1. Tư vấn về việc khởi kiện người cho vay nặng lãi?

Thưa luật sư! Em có vấn đề mong luật sư tư vấn như sau: Đứa em và cô vậy 1 tỷ 2 trăm triệu của bà Ạ. Mà đứa em và cô em bảo rằng trả lãi cho bà A vào 6 tháng số tiền lên tới 600 trăm triệu. Trong đó 1 tỷ là đóng 36 triệu ,200 triệu là 7 triệu 2 tức là 1 tháng đóng 43 triệu. Tháng nào chậm lãi tính lãi mẹ đẻ lãi con 200 nghìn 1 ngày có tháng em và cô em phải trả lãi tới 72 triệu.
Do mấy tháng gần em ý và cô ko chịu trả lãi nên người ta chuẩn bị siết nhà em và đòi 1 tỷ 600 triệu không thì siết nhà em bán. Cho em hỏi là như thế có phải là vay nặng lãi không? Mình có thể kiện người ta cho vay nặng lãi không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn về việc khởi kiện người cho vay nặng lãi?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi:1900.6162

Luật sư tư vấn:

Một là, về lãi suất vay theo quy định của bộ luật dân sự 2015

Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Tức là:

- Đối với trường hợp lãi suất do các bên thỏa thuận và không được vượt quá: 20%/ năm của khoản tiền vay.

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 20% : 12 tháng = 1,666%/tháng

- Trong trường hợp có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì xác định bằng: 50% x 20% = 10%

Lãi suất cho vay tối đa trung bình 1 tháng sẽ là: 10% : 12 tháng = 0,83%/tháng

Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

- Lãi trên nợ gốc trong thời hạn hợp đồng vay = (nợ gốc x lãi suất vay theo hợp đồng) x thời hạn hợp đồng vay.

- Lãi đối với phần tiền lãi chậm trả trong thời hạn hợp đồng vay = [(nợ gốc x lãi suất vay theo hợp đồng) x thời hạn vay] x 0.83 x thời gian chậm trả.

- Lãi trên nợ gốc quá hạn = nợ gốc x (150% x lãi suất vay theo hợp đồng) x thời gian quá hạn.

Hai là mức lãi suất đó có cấu thành tội cho vay lãi nặng?

Căn cứ theo Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 cụ thể như sau:

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Khách thể của tội phạm: Tội cho vay nặng lãi xâm phạm trật tự quản lí tín dụng của Nhà nước, gây thiệt hại cho lợi ích của người đi vay.

Mặt khách quan của tội phạm:

+ Người phạm tội có hành vi cho vay nặng lãi. Đó là hành vi cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên.

+ Cho tính chất chuyên bóc lột.Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội biết rõ hành vi cho vay lãi nặng là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi đó.

Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.

Hay nói cách khác như bạn có trình bày thì em của bạn và cô của bạn có vay 1 tỷ 200 triệu đồng, vay 6 tháng và trả lãi là 600 triệu, trong đó 1 tỷ là đóng 36 triệu , 200 triệu là đóng 7 triệu 2, một tháng đóng 43 triệu, có tháng phải đóng 72 triệu.

Vấn đề mức vay này của bạn có thể phân tích theo quy định của luật như sau:

Số lãi suất cô bạn và em bạn phải trả trong 1 tháng là = 1.200.000.000x1,666%/tháng = 19.992.000 đồng

Cấu thành tội cho vay lãi nặng khi = 19.992.000 đồng x 5 = 99.960.000 đồng

Như vậy, có nghĩa là, như bạn có trình bày thì cô bạn trả lãi một tháng là 600 triệu

1 tỷ trả 36 triệu tiền lãi => theo quy định của luật như đã nêu ở trên thì vay lãi nặng là = 1.000.000.000x 8.33%= 83.300.000 đồng

200 triệu đóng 7 triệu 2=> vay lãi nặng là = 200.000.000 x 8.33%=16.660.000 đồng

=> Như vậy có nghĩa là, nếu cô bạn và em gái bạn vay tiền mà trả lãi 1 tháng gộp lại tổng là 600.000.000 đồng/ tháng thì bên cho vay thuộc trường hợp cho vay lãi nặng, nhưng nếu bóc tách ra từng triệu một và tương ứng với từng mức lãi thì không thuộc trường hợp cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như đã tính cụ thể ở trên.

