Theo quy định của pháp luật thì trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, Tòa án Việt Nam có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự khi cần tiến hành một hoặc một số hoạt động tố tụng dân sự tại nước ngoài, bằng các hình thức khác nhau trong đó cụ thể là ủy thác tư pháp. Vậy ủy thác tư pháp được hiểu như thế nào? Quy định cụ thể về những trường hợp cần ủy thác tư pháp ra sao?

1. Khái niệm ủy thác tư pháp

Ủy thác tư pháp chính là một hình thức thể hiện tương trợ tư pháp được thể hiện trên cơ sở yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

Nội dung của ủy thác tư pháp rất phong phú và tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể: có thể là yêu cầu tống đạt cho đương sự giấy triệu tập đến phiên tòa ở nước ngoài, yêu cầu về lấy lời khai của đương sự, nhân chứng, người giám định, xác định mức thu nhập thực tế của người phải cấp dưỡng, phải bồi thường thiệt hại,…

* Những trường hợp nào cần thực hiện việc ủy thác tư pháp

Căn cứ vào các quy định khác nhau của hệ thống pháp luật thì thông thường những vụ việc dân sự phải tiến hành ủy thác tư pháp là những vụ việc hoặc vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài. Vì hiện tại pháp luật Việt Nam chưa có điều khoản nào quy định cụ thể trong trường hợp nào, trong những loại tranh chấp nào thì phải tiến hành thực hiện việc ủy thác tư pháp, nên theo quy định tại Khoản 2 Điều 464 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc các trường hợp sau đây:

"Điều 464. Nguyên tắc áp dụng

1. Phần này quy định về thẩm quyền, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài; trường hợp Phần này không có quy định thì áp dụng các quy định khác có liên quan của Bộ luật này để giải quyết.

2. Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài;

b) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

c) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.

3. Các hoạt động tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp".

Như vậy ta có thể hiểu, khi thuộc một số các tranh chấp sau đây thì có thể thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp:

- Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài;

- Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

- Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.

2. Quy định về việc ủy thác tư pháp tại Việt Nam

* Thực hiện ủy thác tư pháp

Tòa án Việt Nam ủy thác tư pháp cho Tòa án nước ngoài hoặc thực hiện việc ủy thác của Tòa án nước ngoài về việc tiến hành một số hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập theo nguyên tắc có đi có lại.

Tòa án Việt Nam không chấp nhận thực hiện việc ủy thác tư pháp của Tòa án nước ngoài trong các trường hợp sau đây:

- Việc thực hiện ủy thác tư pháp xâm phạm đến chủ quyền của Việt Nam hoặc đe dọa đến an ninh của Việt Nam

- Việc thực hiện ủy thác tư pháp không thuộc thẩm quyền của Tòa án Việt Nam.

* Thủ tục thực hiện việc ủy thác tư pháp:

Việc Tòa án Việt Nam ủy thác tư pháp cho Tòa án nước ngoài hoặc Tòa án nước ngoài ủy thác cho Tòa án Việt Nam phải được lập thành văn bản và gửi đến cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập hoặc theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam nhận được văn bản ủy thác tư pháp phải chuyển ngay cho Tòa án Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền nước ngoài nhận văn bản ủy thác của Tòa án Việt Nam.

* Văn bản ủy thác tư pháp

Văn bản ủy thác tư pháp phải có các nội dung chính sau đây:

- Ngày, tháng, năm lập văn bản ủy thác tư pháp

- Tên, địa chỉ của Tòa án ủy thác tư pháp

- Tên, địa chỉ của Tòa án thực hiện ủy thác tư pháp

- Họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức có liên quan đến ủy thác tư pháp.

* Nội dung công việc ủy thác

Yêu cầu của Tòa án ủy thác: Gửi kèm theo văn bản là giấy tờ, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện ủy thác nếu có.

Công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận:

- Giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam được Tòa án Việt Nam công nhận nếu giấy tờ tài liệu đó đã được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác.

- Giấy tờ, tài liệu lập bằng tiếng nước ngoài được gửi cho Tòa án Việt Nam kèm theo bản dịch ra tiếng Việt đã được công chứng, chứng thực hợp pháp.

3. Các hình thức ủy thác tư pháp

Các ủy thác tư pháp được thực hiện thông qua các hình thức, cụ thể sau:

+ Khi thực hiện ủy thác tư pháp cơ quan được yêu cầu áp dụng pháp luật của nước mình. Theo yêu cầu có thể áp dụng pháp luật nước kia nếu những quy phạm pháp luật đó không mâu thuẫn với pháp luật của nước được yêu cầu.

+ Nếu không tìm thấy người cần tìm theo địa chỉ trong văn bản ủy thác thì cơ quan được yêu cầu áo dụng tất cả các biện pháp cần thiết để xác minh địa chỉ của người đó

+ Theo đề nghị của cơ quan yêu cầu, Cơ quan được yêu cầu thông báo ngay cho cơ quan yêu cầu về thời gian, địa điểm thực hiện ủy thác.

