1. Điều kiện xin giảm thời gian thử thách, xin giảm án ?

Xin chào luật sư, xin hỏi: Tôi muốn hỏi một vấn đề như sau. Khi chồng tôi học chuyên nghiệp, anh làm lớp trưởng và có đứng ra làm bằng tin học và ngoại ngữ cho các bạn cùng lớp qua trung tâm trên các tờ rơi và bị buộc tội và bị phạt 30 tháng tù giam nhưng được hưởng án treo với thời gian thử thách là 5 năm, tính từ ngày 21/03/2013.
Suốt thời gian qua chồng tôi luôn nghiêm túc chấp hành và chưa phạm thêm tội gì. Tôi đã tìm hiểu những câu trả lời của luật sư về vấn đề này. Nhưng tôi muốn hỏi cụ thể hơn cho trường hợp của chồng tôi. Chồng tôi cần đáp ứng những điều kiện gì để được giảm thời gian thử thách. Nếu được phép giảm thời gian thử thách thì được giảm bao nhiêu thời gian. Chúng tôi có thể xin giảm hết thời gian thử thách còn lại có được không ạ ?
Xin luật su tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC về hướng dẫn rút ngắn thời gian thử thách của án treo thì người hưởng án treo có thể được rút ngắn thời giản thử thách khi đảm bảo các điều kiện sau:

“Điều 4. Điều kiện và mức rút ngắn thời gian thử thách của án treo

1. Người được hưởng án treo có thể được Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực quyết định rút ngắn thời gian thử thách của án treo khi có đủ các điều kiện sau:

a) Đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách của án treo;

b) Có nhiều tiến bộ, được thể hiện bằng việc trong thời gian thử thách thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của người được hưởng án treo; chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế nơi làm việc; tích cực lao động, học tập và sửa chữa lỗi lầm; thực hiện đầy đủ các hình phạt bổ sung, nghĩa vụ khác theo quyết định của bản án;

c) Được Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát giáo dục người được hưởng án treo đề nghị rút ngắn thời gian thử thách bằng văn bản.”

Như trình bày của chị, chồng chị đã thực hiện được gần 3 năm thử thách tính đến thời điểm hiện tại, như vậy chồng chị đã thỏa mãn điều kiện theo điểm a khoản 1 Điều 4 Thông tư trên. Theo lời trình bày của chị thì chồng chị nghiêm túc chấp hành pháp luật và chưa phạm thêm tội gì trong thời gian thử thách vừa qua, do vậy mà có thể đáp ứng được điều kiện quy định tại điểm b. Để có thể có đủ điều kiện rút ngắn thời gian thử thách thì chồng chị phải xin Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao giám sát chồng chị trong thời gian thử thách văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách để gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc Tòa án quân sự khu vực nơi chồng chị bị kết án. Thực hiện được những yêu cầu trên thì chồng chị hoàn toàn đủ điều kiện để được rút ngắn thời gian thử thách.

Về thời gian có thể được rút ngắn, theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Thông tư trên có quy định "2. Người được hưởng án treo một năm chỉ được rút ngắn thời gian thử thách một lần từ một tháng đến một năm. Người được hưởng án treo có thể được rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thực tế chấp hành thời gian thử thách là ba phần tư thời gian thử thách Tòa án đã tuyên". Căn cứ lời trình bày của chị thì chồng chị đã chấp hành được ba phần năm thời gian thử thách (3 năm/ 5 năm), mà chiếu theo quy định trên thì việc rút ngắn thời gian thử thách phải đảm bảo thực tế chấp hành thời gian thử thách là ba phần tư thời gian thử thách tòa án tuyên. Như vậy trong trường hợp của chồng chị thì tức tối đa Tòa án sẽ chỉ cho rút ngắn thời gian thử thách xuống còn 45 tháng (giảm 15 tháng so với thời gian thử thách Tòa án tuyên). Trong khi đó chồng chỉ mới chấp hành thời gian thử thách được 3 năm (36 tháng), do vậy anh chị không thể xin rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại vì Tòa án sẽ không chấp nhận việc này.

>> Xem thêm:  Phân tích cơ sở pháp lý phán quyết của tòa án ?

2. Báo cáo án, duyệt án dưới góc nhìn thực tiễn ?

Một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng là Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, chính vì vậy mà pháp luật tố tụng hoàn toàn không quy định việc báo cáo án, duyệt án. Tuy nhiên, trong thực tế xét xử thì việc báo cáo án, duyệt án trước khi xét xử đã trở thành một thông lệ của các Tòa án địa phương.

