1. Vai trò của luật quốc tế trong giai đoạn hiện nay

Luật quốc tế (LQT) là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật, được các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận tạo dựng nên, trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa quốc gia và các chủ thể đó trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế. Đó là nguyên tắc và quy phạm áp dụng chung mà không có sự phân biệt về tính chất, hình thức hay vị thế của từng quốc gia khi thiết lập quan hệ quốc tế giữa những chủ thể này với nhau.

I. LỜI NÓI ĐẦU

LQT đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển từ thời kỳ cổ đại, trung đại rồi đến cận đại. Khác với các thời kỳ trước, sự hình thành và phát triển của luật quốc tế hiện đại được đặt trong hệ thống quốc tế và là một bộ phận cơ bản của hệ thống đó. Vậy trong hệ thống quốc tế đó và đặt trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay thì LQT đã chứng tỏ được vai trò và tầm quan trọng của mình như thế nào. Đó cũng là lí do em lựa chọn đề tài: “Bình luận về vai trò của LQT trong giai đoạn hợp tác và đối thoại hiện nay.”

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Luật quốc tế trong các giai đoạn:

Song song với việc xem xét quá trình hình thành và phát triển của Luật quốc tế, chúng ta có thể thấy vai trò của LQT đã ngày càng được mở rộng hơn không chỉ nằm gói gọn trong những vấn đề thuộc về truyền thống như quyền con người, vấn đề hòa bình an ninh… mà phạm vi của điều chỉnh của Luật quốc tế đã vượt ra khỏi tính truyền thống đó như quy định thêm các vấn đề về môi trường, kinh tế quốc tế, quốc tế nhân đạo… Đó cũng là tất yêu của quá trình lịch sử, bởi vạn vận luôn luôn thay đổi và Luật quốc tế cũng phải thay đổi theo để phù hợp với xu hướng đó.

.Vai trò của luật quốc tế trong giai đoạn hợp tác và đối thoại hiện nay

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

a, Luật quốc tế cổ đại

Hình thành trên nền tảng kinh tế thấp kém, quan hệ giữa các quốc gia yếu ớt, rời rạc, lại bị cản trở bởi điều kiện tự nhiên và phát triển xã hội rất hạn chế nên luật quốc tế thời kỳ này mang tính khu vực là chủ yếu và hầu như chỉ được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ về chiến tranh và ngoại giao. Việc điều chỉnh các vấn đề này chủ yếu dựa vào các luật lệ và tập quán.

Luật quốc tế giai đoạn này đã đóng góp vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế. Mặc dù pháp luật quốc tế thời kỳ này còn bó hẹp trong phạm vi của từng khu vực nhất định, tuy nhiên nội dung các quy phạm thời kỳ này đã đặt nền móng cho sự ra đời của Luật Nhân đạo quốc tế sau này. Ngoài ra, do nhu cầu là cơ sở cho các quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao sau này, thiết lập các quan hệ bang giao giữa các quốc gia nên việc trao đổi các sứ thần bắt đầu hình thành.

b, Luật quốc tế trung đại:

Thời kì này đánh dấu khoa học-kỹ thuật bắt đầu phát triển, ranh giới giữa nhà nước và tư nhận bắt đầu bị xóa nhòa, sở hữu nhà nước thuộc về những người đứng đầu nhà nước. Đồng thời sự xuất hiện của tôn giáo có ảnh hưởng không nhỏ tới nhận thức của con người.

Luật quốc tế trong thời kỳ này đã có những bước phát triển nhất định. Do nhu cầu phát triển kinh tế, khoa học-kỹ thuật nên tính khu vực trong thời kỳ này dần bị phá vỡ và thay vào đó là các quan hệ có tính liên khu vực, liên quốc gia. Cũng trong thời kỳ này, bên cạnh những vấn đề chiến tranh, sự hợp tác của các quốc gia còn mở rộng sang một số lĩnh vực khác như: kinh tế, chính trị… Việc điều chỉnh các quan hệ này dựa vào nguồn luật tập quán và bước đầu có sự xuất hiện của điều ước quốc tế.

Với những thay đổi của mình, LQT giai đoạn này đã đóng góp vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế. Sang thời kỳ này, luật quốc tế đã có những bước hoàn thiện nhất định với sự xuất hiện của các quy phạm và chế định về Luật Biển, về quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao và việc xuất hiện cơ quan thường trực của quốc gia tại quốc gia khác (đầu tiên là vào năm 1455). Đây là những tiền đề quan trọng cho quá trình phát triển luật quốc tế hiện đại sau này.

c, Luật quốc tế Cận đại

Bước sang thời kì này các quan hệ quốc tế đã phát triển trên nhiều lĩnh vực khác nhau và thời kỳ này luật quốc tế phát triển tương đối rực rỡ.

Đây là thời kỳ các quốc gia tăng cường mối quan hệ hợp tác trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống quốc tế, là thời kỳ luật quốc tế được phát triển trên cả hai phương diện luật thực định và khoa học pháp lý quốc tế. Nguồn luật điều chỉnh vẫn là tập quán quốc tế và điều ước quốc tế.

LQT thời kì này góp phần đóng góp vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế. Đây là thời kỳ ghi nhận sự hình thành các nguyên tắc mới của luật quốc tế như: nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Tuy nhiên, đóng góp quan trọng nhất là sự ra đời của các tổ chức quốc tế đầu tiên đánh dấu sự liên kết và ràng buộc có tính cộng đồng quốc tế của các quốcgia như: Liên minh điện tín quốc tế (1865), Liên minh bưu chính thế giới (1879)..

d, Luật quốc tế Hiện đại

Trên bình diện chung, hệ thống quốc tế được tạo thành bởi nhiều yếu tố, như các quốc gia; các tổ chức quốc tế liên quốc gia; các thực thể quốc tế khác (và các thiết chế quốc tế của những tổ chức này); luật quốc tế và các quy phạm khác của hệ thống quốc tế. Giữa các yếu tố này có sự gắn kết với nhau trong những mối quan hệ tương tác, tạo thành hệ thống quốc tế. Đặc trưng tiêu biểu của hệ thống quốc tế được thể hiện qua yếu tố trung tâm là quốc gia và những mối quan hệ, liên kết giữa quốc gia với yếu tố khác, thông qua sự điều chỉnh của các loại quy phạm mang tính pháp lý - chính trị và với những phương thức nhất định. Liên quan đến quốc gia và sự phát triển của hệ thống quốc tế, luật quốc tế hiện đại giữ vai trung tâm, bởi được các quốc gia và thực thể quốc tế khác sử dụng với tính chất là công cụ pháp lý để duy trì sự phát triển của hệ thống này trong một trật tự pháp luật nhất định và có sự bao quát tới hầu hết các lĩnh vực của đời sống quốc tế.

