Bộ Luật lao động năm 2012, có ba loại hợp đồng lao động là:

- Hợp đồng không xác định thời gian;

- Hợp đồng có thời hạn dưới 03 năm;

- Hợp đồng theo mùa vụ hoặc có thời hạn dưới 12 tháng.

Doanh nghiệp có nghĩa vụ giao kết hợp đồng với người lao động sau khi đã thử việc đạt. Lần đầu tiên, khi doanh nghiệp ký kết hợp đồng lao động có thời hạn thì lần sau, doanh nghiệp có thể tiếp tục ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Nếu lần hai là hợp đồng lao động xác định thời hạn thì đến lần thứ ba, doanh nghiệp còn tiếp tục sử dụng người lao động thì phải giao kết hợp đồng không xác định thời hạn. Điều này được quy định cụ thể tại Điều 22 Bộ Luật Lao động năm 2012 như sau:

"Điều 22. Loại hợp đồng lao động

.........................

2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

3. Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác."

Công ty nơi quý khách làm việc có sự thay đổi loại hình doanh nghiệp từ công ty trách nhiệm hữu hạn sang công ty cổ phần. Nên về pháp lý, quý khách làm việc tại hai công ty khác nhau. Và mỗi công ty đều có thể ký kết tối đa hai hợp đồng xác định thời hạn với quý khách. Chính vì vậy, công ty cổ phần ký kết hai hợp đồng xác định thời hạn với quý khách là có căn cứ pháp luật. Song công ty cổ phần lại ký kết hợp đồng lần hai (quý khách gọi đó là hợp đồng 5) sau 02 tháng (sau 60 ngày) kể từ khi hết thời hạn của hợp đồng lần 1 (hợp đồng 4) dưới hình thức là hợp đồng xác định thời hạn là trái quy định pháp luật. Bởi sau khi chấm dứt hợp đồng lần 01 (hợp đồng từ 01/01/2014 đến 01/01/2016), công ty có thời hạn 30 ngày để giao kết hợp đồng với quý khách. Nếu không giao kết trong thời gian đó mà vẫn tiếp tục sử dụng quý khách thì hợp đồng của quý khách sẽ chuyển thành hợp đồng không xác định thời hạn. Điều này có nghĩa là công ty của quý khách đã vi phạm về loại hợp đồng khi giao kết lần 2.

2.2. Công ty có quyền chấm dứt hợp đồng sau khi nghỉ thai sản không?

Sau khi nghỉ 06 tháng thai sản, quý khách vẫn đang trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Trong thời gian đó, công ty không được xử lý kỷ luật sa thải, không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Điều này có nghĩa là công ty không thể áp dụng hình thức xử lý kỷ luật với quý khách trong thời gian quý khách nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi., không thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu không đưa ra được một trong những lý do quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động năm 2012:

"Điều 155. Bảo vệ thai sản đối với lao động nữ...

3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động."

"Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này."

Như vậy, công ty vẫn có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao đông với quý khách nếu quý khách thuộc một trong các trường hợp thuộc khoản 1 Điều 38 Bộ Luật lao động năm 2012.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Bảo hiểm thai sản - Công ty luật Minh Khuê