Hiện nay, rất nhiều Tòa án (nhất là Tòa án cấp huyện), việc báo cáo án và duyệt án trước khi xét xử là công việc phải tiến hành đối với tất cả vụ án. Điều đó cho thấy, việc báo cáo án, duyệt án đã được các Tòa án mặc nhiên coi như một thủ tục bắt buộc trong khi pháp luật tố tụng không quy định thủ tục này. Thông thường hàng tháng, sau khi có lịch xét xử thì Tòa án tổ chức các buổi họp thường gọi là họp đường lối(có khi mất một vài ngày, tùy thuộc số lượng vụ án chuẩn bị xét xử) để các Thẩm phán báo cáo án và lãnh đạo Tòa án duyệt án. Thành phần, gồm lãnh đạo Tòa án và các Thẩm phán, có nơi còn có sự tham gia của các Thư ký Tòa án. Về trình tự, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa báo cáo nội dung vụ án và đề xuất hướng giải quyết, sau đó tập thể Thẩm phán và lãnh đạo Tòa án tiến hành thảo luận, nếu không thống nhất được quan điểm về hướng giải quyết theo đề xuất của Thẩm phán thì hầu như phải theo quan điểm chỉ đạo của lãnh đạo Tòa án. Với hướng giải quyết vụ án đã được duyệt thì Thẩm phán không thể nào làm khác. Thực tế đã có nhiều thẩm phán “vượt rào” xử khác so với đường lối chỉ đạo khi duyệt án nên bị lãnh đạo phê phán.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Vấn đề đặt ra là tại sao pháp luật tố tụng không quy định việc báo cáo án, duyệt án nhưng thực tế hầu hết các Tòa án lại thực hiện “thủ tục bắt buộc” này đối với tất cả các vụ án? Phải chăng pháp luật tố tụng không phù hợp, chưa theo kịp thực tiễn tố tụng? Cần loại trừ nguyên nhân này, vì nếu đây là một thủ tục phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn thì tại sao lãnh đạo Tòa án các cấp đều không thừa nhận thực trạng này? Vậy thủ tục này mặc nhiên tồn tại là có hai nguyên nhân.

Thứ nhất, từ phía các thẩm phán. Có những Thẩm phán kịch liệt phản đối thủ tục này, tuy nhiên số này còn quá ít, phần lớn Thẩm phán đều muốn duy trì vì phần nào có lợi cho cá nhân họ. Thực tế hiện nay trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực của nhiều Thẩm phán còn non nên chưa đủ tự tin vào lập trường, quan điểm của mình để độc lập phán quyết. Chính vì vậy, họ muốn duy trì hoạt động duyệt án trước hết là để tranh thủ kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ của các đồng nghiệp, của lãnh đạo Tòa án; sau nữa là khi việc xét xử đúng pháp luật thì thành tích sẽ thuộc về họ, nhưng nếu vụ án bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hủy hoặc sửa án thì lỗi là xử theo quan điểm tập thể.

Thứ hai, là phía lãnh đạo Tòa án. Hiện nay, tại diễn đàn Quốc hội, HĐND nhiều đại biểu thường chất vấn lãnh đạo Tòa án về từng vụ án cụ thể. Mỗi một khi bị chất vấn về bất kỳ vụ án nào mà lãnh đạo Toà án không trả lời được thì đều bị coi là thiếu sâu sát, quản lý công tác xét xử yếu kém. Cũng vì vậy mà hầu hết lãnh đạo các Tòa án đều muốn duy trì chế độ báo án nhằm nắm được nội dung của các vụ án để quản lý, kiểm soát đối với hoạt động xét xử của tất cả các Thẩm phán.