Hình thành và tồn tại trong hệ thông quốc tế như vậy, kết hợp với xu thế phát triển của thời đại (xu thế quốc tế hóa mọi mặt của đời sống quốc tế ở cả hai cấp độ, khu vực và toàn cầu, dựa trên cơ sở nền kinh tế trí thức), luật quốc tế hiện đại trong những thập nguyên đầu của thế kỉ XXI là kết quả và là sự phản ánh các quan hệ quốc tế trong điều kiện hợp tác, phát triển của cộng đồng thế giới đang có những thay đổi to lớn về mọi phương diện, cấp độ, tuân theo quy luật vận động khách quan ở từng quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu.

2. Vai trò của Liên hiệp Quốc trong giai đoạn đối thoại, hợp tác hiện nay:

Đối thoại, hợp tác là việc các bên tự nguyện đứng ra thỏa thuận, thương lượng với nhau về một vấn đề. Việc đối thoại, hợp tác này phải trên cơ sở của sự bình đẳng, thiện chí, tôn trọng ý kiến của nhau. Cùng nghĩ tới lợi ích của mình và của bên còn lại. Đồng thời, mỗi bên nghiêm chỉnh thực hiện các vấn đề mà cả hai đã thỏa thuận được với nhau.

Xu thế toàn cầu hóa hiện nay đã và đang đẩy mạnh các chủ thể của luật quốc tế mà chủ yếu là quốc gia phải nghĩ tới vấn đề đối thoại, và hợp tác. Bởi nó liên quan tới sự phát triển, tồn vong của từng quốc gia khi đặt chân vào sân chơi của thế giới.

LQT chi phối tới các quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, việc thực thi LQT phải do chính các chủ thể của LQT thực hiện. Thực thi LQT thể hiện đặc trưng có tính bản chất của LQT là thông qua cơ chế thỏa thuận hoặc sự tự điều chỉnh của từng quốc gia. Vì vậy, không có cơ chế mang tính quyền lực quốc tế áp đặt cho quá trình thực hiện LQT trừ những cơ chế kiểm soát quốc tế trong những lĩnh vực nhất định, có sự thỏa thuận của các quốc gia. Trong thực tiễn thực thi LQT, các quốc gia phải tự điều chỉnh trên cơ sở các quy định của LQT đối với các hoạt động thực hiện nghĩa vụ chung của chủ thể LQT và những nghĩa vụ cá thể phát sinh từ tư cách thành viên ĐƯQT hay tổ chức quốc tế. Chẳng hạn, trong lĩnh vực LQT về quyền con người, bên cạnh cơ chế quốc tế nhằm duy trì hoạt động bảo vệ, phát triển các quyền con người cơ bản mà LQT quy đinh, từng quốc gia đều xây dựng cơ chế quốc gia (theo quy định của LQT) để đảm bảo cho các quyền của con người cơ bản được thực hiện ở quốc gia đó. Việc tạo dựng và duy trì hoạt động của cơ chế quốc gia trong từng lĩnh vực nhân quyền là nghĩa vụ và trách nhiệm của từng quốc gia.

Khi các quy định của LQT không được một chủ thể thực thi theo đúng yêu cầu (tức có sự vi phạm về nghĩa vụ thành viên hoặc vi phạm quy định của LQT) thì pháp luật sẽ ràng buộc chủ thể vi phạm vào những trách nhiệm pháp lý quốc tế cụ thể để buộc chủ thể đó phải có nghĩa vụ trong việc khôi phục lại trật tự pháp lý quốc tế đã bị xâm hại.

Bên cạnh đó, để đảm bảo cho việc thực thi LQT được diễn ra, đã hình thành Cơ chế kiểm soát quốc tế (từ nửa sau thế kỉ XX). VD: Cơ chế làm và bảo vệ báo cáo quốc gia của các thành viên CEDAW, cơ thế thanh sát của Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân…

Từ những phân tích trên có thể kể đến vai trò cơ bản LQT trong một số lĩnh vực cụ thể sau:

a, Đảm bảo quyền con người

Về pháp lý, quyền con người là phẩm giá , năng lực, nhu cầu và lợi ích hợp pháp của con người được thể chế, bảo vệ bởi luật quốc gia và luật quốc tế.

Quyền con người được bắt đầu từ môi trường quốc gia, trước khi cộng đồng quốc tế có thể thống nhất với nhau về những giá trị, chuẩn mực, quy định hay nguyên tắc chung để điều chỉnh cách thức ứng xử của các quốc gia đối với công dân của nước đó và cả công dân của các nước khác. Các chuẩn mực về quyền con người nhìn từ góc độ quốc gia hay quốc tế đều nhằm hạn chế sự tự do xâm phạm quyền con người của nhà nước trong cả hai lĩnh vực các quan hệ trong nội bộ quốc gia và các quan hệ quốc tế. Còn sự phân loại các nhóm quyền theo chủ thể, tính chất hay nội dung quyền có tính chất để xác định hay nhận diện quyền con người với ý nghĩa là những quyền năng cụ thể, theo các tiêu chí hay chuẩn mực nhất định, để có cơ chế điều chỉnh, giám sát, điều phối các hoạt động liên quan đến việc bảo vệ, phát triển quyền con người ở những quy mô và cấp độ khác nhau.

Các quyền cơ bản của con người trong luật quốc tế bao gồm :

+ Quyền dân sự chính trị;

+ Các quyền về kinh tế – xã hội – văn hóa.

Các quyền này trên thực tế đã được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế như: Công ước về các quyền dân sự và chính trị (1966

Danh mục 44 quyền con người cần được bảo vệ bằng luật quốc tế đã được ghi nhận cụ thể trong 3 văn kiện quốc tế quan trọng về quyền con người, cụ thể là: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR), Công ước về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) và công ước quốc tế về các quyền KT-XH-VH (ICẺC) do Liên hiệp quốc ban hành. Những văn bản này tạo nên Bộ luật tổng thể về nhân quyền mang lại giá trị CT-XH và lịch sử thời đại, đồng thời mở ra cho quá trình quốc tế hóa và nội luật hóa các quyền con người với những chuẩn mực mới trong Luật quốc tế và Luật quốc gia và ngược lại, các quốc gia cũng xem các quyền này là những quyền cơ bản của con người để trên cơ sở đó có các biện pháp pháp lý bảo vệ hữu hiệu.

Để đảm bảo tính thực thi cho các quyền này thì LQT đã có những cơ chế bảo vệ và phát triển quyền con người bao gồm các thiết chế quốc tế và quốc gia cùng với hệ thống luật quốc tế (như các điều ước quốc tế về quyền con người) và luật quốc gia tương ứng. Nội dung cụ thể của công việc bảo vệ quyền thông qua các thiếu chế cơ bản của LQT đó là : Quy định các nguyên tắc, nhiệm vụ và các ĐƯQT để các quốc gia tham gia kí kết và thực hiện nhằm bảo vệ quyền dân tộc tự quyết, an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và quyền con người.

