1. Quyền và nghĩa vụ của các bên khi chấm dứt hợp đồng lao động ?

Kính gửi Luật sư Công ty Luật Minh Khuê Tên tôi là: Phan Thị M.N sinh năm 1978 Tôi có một câu hỏi sau muốn nhờ Công ty tư vấn giúp:
Tôi đã làm việc tại công ty CP Thời trang S.A từ tháng 12/2012 và ký hợp đồng LĐ chính thức từ tháng 01/2013 đến nay.
- Trong thời gian làm viêc tôi đã hoàn thành tốt công việc được giao và được tin dùng làm thêm các công việc khác. Tôi được ký HĐLĐ với mức lương cứng (3.5 triệu đồng để làm công việc May sửa đồ và được trả thêm lương sản phẩm khi có thời gian và khi đã hoàn thành công việc chính là sửa chữa đồ cho khách.
- Trong số sản phẩm làm thêm có quy định ra làm hai loại : Đồ kiểu và quần áo dài. với giá như sau: quần 10.000 đồng/ chiếc. Đồ kiểu: 50.000 đồng/1 chiếc. Quy định này được thực hiện từ tháng 9/2014. - Từ đó tới nay, tôi vẫn hoàn thành công việc chính và làm thêm được nhiều sản phẩm và hưởng lương như vậy đến tháng 3/2016. Tháng 4/2016, chủ sử dụng lao động của tôi là bà Lê Thị L. H đã không công nhận giá sản phẩm như vậy cho một chiếc quần âu là 50.000đồng và yêu cầu tôi chấp nhận với giá là 10.000 nếu không chấp nhận thì nghỉ việc.
- Tôi không chấp nhận với giá sản phẩm như vậy, và bà đã ra nhiều lý do và quyết định cho tôi nghỉ việc, chấm dứt hợp đồng với tôi (Có Thông báo đính kèm).
- Với trường hợp này, khi bà chấm dứt hợp đồng với tôi là người lao động như tôi sẽ được hưởng quyền lợi như thế nào và trách nhiệm của đơn vị sử dụng lao động sẽ ra sao?* Tôi đã không đồng ý với việc đó và bà đã mời luật sư đến làm việc với tôi. Tuy nhiên trong buổi làm việc trên tôi vẫn chưa nhận được câu trả lời cụ thể về trách nhiệm của chủ sử dụng LĐ đối với tôi là như thế nào. Tôi đã ghi âm lại buổi làm việc và mong công ty sẽ cho lời tư vấn để NLĐ như tôi đảm bảo trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi khi mất việc làm ?
Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

>> Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi thắc mắc về cho chúng tôi. Căn cứ điều 36 Bộ luật lao động năm 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021) quy định các trường hợp NSD LĐ được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

"Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trlên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

2. Khi đơn phương chấm dứt hp đồng lao động trong trưng hợp quy đnh tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác đnh thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động".

Trong trường hợp của bạn, bà L.H đã chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, khi mà đã thay đổi mức giá sản phẩm và đưa ra các lý do để đuổi việc bạn. Theo quy định của tại Điều 41 Bộ luật lao động năm 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021) thì các quyền lợi chị được hưởng như sau:

- Phải nhận người lao động trlại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

- Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trtrợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

- Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

Để có thể đảm bảo các quyền lợi của mình, bạn có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân lên Hòa giải viên lao động hoặc Tòa án theo quy định tại Điều 190 Bộ luật lao động năm 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021), cụ thể như sau:

"Điều 190. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

2. Thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

3. Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

4. Trường hợp người yêu cầu chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật mà không thể yêu cầu đúng thời hạn quy định tại Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân".

>> Xem thêm:  Hậu quả pháp lý khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ? Mức bồi thường

2. Nghĩa vụ bồi thường khi chấm dứt hợp đồng lao động trái luật ?

Thưa luật sư, Hiện nay tôi đang làm việc cho một công ty với thời gian của hợp đồng là không xác định thời hạn; do không muốn sử dụng tôi làm việc nên công ty đã gửi văn bản là đưa ra lý do công ty đang khó khăn nên thông báo chấm dứt hợp đồng lao động. Vậy trường hợp này có phải công ty chấm dứt sai luật không? mức bồi thường khi chấm dứt sai luật là bao nhiêu?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo quy định của Bộ luật lao động thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao đông khi có một trong các căn cứ quy định tại Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021), cụ thể như sau:

"Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trlên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động".

Trong quy định của Bộ luật lao động thì người sử dụng lao động chỉ có thể chấm dứt hợp đồng lao động sau khi đã áp dụng mọi biện pháp để khắc phục khó khăn của thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng như: do địch họa, dịch bệnh; di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà vẫn phải giảm chỗ làm, thu hẹp sản xuất.

Theo thông tin tiếp nhận thì lý do mà công ty đưa ra với bạn để chấm dứt hợp đồng là do công ty đang khó khăn, tuy nhiên công ty không trình bày cụ thể khó khăn là gì? nguyên nhân của khó khăn là gì? vì vậy chưa đủ cơ sở để chấm dứt hợp đồng đơn phương.