Tuy nhiên, theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân thì Chánh án TANDTC và Chánh án Tòa án nhân dân địa phương có nhiệm vụ tổ chức công tác xét xử của Tòa án cấp mình quản lý. Việc tổ chức xét xử là phân công, đôn đốc, kiểm tra tiến độ giải quyết các vụ án chứ không phải can thiệp, chỉ đạo sâu vào hướng giải quyết từng vụ án cụ thể. Pháp luật tố tụng quy định, nếu không đồng ý với phán quyết của Tòa án thì bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị để xét xử phúc thẩm, Chánh án TAND cấp tỉnh, Chánh án TANDTC, Viện Trưởng VKSND cấp tỉnh và VKSNDTC có quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Việc kết luận một bản án, quyết định của Tòa án đúng hay sai sẽ thuộc về Hội đồng xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, còn ở cương vị một Chánh án sẽ không có thẩm quyền và không thể kết luận điều này. Trách nhiệm của Chánh án tòa án các cấp, ngoài thực hiện các hoạt động tố tụng theo thẩm quyền thì cần chú tâm thực hiện tốt các công việc có tính vĩ mô hơn là đi sâu vào từng vụ án cụ thể. Đó là, cần có giải pháp để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ; quản lý sắp xếp, phân công công việc phù hợp; có giải pháp tháo gỡ vưng mắc, tạo môi trường công tác thuận lợi nhằm nâng cao chất lượng xét xử; biết nắm bắt, phân tích tình hình, nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tranh chấp để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền hoạch định chính sách phòng chống tội phạm, hạn chế tranh chấp trong nhân dân… Vì vậy, các đại biểu dân cử cũng cần chất vấn những vấn đề này mới phù hợp.

Không thể phủ nhận mặt tích cực của việc bàn bạc, trao đổi trước khi xét xử- Thẩm phán sẽ tranh thủ được trí tuệ, kinh nghiệm của tập thể, đặc biệt là của những người có năng lực, kinh nghiệm. Tuy nhiên, việc trao đổi, tranh luận thì Thẩm phán có thể trao đổi với bất kỳ ai, tại mọi thời điểm, trên mọi diễn đàn mà không nhất thiết phải thực hiện việc báo cáo án, duyệt án. Việc tranh luận, trao đổi cũng chỉ cần thiết đối với những vụ án phức tạp, do đó việc báo cáo án, duyệt án đối với tất cả các vụ án là không cần thiết, làm mất quá nhiều thời gian của các Thẩm phán và lãnh đạo Tòa án. Mặt khác, đường lối giải quyết đã được bàn bạc, thống nhất trước nên thẩm phán (thậm chí là giao cho Thư ký Tòa án) cứ thế viết hoàn chỉnh bản án trước, dẫn đến tình trạng “án bỏ túi”, phiên toà sau đó chỉ mang tính hình thức. Hậu quả nữa là sẽ làm ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm; tạo tâm lý ỷ lại cho các Thẩm phán, không chịu học hỏi, nghiên cứu để nâng cao trình độ vì dựa vào tập thể. Việc báo cáo án sẽ tạo cơ chế công khai, minh bạch, hạn chế việc thẩm phán có hành vi tiêu cực trong công tác xét xử như quan điểm của nhiều người. Lý do, một khi Thẩm phán cố tình lợi dụng để trục lợi, thiên vị thì khi báo cáo án chỉ trình bày một phía, chỉ nêu những vấn đề có lợi cho người mà họ cố tình bảo vệ. Và như vậy, hướng xét xử vụ án mà tập thể thống nhất, lãnh đạo duyệt sẽ trở thành “lá bùa hộ mệnh” để Thẩm phán an tâm xử trái pháp luật.

Như vậy có thể thấy rõ, việc báo cáo án, duyệt án là lợi bất cập hại, vừa trái pháp luật tố tụng, vừa không phù hợp với yêu cầu của công tác cải cách tư pháp.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật hình sự, tham gia tranh tụng vụ án hình sự

3. Phân tích quyền bào chữa vụ án hình sự tại Việt Nam ?

Nguyên luật sư Lê Công Định sẽ tự bào chữa tại tòa. Đó là thông tin mà bà Ngọc Khánh (vợ ông Định) đưa ra. Nếu điều này là đúng, xem như ông Định đã từ chối luật sư và tự mình làm giảm đi tính toàn vẹn của quyền bào chữa – theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

Chưa rõ ông Lê Công Định sẽ bị truy tố tội danh nào ?

Theo BBC ngày 11-12-2009, bà Ngọc Khánh cho biết sở dĩ chồng bà muốn tự bào chữa vì ông nghĩ rằng ông là người hiểu rõ nhất trường hợp của mình. "Cá nhân tôi thì tôi vẫn muốn anh ấy có luật sư vì ở trong trại giam sẽ rất khó khăn cho hoạt động tìm hiểu hồ sơ cũng như thông tin bên ngoài. Nhưng tôi luôn luôn tôn trọng ý kiến cuối cùng của chồng tôi '' - bà Khánh nói với BBC.