- Năm 1946, Đại hội đồng LHQ đã ban hành nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế đã được quy chế Tòa án Nurrumbe và các phán quyết của nó công nhận như là các nguyên tắc được thừa nhận chung trong LHSQT với vai trò để khẳng định việc bảo vệ ANQG, QNQT và quyền con người : nguyên tắc cấm chiến tranh xâm lược; nguyên tắc trừng phạt bằng Luật hình sự đối với các tội phạm quốc tế…

Ngoài ra trong Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948, Công ước về quyền dân sự, chính trị năm 1966 của LHQ; Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (1966); Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân việt đối với phụ nữ (1979); Công ước về quyền trẻ em (1989)… và hàng loạt các văn bản khác cũng đã ghi nhận các nguyên tắc trong việc bảo vệ quyền con người như: Nguyên tắc hợp tác giữa các quốc gia trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm; nguyên tắc cấm tra tấn; nguyên tắc cấm phân biệt đối xử với phụ nữ…

- Tuy nhiên, cần lưu ý Công ước về quyền dân sự, chính trị năm 1966 đã dành phần I với duy nhất 1 điều quy định về quyền dân tộc tự quyế với tư cách là quyền tập thể của con người. Có thể khẳng định đây là lần đầu tiên quyền quốc gia – dân tộc được ghi nhận với tư cách là quyền con người. Do đó, các thành viên của Công ước này, kể cả các quốc gia có trách nhiệm quản lý các lãnh thổ Ủy trị và các lãnh thổ quản thác, phải thúc đẩy việc thực hiện quyền tự quyết và phải tôn trọng quyền đó phù hợp với quy định của Hiến chương LHQ. Về sau quyền này được tái khẳng định trong Tuyên bố viên và chương trình hành động 1993.

- Tiếp đó năm 1973, Đại hội đồng LHQ đã tiếp tục thông qua nghị quyết về cá nguyên tắc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực truy tìm, bắt giữ, dẫn độ và trừng phạt các cá nhân phạm tội ác chiến tranh và tội ác chống loài người. Như vậy, đây là nguyên tắc có tính đặc trưng thể hiện nghĩa vụ hợp tác quốc tế của các quốc gia thành viên của LHQ trong các lĩnh vực đã nêu, qua đó việc bảo vệ ANQG, AN toàn XH và bảo đảm xử lý nghiêm minh, kịp thời các cá nhân có hành vi vi phạm các tội ác xâm phạm đến quyền con người, đến giá trị văn minh của nhân loại.

- Một văn bản có giá trị quốc tế quan trọng trong lĩnh vực tư pháp hình sự để bảo vệ các quyền con người đó là quy chế Tòa hình sự quốc tế (ICC) có thẩm quyền xét xử các tội phạm diệt chủng, TP chống loài người, TP chiến tranh và TP xâm lược. ICC được thành lập ra với mục tiêu bắt cá nhân phải chịu trách nhiệm cho các tội ác đã được liệt kê trong danh sách những tội phạm nghiêm trọng và mức độ lớn cho những giá trị chung của con người. Quy chế này đã khẳng định việc cần phải trừng trị các tội ác nghiêm trọng nhất xâm phạm đến quyền con người, đồng thời xây dựng cơ chế trừng phạt những cá nhân phạm tội ác xâm phạm quyền con người.

Có thể nói, với những văn bản pháp lí quốc tế quan trọng như trên thì vấn đề đảm bảo quyền con người trong quá trình hợp tác, đối thoại hiện nay càng phải được chú trọng.

b, Giữ gìn hòa bình an ninh quốc tế

Loài người đã bước sang thiên niên kỷ thứ ba, nhìn lại hơn 2000 năm trước, chiến tranh và hòa bình luôn là những vấn đề to lớn nhất, bức xúc nhất của nhân loại. Hòa bình và đe dọa hòa bình, chiến tranh và nguy cơ chiến tranh hầu như đan xen nhau, lúc ở xứ này, lúc ở khu vực kia và có lúc lên tới quy mô toàn cầu. Cuốn theo nó không chỉ công sức và thời gian mà còn là triệu triệu sinh mạng con người và những khối lượng của cải vật chất khổng lồ không sao tính hết. Trong giai đoạn hiện nay, mặc dù nguy cơ chiến tranh hủy diệt đã bị đẩy lùi nhưng chiến tranh cục bộ và xung đột vũ trang vẫn xảy ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp. Thực tế này buộc các quốc gia phải phát huy tối đa khả năng của chính mình đồng thời không ngừng thúc đẩy sự hợp tác với các quốc gia khác trong phạm vi khu vực cũng như trên quy mô toàn cầu nhằm duy trì hòa bình, an ninh quốc tế.

Thực tế những năm vừa qua, tình hình an ninh – chính trị thế giới có nhiều diễn biến rất phức tạp, trong đó phải kể đến các diễn biến liên quan các vấn đề không phổ biến vũ khí hạt nhân, vấn đè chống khủng bố, căng thẳng và sự gia tăng bạo lực tại các địa bàn đang diễn ra xung đột và tranh chấp, nhất là ở châu Phi và việc bùng nổ căng thẳng, xung đột ngay trong lòng châu Âu.

Nếu như trước đây các quốc gia có thể tự bảo đảm an ninh hoặc trông cậy váo sự giúp đỡ hạn chế của một vài đồng minh thì ngày nay khả năng tự giải quyết một cách đơn phương ấy đã trở lên khó khăn trong môi trường thế giới ngày càng gia tăng sự tùy thuộc vào lẫn nhau giữa các quốc gia. Điều kiện phát triển và tương quan của các mối quan hệ quốc tế hiện hành đòi hỏi phải có những viên pháp và cơ chế pháp lý quốc tế cần thiết, trong đó tồn tại hệ thống an ninh tập thể vừa có tính khu vực, vừa có tính toàn cầu, với việc sử dụng hiệu quả các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp và xung đột quốc tế, kết hợp thực hiện liên tục các biện pháp giải trừ quân bị và củng cố lòng tin bằng nhiều hoạt động cụ thể giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế. VD: Các quốc gia kí kết các hiệp định không phổ biến vũ khí hạt nhân. Hoặc giữa các cường quốc lớn như Nga với Mỹ kí kết với nhau hiệp ước song phương nhằm tiêu hủy 1 lượng các loại vũ khí chiến tranh nguy hiểm…

Luật quốc tế đã thừa nhận việc bảo vê, giữ gìn hòa binh an ninh là một trong những hoạt động có tầm quan trọng đặc biệt, có tính bắt buộc đối với mọi quốc gia thành viên. Điều này được cụ thể hóa ở ngay trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế mà cụ thể là nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ hay dùng vũ lực lực và chứa đựng trong một số nguyên tắc khác như nguyên tắc hòa bình để giải quyết các tranh chấp quốc tế.