>> Xem thêm:  Khái niệm, nội dung, mục đích và hậu quả pháp lý của cầm cố tài sản ? Mẫu hợp đồng cầm cố

2. Tư vấn quy định về tội cho vay nặng lãi ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em gái em đi vay 8 triệu 500 nghìn đồng với lãi suất 7 nghìn/ngày/triệu . Vay từ tháng 11-2014 đến tháng 6 này lên tới 20 triệu họ bắt kí giấy vay nợ tiền lãi người ta cho vào tiền gốc. Như vậy có phải là vay nặng lãi không ạ ? Người ta cho vay như vậy có vi phạm pháp luật không ạ ? Em xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: V.D.H

Tư vấn quy định về tội cho vay nặng lãi ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

- Thứ nhất là mức lãi suất theo quy định của Pháp Luật dân sự hiện hành?

Căn cứ theo quy định của Điều 468 bộ luật dân sự 2015

Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Tức là:

- Đối với trường hợp lãi suất do các bên thỏa thuận và không được vượt quá: 20%/ năm của khoản tiền vay.

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 20% : 12 tháng = 1,666%/tháng

- Trong trường hợp có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì xác định bằng: 50% x 20% = 10%

Lãi suất cho vay tối đa trung bình 1 tháng sẽ là: 10% : 12 tháng = 0,83%/tháng

Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

- Lãi trên nợ gốc trong thời hạn hợp đồng vay = (nợ gốc x lãi suất vay theo hợp đồng) x thời hạn hợp đồng vay.

- Lãi đối với phần tiền lãi chậm trả trong thời hạn hợp đồng vay = [(nợ gốc x lãi suất vay theo hợp đồng) x thời hạn vay] x 0.83 x thời gian chậm trả.

- Lãi trên nợ gốc quá hạn = nợ gốc x (150% x lãi suất vay theo hợp đồng) x thời gian quá hạn.

Thứ hai là có cấu thành tội cho vay lãi nặng?

Căn cứ theo Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 cụ thể như sau:

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Thứ ba là mức vay của bạn:

Như bạn có trình bày ở trên thì Em gái bạn đi vay 8 triệu 500 nghìn đồng với lãi suất 7 nghìn/ngày/triệu . Vay từ tháng 11-2014 đến tháng 6 này lên tới 20 triệu

Ta có thể tính mức lãi này như sau:

Lãi suất đúng quy định = 8.500.000 đồng x 1.666%/tháng = 141.610 đồng/ tháng

Lãi suất cấu thành tội cho vay lãi nặng = 8.500.000 đồng x 8.33%= 708.050 đồng/tháng

Theo thông tin bạn cung cấp thì tháng 6 này thì không rõ là tháng 6 năm nào tuy nhiên bạn có thể dựa trên mức lãi suất như đã tính ở trên để có cơ sở giải quyết vấn đề, đồng thời, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, nếu nó bị lừa dối ép buộc, hoặc đe dọa như theo quy định của Bộ Luật dân sự 2015 hiện hành thì nó bị vô hiệu.

>> Xem thêm:  Phải làm sao khi bị công ty tài chính làm phiền khi lỡ xác nhận thông tin để người khác vay tiền trả góp ?

3. Vay nặng lãi không trả đúng thời hạn có bị tội hình sự không ?

Kính thưa luật sư, vừa qua em có vay nặng lãi 50.000.000 đồng; lãi 10 ngàn đồng/1 ngày/1 triệu, Đến lúc em không có khả năng đóng lãi, chủ nợ đe dọa và buộc em ký tên vào biên nhận 65.000.000 đồng, và đến nay chủ nợ đã kiện em. Vậy em có bị buộc vào tội lừa đảo không? Vì trong biên nhận ký nợ ghi không lấy lãi, nhưng thực tế em đã đóng lãi 36.000.000 đồng ( em vay từ tháng 10/2015).