+ Để thực hiện ủy thác, cơ quan được yêu cầu lập các giấy tờ tương ứng nói rõ thời gian, địa điểm thực hiện và gửi lại các giấy tờ đó cho cơ quan yêu cầu.

+ Nếu cơ quan được yêu cầu không có thẩm quyền thực hiện ủy thác tư pháp thì cơ quan này chuyển ủy thác cho cơ quan có thẩm quyền.

4. Quy định chung về ủy thác tư pháp và phạm vi ủy thác tư pháp

* Quy định chung về ủy thác tư pháp

Để làm cơ sở cho các hoạt động uỷ thác tư pháp, các nước kí kết với nhau những điều ước quốc tế, trong đó, quy định nguyên tắc, điều kiện thể thức và thẩm quyền thực hiện các hành vi yêu cầu và thực hiện uỷ thác tư pháp. Ngoài ra, pháp luật mỗi nước cũng có những quy định riêng về vấn đề này nhằm hướng dẫn, cụ thể hoá các quy định của điều ước quốc tế cho các cơ quan của mình, đồng thời áp dụng cho các quan hệ về uỷ thác tư pháp đối với những nước chưa có điều ước quốc tế ràng buộc.

Trong thực tiễn tư pháp quốc tế, uỷ thác tư pháp được thực hiện thông qua các cơ quan:

- Cơ quan ngoại giao;

- Cơ quan Bộ tư pháp;

- Đại diện đặc biệt.

Trình tự thực hiện uỷ thác tư pháp quốc tế phải tuân theo pháp luật của nước được yêu cầu hoặc quy định của điều ước quốc tế mà các nước hữu quan tham gia.

Điều kiện để thực hiện uỷ thác tư pháp là nguyên tắc có đi có lại và việc thực hiện uỷ thác tư pháp không được vi phạm chủ quyền an nỉnh quốc gia của nước được yêu cầu.

* Phạm vi ủy thác tư pháp

Phạm vi các hoạt động uỷ thác tư pháp với các nước tùy thuộc vào sự thoả thuận của các nước hữu quan trong các Hiệp định tương trợ tư pháp và được cụ thể hoá trong các văn bàn pháp luật trong nước. Và lấy lời khai đối với bị đơn là công dân nước ngoài trong các vụ án li hôn. Ngoài ra, phía Việt Nam cũng uỷ thác về việc lấy lời khai của đương sự là công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài trong các vụ kiện dân sự do toà án trong nước xét xử (đòi thừa kế, chia tài sản, thay đổi họ tên...).

Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã có các quy định mới liên quan đến ủy thác tư pháp như yêu cầu cung cấp thông tin về nhân thân, xác định địa chỉ của đương sự ở nước ngoài (Điều 473); các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Toà án cho đương sự ở nước ngoài (Điều 474); thu thập chứng cứ ở nước ngoài (Điều 475)...

5. Trình tự, thủ tục thực hiện ủy thác tư pháp

Hiện nay, theo các quy định của các điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam, trình tự, thủ tục thực hiện uỷ thác tư pháp giữa Việt Nam và các nước được thực hiện qua hệ thống các cơ quan trung ương (Bộ Tư pháp hoặc Bộ Ngoại giao) của hai nước hữu quan. Tuy nhiên, quy trình này được đánh giá là phức tạp, qua nhiều cơ quan, tốn thời gian... ảnh hưởng đặc biệt đến quá trình xét xử và quyền lợi của đương sự.

Cụ thể, quy trình được thực hiện như sau:

* Đối với các uỷ thác tư pháp do toà án Việt Nam yêu cầu toà án nước ngoài thực hiện:

Toà án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc phải chuyển hồ sơ uỷ thác cho Bộ Tư pháp (là cơ quan trung ương); Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ chuyển cho Bộ Tư pháp nước ngoài (hoặc cho Bộ Ngoại giao) nước được yêu cầu thực hiện.

Tiếp theo, Bộ Tư pháp nước ngoài (hoặc Bộ Ngoại giao) chuyển đến các cơ quan tư pháp nước mình để nhờ thu thập, xác minh chứng cứ... Nếu có kết quả trả lời thì quy trình lại qua các cơ quan trên gửi ngược trở lại cho toà án Việt Nam; nhiều trường hợp không có kết quả hoặc không thể thực hiện được việc uỷ thác tư pháp do không Nga). Mỗi bên ký kết chịu các chi phí thực hiện tương trợ tư pháp phát sinh trên lãnh thổ nước mình. Trong trường hợp chi phí thực hiện quá cao, các cơ quan trung ương của hai nước sẽ thoả thuận với nhau để giải quyết.

Điều 16 Luật tương trợ tư pháp 2007 cũng có quy định: chi phí thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự giữa Việt Nam và nước ngoài do nước yêu cầu chi trả, trừ trường họp có thoả thuận khác. Cá nhân, tổ chức Việt Nam yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết vụ việc dân sự làm phát sinh yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài thì phải trả chi phí theo quy định của Việt Nam và của nước được yêu cầu.

Luật Minh Khuê (sưu tầm)