Một lần nữa vào năm 1984, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã thông qua Nghị quyết 39/11 tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế trong mục đích họat động của mình. Trong kỷ nguyên hạt nhân, việc thiết lập nên một nền hòa bình bền vững nhằm giữ gìn nền văn minh nhân loại của trái đất sẽ là vấn đề sống còn của nhân loại.

Vai trò của LQT trong vấn đề hòa bình an ninh không chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết mà trên thực tế hiện nay vai trò đó đang phát huy tốt khả năng của mình. Cụ thể như:

Như vấn đề Triều tiên phóng thử tên lửa, thì LHQ đã có những động thái yêu cầu Triều tiên dừng các cuộc thử nghiệm lại vì điều này có ảnh hưởng tới hòa bình, an ninh của các quốc gia khác.

Trong các vấn đề liên quan chế độ không phổ biến vú khí hạt nhân, có vấn đề hạt nhân I-ran. Đứng dưới góc độ Luật quốc tế cần phải tôn trọng quyền của các quốc gia được phép phát triển, sản xuất và sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình. Đồng thời, nghiêm cấm việc sản xuất hạt nhân nhằm phục vụ cho mục đích quân sự; chống phổ biến vũ khí hạt nhân; ủng hộ giải quyết vấn đề thông qua hợp tác, đối thoại; chống việc áp dụng các biện pháp trừng phạt không chính đáng cản trở các hoạt động kinh tế, giao thương bình thường giữa các quốc gia.

Trong vấn đề Kosovo, cần nhận thấy hành động đơn phương tuyên bố độc lập của nước này là một tiền lệ nguy hiểm trong quan hệ quốc tế. Để phù hợp với tinh thần Nghị quyết 1244 (1999) thì HĐBA cần có những hành động thích đáng, theo đó quy chế mới của Kosovo phải được quyết định thông qua thương lượng và được sự nhất trí của tất cả các bên liên quan.

Trong vấn đề Mianma, trên bình diện của LQT cần tăng cường sự hợp tác của cộng đồng quốc tế, trong đó có LHQ và ASEAN với Chính phủ Mianama để thúc đẩy đối thoại và hòa giải dân tộc. Đồng thời kiên trì quan điểm vận mệnh của Mianma phải do Chính phủ và nhân dân Mianma tự quyết định.

Trong vấn đề Zimbabwe, tình hình bạo lực do tranh chấp bầu cử đang diễn ra gay gắt. Tuy nhiên, cần phải tôn trọng và tuân thủ nguyên tắc không can thiệp công việc nội bộ của quốc gia. Qua đó cần ủng hộ vai trò trung gian, hòa giải của các tổ chức và chính khách khu vực, chống lại các biện pháp trừng phạt mang tính áp đặt.

Đối với các xung đột, tranh chấp, ủng hô các giải pháp hòa bình dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương LHQ, trong đó quan trọng nhất là nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia.

Có thể nói việc tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương LHQ trong quan hệ quốc tế là yếu tố quyết định đảm bảo hòa bình, an ninh, đồng thời là những điều kiện tiên quyết cho mọi hoạt động của cộng đồng quốc tế. LHQ cần tiếp tục tích cực góp phần làm giảm căng thẳng và giải quyết hòa bình các bất đồng, xung đột còn tồn tại, trong đó có những vấn đề liên quan đến CHDCND Triều Tiên và I-ran. Cần sớm có một giải pháp hòa bình toàn diện, công bằng và lâu dài ở Trung Đông trên cơ sở đảm bảo các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Pa-le-xtin và đảm bảo lợi ích chính đáng của tất cả các bên. Tạo điều kiện cho công cuộc hòa giải dân tộc, tái thiết đất nước ở Áp-ga-ni-xtan, I-rắc và cực lực lên án các hành động khủng bố đối với người dân ở hai nước này, cũng như ở những nơi khác trên thế giới. Phản đối việc sử dụng đơn phương các biện pháp trừng phạt kinh tế chống lại các nước đang phát triển và ủng hộ các nghị quyết của Đại hội đồng LHQ về sự cần thiết chấm dứt ngay lập tức việc cấm vận kinh tế, thương mại và tài chính đối với Cu-ba.

c, Vấn đề hợp tác kinh tế đối ngoại:

Quan hệ kinh tế giữa các quốc gia đã hình thành từ rất lâu đời nhưng pháp luật quốc tế điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế quốc tế, trước hết là các quan hệ thương mại, xuất hiện muộn hơn rất nhiều. Quan hệ kinh tế quốc tế bao gồm các quan hệ thương mại quốc tế, quan hệ tài chính – tiền tệ quốc tế, vấn đề hợp tác quốc tế trog lĩnh vực khoa học – kỹ thuật, các hoạt động đầu tư nước ngoài… và được điều chỉnh bởi luật kinh tế quốc tế.

Xét trong quan hệ thương mại quốc tế: để đảm bảo lợi ích của nhau, đảm bảo quá trình phát triển có hiệu quả của hợp tác kinh tế quốc tế, quan hệ thương mại quốc tế giữa các quốc gia được điều chỉnh thông qua các điều ước quốc tế song phương và đa phương. Chẳng hạn điều chỉnh liên quan đến hoạt động thương mại hàng hóa nông nghiệp trong đó quy định khối lượng hàng hóa cung cấp trên thị trường thì các bên có thể kí kết các hiệp định hàng hóa. Mục đích chung của các hiệp định hàng hóa là ổn định giá cả của thị trường thế giới bằng biện pháp cân bằng giữa cung và cầu, mở rộng hợp tác quốc tế trên thị trường thế giới… Chính vì vậy, trong một số hiệp định loại này đã ấn định việc thành lập quỹ dự phòng một số sản phẩm như thiếc, cao su. Nhờ có quỹ dự phòng này có thể ngăn chặn được sự thay đổi đột ngột của giá cả hàng hóa và khả năng xuất hiện khủng hoảng trong sản xuất cũng như trong buôn bán loại hàng hóa này…

Có thể nói, các ĐƯQT đa phương ngày nay là huyết mạch của luật kinh tế quốc tế. Trong đó phải kể đến Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT) năm 1947 và hệ thống các Hiệp định Maraket 1994 hình thành tổ chức thương mại quốc tế (WTO). Đồng thời, việc duy trì và phát triển quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia phần lớn thông qua các điều ước song phương, trong đó phải kể đến các hiệp ước về hữu nghị và hợp tác, hiệp ước thương mại - hàng hải, hiệp định thương mại, hiệp định thanh tóan, hiệp định tín dụng, đầu tư, hợp tác khoa học công nghệ, thuế quan, lao động v.v…

Việc kí kết các ĐƯQT giữa mỗi quốc gia phải dựa trên các nguyên tắc của luật kinh tế quốc tế. Đó là sợi chỉ xuyên suốt đảm bảo việc kí kết đúng LQT, cũng như làm cơ sở cho việc giải quyết các tranh chấp quốc tế. Các nguyên tắc này gồm có: nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc tối huệ quốc, nguyên tắc đối xử quốc gia và nguyên tắc đối xử ưu đãi.