Ngoài ra, để chấm dứt hợp đồng lao động đơn phương với người lao động thì công ty cũng cần phải thực hiện việc thông báo chấm dứt hợp đồng trước một khoảng thời gian hợp lý mà theo Bộ luật lao động là 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Việc này công ty cũng thực hiện không đúng pháp luật.

Từ những lý do trên có thể suy ra, việc công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là không đúng với quy định pháp luật.

Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật thì công ty có trách nhiệm được quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động năm 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021), cụ thể như sau:

"Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trlại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trtrợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động".

Đây là những nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, dựa vào đây bạn có thể thực hiện quyền yêu cầu của mình là yêu cầu công ty thực hiện đúng nghĩa vụ mà luật quy định.

Mọi thông tin vướng mắc mời khách hàng liên hệ tới tổng đài 1900.6162 để được hỗ trợ. Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Trường hợp nào thì được ký kết hợp đồng lao động mùa vụ ? Ký sai có bị xử phạt không ? Quy định ở đâu ?

3. Quy định mức bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật

Xin chào Luật Minh Khuê ! Tôi làm việc cho công ty nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam. Công ty có thông báo cho tôi nghỉ việc và yêu cầu tôi bàn giao công việc luôn trong ngày. Như vậy công ty đang chấm dứt hợp đồng trái pháp luật với tôi và đưa cho tôi thỏa thuận chấm dứt hợp đồng nhưng tôi không ký. Vậy tôi sẽ được bồi thường như thế nào?
Mong Luật sư tư vấn giúp !

Trả lời:

Các trường hợp người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao đồng với người lao động và phải báo trước cho người lao động theo đúng như quy định tại Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021), cụ thể như sau:

"Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trlên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

2. Khi đơn phương chấm dứt hp đồng lao động trong trưng hợp quy đnh tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác đnh thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động".

Như vậy, trong trường hợp này, công ty chấm dứt hợp đồng với bạn là do không có nhu cầu sử dụng lao động. Lý do này không thuộc một trong các trường hợp mà người sử dụng lao động được phép chấm dứt HĐLĐ theo khoản 1 Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021). Do đó, đây là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Nếu người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động trái với các quy định trên thì phải có nghĩa vụ như sau:

Theo Điều 41 Bộ Luật lao động 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021) quy định nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

"Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trlại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trtrợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động".

Điều 46 Bộ luật lao động năm 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021) quy định về trợ cấp thôi việc, cụ thể như sau:

"Điều 46. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.

4. Chính phquy định chi tiết Điều này".

Như vậy, trong trường hợp này khi công ty chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với bạn sẽ phải bồi thường theo các quy định trên.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi có cam kết làm việc lâu dài có trái luật ?

4. Quy định về thời gian báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Chào luật sư. Tôi có vấn đề muốn được luật sư hỗ trợ. Tôi ký kết với công ty hợp đồng không xác định thời hạn. Do nhiều lý do về gia đình và sức khỏe không cho phép nên tôi muốn chấm dứt hợp đồng lao động. Tôi có giấy báo cho công ty vào ngày 2/2/208, tôi chính thức nghỉ vào ngày 3/3/2018. Trường hợp này tôi có báo với công ty như vậy là đúng hay sai ạ ?
Cám ơn luật sư đã tư vấn giúp tôi.

Trả lời:

Căn cứ quy định của pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động quy định tại Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021), cụ thể như sau:

"Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động".

Căn cứ theo những thông tin mà bạn cung cấp, thì bạn kí kết với công ty hợp đồng lao động không xác định thời hạn, vậy trường hợp đơn phươn chấm dứt hợp đồng lao động bạn phải báo trước cho công ty trong thời hạn ít nhất là 45 ngày. Bạn viết đơn báo cáo cho công ty vào ngày 02/02/2018 và chính thức nghỉ việc 3/3/2018 vậy rõ ràng là bạn không thông báo cho người lao động trong thời hạn ít nhất là 45 ngày. Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của bạn là trái pháp luật.

"Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc.

2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này".

Căn cứ theo quy định trên tại Điều 40 của Bộ luật lao động năm 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021) trường hợp này cần có các trách nhiệm sau:

- Thứ nhất, không được trả trợ cấp thôi việc và bồi thường cho công ty nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

- Thứ hai, Bồi thường cho người sử dụng lao động 1 khoản tiền tương ứng tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

- Hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo điều 62 của bộ luật lao động năm cũ 2012.

5. Có được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu người lao động đang mang thai không?.

Chào luật sư Minh Khuê: Tôi ký hợp đồng lao động với công ty là hợp đồng lao động có xác định thời hạn (2 năm), dự kiến đến 4/2021 thì hết hạn hợp đồng. Tuy nhiên hiện tại em đang có thai nên công ty muốn chấm dứt hợp đồng lao động với em. Vậy công ty có được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn với tôi không?.

Trả lời.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 137 Bộ luật lao động năm 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021), quy định như sau:

"Điều 137. Bảo vệ thai sản

3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

Trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới".

Như vậy trong trường hợp bạn đang mang thai thì công ty sẽ không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao đông đối với bạn trừ trường hợp hợp đồng lao động giữa bạn và công ty có thỏa thuận riêng về việc trong thời gian thực hiện hợp đồng lao động thì bạn không được mang thai.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền của lao động nữ khi đang nuôi con nhỏ ?