Cũng theo bà Ngọc Khánh, hiện chưa biết chính thức ngày nào sẽ xét xử ông Lê Công Định và gia đình bà cũng chưa biết chắc ông Định sẽ bị truy tố về tội gì. Bà Khánh nói : "Tất cả những lời nói bên ngoài chỉ là dự đoán hay tin đồn chứ một cách chính thức thì gia đình chúng tôi chưa được các cơ quan điều tra cũng như Viện Kiểm sát thông báo về chuyện đó.''

Trước đó, ông Lê Công Định và một số người khác đã bị bắt tạm giam, rồi khởi tố hình sự về tội "Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" theo Điều 88 của Bộ Luật hình sự.

Quy định về thời hạn đi thi hành án phạt tù

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Khi bị bắt, ông Lê Công Định đang là luật sư. Sau đó, Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh, nơi ông Định là thành viên, đã quyết định khai trừ ông ra khỏi Đoàn.

Tuy nhiên, cũng có tin nói rằng có thể ông Định sẽ bị truy tố về tội "Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" theo Điều 79 Bộ Luật hình sự.

Nếu điều này là thật thì cũng hoàn toàn đúng với qui định của pháp luật. Vì về nguyên tắc, Cơ quan công tố ( Viện kiểm sát) có quyền thay đổi tội danh theo hướng xác định hành vi của bị can phù hợp với qui định tại điều luật nào nhất. Ví dụ : cùng là hành vi dùng dao chém người, nhưng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, người có hành vi này có thể bị truy tố về tội cố ý gây thương tích hoặc tội giết người.

Qui định về quyền bào chữa của bị can, bị cáo

Quyền bào chữa là một trong những quyền quan trọng nhất của con người và cũng được thừa nhận từ lâu nhất trong lịch sử xã hội loài người.

Tại Việt Nam, quyền bào chữa của bị can ( người đang bị điều tra về hành vi phạm tội), bị cáo ( người bị truy tố trước tòa án về một tội danh nào đó) đã được pháp luật tố tụng hình sự ghi nhận ngay từ khi pháp luật ra đời.

Trước những năm 1987, khi chưa có Bộ luật tố tụng hình sự, chưa có luật sư, người bào chữa được gọi là “bào chữa viên nhân dân”. “Bào chữa viên nhân dân” phần nào giống như một công chức, được các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định để bào chữa miễn phí cho các bị cáo là vị thành niên, phạm tội có khung hình phạt chung thân, tử hình …

Sau đó, từ những năm 1990, hệ thống pháp luật Việt Nam nhanh chóng phát triển và ngày càng hoàn thiện. Rất nhiều bộ luật liên quan đến quyền bào chữa, đến hoạt động luật sư được ban hành, bổ sung, nâng cấp. Đó là Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Pháp lệnh luật sư rồi Luật luật sư, Luật trợ giúp pháp lý ….

Theo đó, một cách khách quan, có thể nói quyền bào chữa của công dân ngày càng được tôn trọng, mở rộng. Dù đâu đó vẫn có những khó khăn, cản ngại từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng đối với hoạt động của luật sư - những người thực hành nghề bào chữa một cách chuyên nghiệp.

Việc bảo đảm về quyền bào chữa của bị can, bị cáo chính là một trong những nguyên tắc cơ quan của Bộ luật tố tụng hình sự. Luật qui định rõ bị can, bị cáo đều có quyền “tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”.

Như vậy, việc ông Lê Công Định dự định tự mình bào chữa cho mình cũng chính là ông đã thực hiện quyền bào chữa của mình.

Nhờ luật sư có lợi hơn tự bào chữa

Tuy nhiên, theo chúng tôi, nếu ông Định nhờ luật sư bào chữa cho mình thì sẽ có lợi hơn là tự mình bào chữa.

Trước hết, tuy từng là luật sư, nhưng tại phiên tòa hình sự ông Định không có được tư cách và các quyền của một “người bào chữa” độc lập. Vì ông đang là bị cáo.

Với vị trí đứng trước vành móng ngựa, lại phải chịu sự xét hỏi của công tố viên, Hội đồng xét xử, chắc chắn ông Định sẽ bị mệt mỏi, phân tán tinh thần.