Chỉ xem xét riêng một chế độ đãi ngộ tối huệ quốc thôi có thể thấy rõ vai trò của LQT đối với vấn đề hợp tác kinh tế. Theo đó, trong mối quan hệ giữa các quốc gia kí điều khoản tối huệ quốc và các quốc không có tối huệ quốc thì phải dành quyền ưu đãi hơn hoặc tối thiểu bằng so với các quốc gia không có tối huệ quốc. Đối với các quốc gia cùng có điều khoản tối huệ quốc thì được đảm bảo quyền ưu đãi và bình đẳng với nhau. VD: Mỹ kí ĐƯQT với Việt Nam , Trung Quốc, Pháp trong đó có điều khoản tối huệ quốc. Trong trường hợp Mỹ đánh mức thuế vải đối với Việt Nam là 6%, với Trung Quốc là 7%, với Pháp là 8%. Trường hợp này, Mỹ đã vi phạm nguyên tắc tối huệ quốc. Ở đây, các quốc gia đã kí kết ĐƯ tối huệ quốc với Mỹ đều có quyền được hưởng mức thuế suất giống nhau và ưu đãi nhất, cụ thể Mỹ phải áp dụng mức thuế 6% với cả 3 quốc gia.

Bên cạnh đó, nói tới vấn đề hợp tác kinh tế, không thể không nhắc tới những thiết chế kinh tế quốc tế hiện hành làm cơ sở cho việc bảo đảm và thực thi ĐƯQT được kí kết giữa các quốc gia. Đó bao gồm thiết chế kinh tế phổ cập (Liên hiệp quốc và Tổ chức thương mại thế giới) và tổ chức kinh tế quốc tế khu vực (có thể kể đến như ASEAN, EU, NAFTA).

Đối với LHQ chức năng điều phối quan hệ hợp tác kinh tế dành cho Đại hội đồng với sự hỗ trợ của Hội đồng kinh tế – xã hội (ECOSOC) trong đó có các cơ quan giúp việc như Ủy ban luật thương mại quốc tế (UNCITRAL).

Đối với WTO thì nhiệm vụ trọng tâm của Tổ chức là tự do hóa thương mại bằng biện pháp cắt giảm thuế quan và hủy bỏ các hàng rào phi thuế quan, mở rộng lưu thông quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm sự phát triển kinh tế ổn định cho các quốc gia, bảo vệ và sử dụng bền vững môi trường sống.

Đặc biệt, sự ra đời của diễn đàn kinh tế quốc tế đa phương APEC càng khẳng định xu thế tự do hóa thương mại từ khu vực cho đến toàn cầu, tiến tới tăng cường lợi ích chung cho tất cả các thành viên về vươn lên tầm quốc tế trong lĩnh vực kinh tế. Vai trò của diễn đàn trong quan hệ đối thoai hợp tác thể hiện ngay trong mục tiêu cụ thể của APEC như: phát triển và tăng cường hệ thống thương mại đa phương vì lợi ích của nền kinh tế khu vực và của tất cả nền kinh tế khác; giảm bớt rào cản thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư… Việc APEC ra đời đáp ứng đúng lúc nhu cầu của các nền kinh tế ngày càng tùy thuộc vào nhau nhiều hơn của khu vực châu Á – Thái Binh Dương cũng như trên toàn thế giới.

Như vậy, với những thiết chế trên đã tạo ra một hành lang pháp lý quốc tế chắc chắn giúp giữ vững ổn định và trật tự các quan hệ kinh tế quốc tế. Tạo điều kiện cho các quan hệ này ngày càng phát triển hơn nữa.

3. Vai trò của liên hiệp quốc trong bối cản toàn cầu hóa ở Việt nam

Toàn cầu hoá làm cho hệ thống pháp luật Việt Nam trở thành hệ thống pháp luật mở. Các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia cùng với các tập quán quốc tế mà Việt Nam thừa nhận trở thành một bộ phận trong hệ thống pháp luật Việt Nam . Thực tiễn đó buộc chúng ta phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa các nguồn của pháp luật quốc tế và các nguồn của pháp luật quốc gia.

Việt Nam hiện đang là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế quan trọng như APEC, WTO và còn là ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc. Điều này mang lại vị trí và tiếng nói cho Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, tạo cơ hội thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, đất nước. Tuy nhiên, đi kèm với những thời cơ luôn luôn là thách thức. Việc kí kết các điều ước với các tổ chức quốc tế hay với các quốc gia khác đồng nghĩa với việc Việt Nam cũng phải chấp nhận những bất lợi do yêu cầu của bên còn lại. Thực tế đó, đòi hỏi Việt Nam phải nhanh chóng thích nghi với điều kiện hội nhập và không ngừng đổi mới khắc phục toàn diện các mặt còn hạn chế, góp phần từng bước nâng Việt Nam trở thành một cường quốc vững mạnh.

III. LỜI KẾT

Có thể nói, Luật quốc tế đóng một vai trò vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong việc điều hòa các quan hệ quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay thì vai trò đó ngày càng được khẳng định. Tuy nhiên, bên cạnh những vai trò to lớn đó, cũng phải nói đến những vấn đề còn tồn tại mà LQT hiện chưa thể giải quyết được. Lấy một dẫn chứng cho vấn đề hòa bình ở Trung Đông, dường như chưa có một cách thức giải quyết thật ổn thỏa cho các bên. Mặc dù theo các nguyên tắc của Luật quốc tế thì vấn đề này đã có thể được giải quyết. Như vậy, không phải trong mọi trường hợp đều chỉ có căn cứ vào LQT để giải quyết mà bên cạnh đó còn phải dựa trên hoàn cảnh, điều kiện cụ thể mỗi quốc gia. Bởi suy cho cùng, LQT được xây dựng từ chính các chủ thể của LQT trong đó có quốc gia.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004.

2. PGS.TS. Thái Vĩnh Thắng, Mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá, Tạp chí Luật học số 2/2003.

3. TS.Trần Vân Thắng, Mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia trong pháp luật và thực tiễn các nước, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật Số 4/2002.