Kính Nhờ Luật sư tư vấn giúp em!

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về cho chúng tôi.

Vay nặng lãi không trả đúng thời hạn có bị tội hình sự không ?

Luật sư tư vấn luật hình sự, gọi:1900.6162

Trả lời:

Một là, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Căn cứ theo quy định của Điều 174 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 có quy định cụ thể như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Tội này được phân tích cụ thể như sau:

Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối. Đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt. Hai dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt, hay nói cách khác mục đích là chiếm đoạt tài sản bằng hành vi gian dối.
  • Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:
Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.
Như vậy, ở đây, bạn không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Hai là mức lãi suất có phải cho vay lãi nặng?
Căn cứ theo quy định tại Điều 201 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 có thể tính mức lãi suất dựa trên khoản vay của bạn như sau:
Như nguồn thông tin bạn cung cấp ở trên thì, vay 50.000.000 đồng; lãi 10 ngàn đồng/1 ngày/1 triệu,
Như vậy mức lãi đúng quy định = 1 triệu x 1.666%/tháng = 16.660 đồng/ tháng = 555 đồng/ ngày
Mức cho vay lãi nặng = 5x555 đồng/ngày= 2.775 đồng/ngày mà họ lấy bạn 10.000 đồng/ngày thì như vậy có nghĩa là, bên cho bạn vay đã cấu thành tội cho vay lãi nặng, bạn có thể làm đơn trình báo công an để giải quyết về vấn đề này.

>> Xem thêm:  Cách xác định tiền bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông ?

4. Vay 6,16% 1 tháng có bị phạm tội cho vay nặng lãi không ?

Thưa luật sư, tôi có thắc mắc mong được luật sư giải đáp: Cho vay 6,16% một tháng nhằm 73,92 một năm vậy họ có bị vi phạm tội cho vay nặng lãi hay không ?
Tên khách hàng: L.V Nhi

Vay 6,16% 1 tháng có bị phạm tội cho vay nặng lãi không ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về lãi suất, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

- Thứ nhất là mức lãi suất theo quy định hiện hành?

Căn cứ theo quy định của Điều 468 của bộ luật dân sự 2015

Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Thứ hai là tội cho vay lãi nặng?

Căn cứ theo Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 cụ thể như sau:

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Thứ ba là mức vay của bạn:

Như bạn có trình bày ở trên thì cho vay 6,16% một tháng nhằm 73,92 một năm vậy họ có bị vi phạm tội cho vay nặng lãi hay không ?

Ta có thể tính mức lãi này như sau:

Theo quy dịnh trên, có nghĩa là,

- Đối với trường hợp lãi suất do các bên thỏa thuận và không được vượt quá: 20%/ năm của khoản tiền vay.

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 20% : 12 tháng = 1,666%/tháng

- Trong trường hợp có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì xác định bằng: 50% x 20% = 10%

Lãi suất cho vay tối đa trung bình 1 tháng sẽ là: 10% : 12 tháng = 0,83%/tháng

Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

- Lãi trên nợ gốc trong thời hạn hợp đồng vay = (nợ gốc x lãi suất vay theo hợp đồng) x thời hạn hợp đồng vay.

- Lãi đối với phần tiền lãi chậm trả trong thời hạn hợp đồng vay = [(nợ gốc x lãi suất vay theo hợp đồng) x thời hạn vay] x 0.83 x thời gian chậm trả.

- Lãi trên nợ gốc quá hạn = nợ gốc x (150% x lãi suất vay theo hợp đồng) x thời gian quá hạn.

Cho vay lãi nặng = 5x1,666%/tháng = 8.33%/tháng

>> Xem thêm:  Bị đòi nợ trước thời hạn trả đã thỏa thuận trong hợp đồng vay xử lý thế nào ?