Chưa kể với tư cách là bị cáo, ông Định cũng không có cơ hội và điều kiện để được nghiên cứu trước hồ sơ vụ án một cách đầy đủ, cùng với sự ghi chép, đối chiếu các văn bản luật … để chuẩn bị một cách tốt nhất cho bài bào chữa (gỡ tội) của mình.

Trong khi đó, luật sư, với vai trò là người bào chữa, sẽ có vị thế và cả vị trí tốt hơn hẳn tại phòng xử án và theo qui định của pháp luật. Luật sư cũng có được những quyền mà chỉ duy nhất mình có được để nghiên cứu hồ sơ, trình bày và tranh luận tại phiên tòa.

Những điều như trên thật rõ ràng và dễ hiểu.

Còn nhớ cách nay không quá lâu, khi đương kim tổng thống Mỹ Bill Clinton bị tòa án “truy” về hành vi quan hệ tình dục với một nữ thực tập sinh, dù vốn là một luật sư rất giỏi, ông Clinton cũng đã phải bỏ ra hàng triệu USD để thuê luật sư biện hộ cho mình.

Do vậy, sẽ không có gì quá đáng nếu nói rằng việc ông Định chọn phương cách tự bào chữa chính là ông đã tự mình làm hạn chế phần nào tính toàn vẹn của quyền bào chữa của mình.

( Luật sư Trần Hồng Phong, công ty luật hợp danh Ecolaw)

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân gia đình

4. Những điểm mới về hành vi mua bán người ?

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 về Tội mua bán người.

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thcủa nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vì động cơ đê hèn;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;

d) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

đ) Đối với từ 02 người đến 05 người;

e) Phạm tội 02 lần trở lên.

3.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ th61% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

đ) Đối với 06 người trở lên;

e) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

So với BLHS năm 1999 thì Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 có một số sửa đổi, bổ sung quan trọng, cụ thể như sau:

Thứ nhất: Về kết cấu của điều luật.

Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 được kết cấu thành 04 khoản (BLHS năm 1999 gồm 03 khoản).

Thứ hai: Về hành vi phạm tội.

Theo Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017, mua bán người bao gồm hai hành vi mua và bán, tuy nhiên trong hành vi mua bán này bao gồm rất nhiều công đoạn khác nhau như tuyển dụng, vận chuyển, lưu giữ, tiếp nhận, chuyển giao. BLHS năm 1999 chỉ quy định hành vi mua bán người nói chung mà không bao quát hết nội hàm của hành vi này. Vì vậy, trong thực tiễn giải quyết các vụ án gặp rất nhiều khó khăn và khó xác định được hành vi mua bán. BLHS năm 2015 quy định cụ thể hành vi mua bán người như sau:

- Nhóm hành vi chuyển giao hoặc tiếp nhận (Hành vi chuyển giao là hành vi giao cho người khác nhận; hành vi tiếp nhận là hành vi đón nhận cái từ người khác, nơi khác chuyển đến). Nhóm hành vi này quy định hai hành vi tách biệt nhau “Chuyển giao hoặc tiếp nhận”.

- Nhóm hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp (Tuyển mộ là lựa chọn, tuyển dụng những người đáp ứng các yêu cầu điều kiện để sử dụng cho một công việc hoặc mục đích khác; vận chuyển là sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác; chứa chấp là chứa một cách trái phép).

Tuy nhiên, những nhóm hành vi này đều nhằm các mục đích để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.

Như vậy, nếu hành vi chuyển giao; tiếp nhận; tuyển mộ; vận chuyển; chứa chấp người không thỏa mãn các mục đích trên thì không cấu thành tội phạm.

Thứ ba: Về hình phạt.

Mức hình phạt tù đối với khoản 1 áp dụng là từ 05 năm đến 10 năm (BLHS năm 1999 là từ 2 năm đến 7 năm); tại khoản 2 từ 08 năm đến 15 năm (BLHS năm 1999 là 5 năm đến 20 năm); khoản 3 từ 12 năm đến 20 năm; khoản 4 phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản (BLHS năm 1999 từ 5 triệu đồng đến 20 triệu đồng).

Đồng thời, BLHS năm 2015 bổ sung thêm một số tình tiết.