4. Hệ thông văn kiện pháp lý quan trọng về quyền con người:

http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/12/25/2140/

5. Nguyễn Trường Giang, Những phát triển của Luật pháp quốc tế trong thế kỷ XXI, Nxb CTQG, Hà Nội, Năm 2008.

6. Trịnh Tiến Việt, Những vấn đề pháp lý cơ bản về luật hình sự quốc tế và việc bảo vệ quyền con người, Tạp chí toà án nhân dân – số 8/2009.

7. Cùng các tài liệu tham khảo khác.

(CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ sưu tầm trên internet)

>> Xem thêm:  Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa cá nhân với cá nhân thì bên bán có cung cấp hóa đơn theo quy định của pháp luật hay không ?

2. Phân tích các quy phạm luật Quốc Tế ?

Các quy phạm Luật Quốc tế không giống nhau cả về nội dung và hình thức, bao gồm: các quy phạm thành văn và các quy phạm bất thành văn. Quy phạm thành văn như quy phạm điều ước và các văn kiện của tổ chức quốc tế và của hội nghị quốc tế. Các quy phạm đó điều chỉnh các quan hệ quốc tế khu vực, liên khu vực và toàn cầu trên cơ sở quyền và trách nhiệm của quốc gia này đồng thời cũng là quyền và trách nhiệm của quốc gia tương ứng (trừ các điều khoản bảo lưu [1].

Quy phạm bất thành văn được tồn tại dưới dạng tập quán quốc tế, được cộng đồng quốc tế công nhận là quy phạm bắt buộc và chúng có thể được ghi nhận trong các phán quyết của tòa án, cơ quan trọng tài, nghị quyết của tổ chức quốc tế, thậm chí có cả trong các văn bản đơn phương của các quốc gia. Quy phạm tập quán có thể trở thành quy phạm điều ước thông qua việc luật hóa và khi đó cùng một quy phạm đối với một số quốc gia này là quy phạm điều ước, còn đối với nhóm quốc gia khác là quy phạm tập quán(1) Cùng với sự phát triển tiến bộ của Luật Quốc tế, quy phạm điều ước ngày càng thể hiện vai trò quan trọng và chủ yếu trong việc điều chỉnh phần lớn các quan hệ quốc tế hiện đại, nhưng điều đó không có nghĩa là quy phạm điều ước có thể thay thế hoàn toàn các quy phạm tập quán [2]. Vấn đề này đã được các nhà khoa học Luật Quốc tế trên thế giới nghiên cứu trong các công trình khoa học của mình và phần lớn trong số họ đều cho rằng quy phạm tập quán là nguồn cơ bản của Luật Quốc tế [3].

Trong hệ thống Luật Quốc tế có các ngành luật, các chế định pháp luật điều chỉnh các quan hệ quốc tế khác nhau. Chẳng hạn như, các quy phạm của Luật vũ trụ thì quy định quy chế pháp lý của khoảng không vũ trụ, mặt trăng và các thiên thể khác; Công ước về Luật điều ước quốc tế thì quy định về quy trình ký kết và thực thi điều ước; Luật an ninh quốc tế lại bao hàm các biện pháp đảm bảo hòa bình và an ninh quốc tế; Công ước về Luật Biển thì điều chỉnh Luật Biển quốc tế; Công ước về luật lệ và tập quán chiến tranh điều chỉnh về Luật nhân đạo quốc tế, v.v…

Tiệm cận các quy phạm luật Quốc Tế

Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

Như vậy, tuỳ theo số lượng chủ thể, theo phạm vi và các quan hệ quốc tế giữa chúng mà các quy phạm Luật Quốc tế được phân chia thành các quy phạm phổ biến toàn cầu và các quy phạm khu vực(2). Các quy phạm khu vực điều chỉnh quan hệ giữa hai hoặc một số các quốc gia theo không gian địa lý nhất định và thường gắn liền với lợi ích của các quốc gia đó, bao gồm các quy phạm song phương, quy phạm đa phương hạn chế. Quy phạm khu vực thường phản ảnh các điều kiện và đặc điểm lợi ích của các quốc gia khu vực, mà trong đó có sự hiện diện của các quy phạm chung nhằm đảm bảo thực thi quy phạm khu vực. Trong một vài trường hợp đặc biệt, quy phạm khu vực lại có vai trò như quy phạm phổ biến (như các quy phạm trong các Điều ước Xô-Mỹ về xóa bỏ các loại vũ khí tên lửa tầm trung và tầm ngắn; về cắt giảm và hạn chế các loại vũ khí tiến công chiến lược, v.v…). Quy phạm phổ biến toàn cầu điều chỉnh các quan hệ mà đối tượng của chúng là lợi ích chung của cộng đồng quốc tế và được tất cả (hoặc đa số) các quốc gia trên thế giới công nhận (như các quy phạm được quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ) và trong các Công ước: Công ước về quan hệ ngoại giao; các Công ước về các quyền của con người; và Công ước bảo vệ nạn nhân chiến tranh, v.v…). Ngoài ra, cần lưu ý rằng sau khi LHQ thông qua Công ước về Luật điều ước quốc tế năm 1969 (Điều 53) thì trong hệ thống các quy phạm chung xuất hiện quy phạm mệnh lệnh Jus cogens(3)- đó là hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế, là các quy phạm bắt buộc chung, là chuẩn mực để các chủ thể Luật Quốc tế hợp tác quốc tế hoặc giải quyết các vấn đề quốc tế. Các quy phạm nguyên tắc này đã chiếm một vị trí đặc biệt trong hệ thống các quy phạm Luật Quốc tế vì các lý do sau đây: a) Là các quy phạm chung có nội dung rộng được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế quan trọng, là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng các quy phạm Luật Quốc tế và tạo thành khung pháp lý điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia như: Hiến chương và Tuyên bố (1970) của LHQ; trong Kết luận của Hội nghị An ninh và Hợp tác Châu Âu (CSCE) năm1975 và trong Hiến chương Paris về một Châu Âu mới năm 1990, v.v…; b) Có hiệu lực không gian trên phạm vi toàn cầu, điều chỉnh hợp tác quốc tế kể cả các quan hệ truyền thống và các quan hệ quốc tế hiện đại như ứng dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình, hoặc nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ, v.v…; c) Là các quy phạm được cộng đồng quốc tế công nhận và bắt buộc chung đối với tất cả thành viên LHQ(4) (Điều 2, Hiến chương LHQ) và kể cả các quốc gia không là thành viên LHQ khi họ tham gia vào sinh hoạt cộng đồng (khoản 6, Điều 2, Hiến chương); d) Vừa có tính định chế lẫn nhau, vừa có tính tổng hợp cao và đã được khẳng định trong Tuyên bố của LHQ năm 1970. Hệ thống các quy phạm Luật Quốc tế này đã thể hiện tính liên thông trong việc giải thích và áp dụng, tức là mỗi nguyên tắc cần phải được xem xét trong tổng thể với tất cả các nguyên tắc khác; đ) Là quy phạm jus cogens có hiệu lực pháp lý cao nhất, các quy phạm còn lại không được xung đột với chúng, đó là cơ sở duy trì sự ổn định trật tự pháp lý và pháp chế quốc tế; và e) Là các quy phạm cơ bản, quan trọng nhất và là “thước đo” cho cả hệ thống pháp Luật Quốc tế, đặt nền móng pháp lý cho quan hệ giữa các chủ thể trong quá trình xây dựng và thực thi Luật Quốc tế, có vai trò như hiến định trong hệ thống pháp luật quốc gia, các quy phạm khác của Luật Quốc tế đương nhiên không được trái với các nguyên tắc này.

Trong các văn bản của pháp luật quốc gia và luật quốc tế, chúng ta thường gặp khá phổ biến thuật ngữ “các nguyên tắc và các quy phạm Luật Quốc tế”. Vậy thuật ngữ đó cần được hiểu như thế nào? các nguyên tắc khác so với các quy phạm. Có nhiều nhà khoa học – Luật Quốc tế đã cho rằng giữa các nguyên tắc và các quy phạm chỉ khác nhau ở sự khái quát hoá và hiệu lực pháp lý. Các nguyên tắc là các quy phạm chung nhất, có tính khái quát quy phạm cao nhất và đã được khẳng định trong thực tiễn quan hệ giữa các quốc gia – giữa các chủ thể của Luật Quốc tế. Điều đó đã được minh chứng bằng thực tiễn, chẳng hạn như trong phán quyết của Toà án quốc tế về giải quyết tranh chấp giữa Mỹ – Canađa về ranh giới Vịnh Meil đã nhấn mạnh thuật ngữ “các nguyên tắc và các quy phạm” đều thể hiện chung một ý nghĩa pháp lý. Đó là thuật ngữ “các nguyên tắc” có nghĩa là các nguyên tắc pháp lý, chúng được ghi nhận trong các quy phạm Luật Quốc tế và khi nói đến thuật ngữ “các nguyên tắc” có nghĩa là nói đến các quy phạm có tính chất chung, cơ bản và quan trọng nhất [4]. Một minh chứng khác, đó là trong Nghị quyết của Đại hội đồng LHQ ngày 11/12/1946 đã nhấn mạnh rằng các nguyên tắc được ghi nhận trong Quy chế toà án quân sự Nurembe đã thể hiện bản chất là các nguyên tắc của Luật Quốc tế. Các nguyên tắc cũng là các quy phạm Luật Quốc tế nhưng có tính khát quát hoá hơn và có hiệu lực pháp lý cao hơn so với các quy phạm khác. Như vậy, các nguyên tắc và các quy phạm được công nhận chung của Luật Quốc tế đều là các quy phạm được cộng đồng quốc tế công nhận, được phân loại và được xem là bắt buộc đối với các chủ thể của Luật Quốc tế khi họ tham gia vào sinh hoạt cộng đồng. Nhưng trong hệ thống các quy phạm đó thì các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế chiếm một vị trí đặc biệt, các quy phạm Luật Quốc tế khác để có hiệu lực pháp lý quốc tế thì cần phải phù hợp với các nguyên tắc này. Trong Quy chế toà án quốc tế, khi phân tích thuật ngữ “các nguyên tắc chung của pháp luật” (Điều 38), chúng ta có thể hiểu thuật ngữ đó bao gồm: các nguyên tắc pháp luật chung của hệ thống pháp luật quốc gia; và các nguyên tắc và các quy phạm được công nhận chung của Luật Quốc tế.

Khác với các quy phạm khu vực và quy phạm điều ước song phương, các nguyên tắc và các quy phạm được công nhận chung của Luật Quốc tế đã tạo thành Luật Quốc tế chung. Mặc dù về mặt số lượng thì các nguyên tắc và các quy phạm được công nhận chung của Luật Quốc tế ít hơn rất nhiều so với các quy phạm khu vực và các quy phạm điều ước song phương, v.v… nhưng chúng lại đóng vai trò cơ bản (là nền tảng) cho cả hệ thống Luật Quốc tế hiện đại.

Chúng ta biết rằng, việc áp dụng các nguyên tắc và các quy phạm được công nhận chung của Luật Quốc tế rất phức tạp, không phải ở chỗ chúng được quy định trong cùng một văn bản hay trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế, mà vấn đề là trong Luật Quốc tế không có những bộ luật cụ thể như các bộ luật của pháp luật quốc gia và thậm chí số lượng các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế cũng không thống nhất và cũng không được ghi nhận cụ thể trong cùng một văn bản pháp lý quốc tế, tức là ở các văn bản khác nhau thì số lượng khác nhau. Chẳng hạn như, trong Tuyên bố năm 1970 của LHQ về các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế có

7 nguyên tắc, tiếp theo đó là 10 nguyên tắc được ghi nhận trong kết luận của Hội nghị Uỷ ban An ninh và Hợp tác châu Âu (CSCE) năm 1975, ngoài ra cách diễn đạt các nguyên tắc này trong hai văn bản đó cũng khác nhau(5).

Dựa vào đặc điểm về quyền và trách nhiệm chủ thể, các quy phạm Luật Quốc tế được phân thành các nhóm: Nhóm các quy phạm bắt buộc quy định việc phải thực hiện một hoạt động nào đó (ví dụ, quy phạm thông báo về sự cố hạt nhân); Nhóm các quy phạm cấm hoặc hạn chế một số các hoạt động nhất định (ví dụ, quy phạm quy định không vận chuyển vũ khí vi trùng); và Nhóm các quy phạm dự báo quy định về khả năng sẽ thực hiện những hành động (hoặc những biện pháp) cụ thể nào đó(6).

Các quy phạm Luật Quốc tế được chia thành hai nhóm như: các quy phạm điều chỉnh và các quy phạm bảo vệ. Nhóm các quy phạm điều chỉnh quy định về quyền và trách nhiệm chủ thể (ví dụ, theo Công ước Luật Biển năm 1982 thì quốc gia ven biển có trách nhiệm cảnh báo các nguy hiểm đối với hoạt động hàng hải trong lãnh hải của họ và quốc gia ven biển có quyền được áp dụng những biện pháp cần thiết nhằm ngăn ngừa tàu thuyền qua lại lãnh hải của họ không vì mục đích hòa bình). Nhóm các quy phạm bảo vệ được xây dựng nhằm đảm bảo thực thi các quy phạm điều chỉnh (ví dụ, các quy phạm quy định tại các Điều 41, 42 của Hiến chương LHQ quy định về các biện pháp cưỡng chế được áp dụng theo Nghị quyết của Hội đồng Bảo an).