Cụ thể, tại khoản 2 bổ sung các tình tiết:

“b) Vì động cơ đê hèn;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;

d) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

đ) Đối với từ 02 người đến 05 người;”

Bổ sung tại khoản 3 các tình tiết:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ th61% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

đ) Đối với 06 người trở lên;

e) Tái phạm nguy hiểm.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư bào chữa, tranh tụng tại tòa án uy tín hàng đầu Việt Nam

5. Quy định về thời hạn đi thi hành án phạt tù ?

Xin chào Luật sư công ty luật Minh Khuê, xin hỏi: Tôi có vấn đề này mong luật sư giải đáp giúp tôi. A là bị cáo đã bị kết án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đã có bản án có hiệu lực của pháp luật nhưng A chưa bị đi tù. Bản án có vào tháng 11/2018, đến tháng 2/2019 bản án được gửi về cho A. A có đơn gửi lên tòa án xin hoãn thi hành án vì lí do sức khỏe yếu và là lao động chính trong gia đình. Đến tháng 3/2019 tòa có gửi một quyết định từ chối việc xin hoãn thi hành án của A vì lí do A đưa ra không đủ căn cứ. Đến thời điểm hiện tại là tháng 5/2019 nhưng tôi vẫn không thấy A đi thi hành án phạt tù. A vẫn tiếp tục ở bên ngoài lừa đảo những người khác và tôi là một trong những người bị A lừa tiếp.
Vậy luật sư cho tôi xin hỏi, tôi có thể làm đơn lên yêu cầu tòa án để hỏi tại sao A chưa bị đi tù không ?
Rất mong luật sư giải đáp giúp tôi.

Trả lời:

Theo như bạn trình bày trong câu hỏi thì "A vẫn đang tiếp tục ở bên ngoài lừa đảo", vậy có thể hiểu là trong trường hợp này A đang được tại ngoại khi có quyết định thi hành án có hiệu lực của Tòa án.

Căn cứ vào quy định tại Luật thi hành án hình sự 2010. Cụ thể là điều 22 có quy định như sau:

"Điều 22. Thi hành quyết định thi hành án phạt tù

3. Trong thời gian chờ chuyển đến nơi chấp hành án phạt tù, người chấp hành án được hưởng chế độ như đối với phạm nhân.

4. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, người chấp hành án phải có mặt tại trụ sở cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được chỉ định trong quyết định thi hành án. Quá thời hạn trên mà người đó không có mặt, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp hoặc Cảnh vệ tư pháp thực hiện áp giải thi hành án..."

Căn cứ theo quy định trên, thời điểm bản án của tòa đã có hiệu lực pháp luật thì A vẫn đang tại ngoại. Quyết định thi hành án của Tòa phải ghi rõ họ tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành quyết định thi hành án; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị kết án; thời hạn chấp hành án phạt tù, thời hạn chấp hành hình phạt bổ sung. Trường hợp người bị kết án đang tại ngoại, quyết định thi hành án phải ghi rõ trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, người bị kết án phải có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người đó làm việc.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án phạt tù và hình phạt bổ sung, Tòa án đã ra quyết định phải gửi quyết định thi hành án cho cá nhân, cơ quan sau đây:

a) Người chấp hành án;

b) Viện kiểm sát cùng cấp;

c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;

d) Trại tạm giam nơi người phải chấp hành án đang bị tạm giam;

đ) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người phải chấp hành án đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ hoặc đang tại ngoại;

e) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.

Sau khi Tòa gửi quyết định thi hành án cho người chấp hành án là A thì lúc này trong thời hạn 7 ngày, A phải có mặt cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. Quá 7 ngày, A không đến thì Cảnh sát hỗ trợ tư pháp tiến hành áp giải thi hành án. Như vậy, tháng 11/2018 tòa ra quyết định thi hành án thì chậm nhất là tháng 12 A đã phải tiến hành đi chấp hành án phạt tù rồi. Hơn nữa, tháng 2/2019, A có gửi đơn lên tòa xin hoãn chấp hành án nhưng tòa không đồng ý thì lúc này A phải đi chấp hành án tù. Theo như bạn nói, từ tháng 11/2018 đến tháng 5/2019, A vẫn tiếp tục tại ngoại, không bị đi tù, đồng thời còn tiếp tục đi lừa đảo người khác. Trong trương hợp này, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn nên đến cơ quan công an tố giác hành vi lừa đảo của A. Còn nếu bạn không muốn tố giác A thì có thể tố cáo hành vi của chấp hành viên khi không tiến hành làm đúng thủ tục đưa bị bị kết án đi thi hành án phạt tù, trái với quy định của pháp luật

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ số điện thoại 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án