Trong Luật Quốc tế, các quy phạm còn chia thành: Các quy phạm mệnh lệnh, các quy phạm thành văn và các quy phạm tố tụng. Các quy phạm mệnh lệnh (imperative legal norm; imperativus) có nội dung mang tính bắt buộc phải thực thi (thường gọi là Jus cogens, ví dụ như thỏa thuận không được phổ biến vũ khí hạt nhân); quy phạm tuỳ nghi (dispositive norm of law; dispositivus) là các quy phạm được áp dụng khi chưa có văn bản quy định thành văn trước đó (ví dụ, Điều 15 Công ước về Luật Biển 1982 quy định việc áp dụng đường trung tuyến để xác định ranh giới lãnh hải, khi giữa các quốc gia chưa có văn bản thỏa thuận về điều đó). Quy phạm thành văn (material) quy định quyền và nghĩa vụ của các quốc gia trong quan hệ pháp lý quốc tế, còn quy phạm tố tụng (process) quy định cách thức tổ chức thực hiện các quy phạm material (ví dụ, quy chế hoạt động của các cơ quan quốc tế; các cơ quan tư pháp quốc tế; v.v…)

Các quy phạm Luật Quốc tế do chính các chủ thể của Luật Quốc tế xây dựng, tức là trong sinh hoạt cộng đồng quốc tế, không tồn tại một cơ quan quyền lực (như quốc hội) vô hình nào nằm trên quốc gia để làm công việc “sáng tạo” quy phạm Luật Quốc tế. Các quy phạm đó được xây dựng dựa trên cơ sở bình đẳng chủ quyền quốc gia và trên cơ sở thỏa hiệp và nhân nhượng giữa các chủ thể của hệ thống pháp luật này. Tức là, trong quy trình “sáng tạo” quy phạm pháp luật quốc tế các chủ thể phải cố gắng để đạt được sự thỏa hiệp tương ứng về nội dung quy tắc xử sự; và bên cạnh đó là trong quan hệ với nhau, các chủ thể đó cùng công nhận quy tắc xử sự đó là bắt buộc (nguyên tắc tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế).

Như vậy, kết quả đạt được thường dựa trên cơ sở đồng thuận về quan điểm, tức là sự cân bằng lợi ích giữa các bên thông qua sự thỏa hiệp và nhân nhượng. Điều đó đã lý giải một vấn đề quan trọng trong quá trình đàm phán là: nếu mỗi quốc gia chỉ đặt mục đích phải cố gắng để đem lại thật nhiều lợi ích cho quốc gia mình khi đàm phán để ký về một điều ước nào đó thì đương nhiên điều ước đó sẽ khó được ký kết. Do đó, việc nhân nhượng và thoả hiệp lẫn nhau trong quá trình xây

dựng quy phạm Luật Quốc tế là cần thiết, nó đảm bảo sự cân bằng hài hoà giữa quyền lợi và nghĩa vụ. Nếu một trong các bên đàm phán khước từ sự thỏa hiệp thì cũng có nghĩa là từ chối bảo vệ lợi ích trực tiếp của quốc gia mình trong một điều ước, hay nói một cách khác việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ thành viên cũng chính là lợi ích quốc gia mình nói riêng và vì sự phát triển cộng đồng nói chung. Tuy nhiên, trong thực tiễn cũng có những trường hợp ngoại lệ về sự phân quyền và nghĩa vụ, tức là một nhóm quốc gia đảm nhiệm một số quyền và trách nhiệm này, còn một nhóm quốc gia khác lại có các quyền và nghĩa vụ tương ứng khác(7).

Vấn đề hiệu lực của điều ước thường gắn liền với quy trình xây dựng chúng, tức là: a) Điều ước có hiệu lực từ thời điểm ký, khi các bên ký điều ước đồng ý với các quy tắc xử sự và công nhận chúng có tính chất bắt buộc (là quy phạm pháp luật); còn văn bản của tổ chức quốc tế và của hội nghị quốc tế được xem là các quy phạm bắt buộc đối với tất cả các thành viên khi họ thông qua bằng hình thức bỏ phiếu hoặc biểu khuyết(8); và b) Điều ước sẽ có hiệu lực với điều kiện phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập, vv… và khoảng thời gian từ khi ký các điều ước đến khi các điều ước có hiệu lực là không giống nhau và có thể kéo dài đến nhiều năm(9). Các quy phạm tập quán được “xây dựng” theo quy trình riêng, đây là quy tắc xử sự, có tính ổn định, được khẳng định trong thực tiễn cộng đồng và cộng đồng quốc tế công nhận có tính bắt buộc (opinio juris) trong Luật Quốc tế.

Quy phạm Luật Quốc tế thường có hiệu lực pháp lý khác nhau và không phụ thuộc vào dạng ghi nhận quy tắc hành vi, chúng chỉ có cùng hiệu lực khi bình đẳng về nhu cầu và lợi ích giữa các chủ thể của hệ thống pháp luật này.

Các quy phạm khu vực không được xung đột với các quy phạm phổ biến, nhưng không phải là bản copy các quy phạm phổ biến, vì nếu vậy chúng sẽ đánh mất vai trò điều

Trong khu vực, các quy phạm có tính nguyên tắc điều chỉnh các quan hệ quan trọng thường có tính định hướng (hoặc làm cơ sở) cho các quan hệ quốc tế khu vực (ví dụ, điều ước sáng lập các khu vực ASEAN, EU, NATO, SNG, v.v…) và giữa khu vực với bên ngoài(11) (ví dụ, ASEAN+1, ASEAN+3; ASEM; APEC, v.v…). Các quy phạm đó vừa là khung pháp lý cho hợp tác quốc tế khu vực, vừa phải phù hợp với quy phạm Luật Quốc tế hiện đại, đồng thời bảo tồn và phát huy được bản sắc truyền thống của từng quốc gia trong khu vực (ví dụ, Điều 15 Điều ước Nga-Agentina ngày 25/6/1998 đã dự kiến rằng: trong trường hợp cần thiết, các bên sẽ ký các văn bản hoặc các thỏa thuận nhằm thực thi điều ước này; hoặc là tại Điều 8 Điều ước về an ninh tập thể khu vực(12) (SNG) ngày 15/5/1992 quy định các quốc gia tham gia điều ước này phải có trách nhiệm không chỉnh các quan hệ quốc tế khu vực đặc thù.

Quy phạm luật chuyên ngành thường được ưu tiên áp dụng hơn so với quy phạm chung, nhưng không xung đột với mục đích, quyền và lợi ích của các thành viên khác trong điều ước phổ biến(10). được ký các điều ước quốc tế khác mà có nội dung trái với các quy định trong điều ước này, v.v…)

Như vậy, trong luật quốc tế việc quy định hiệu lực của các quy phạm không có nghĩa là một số các quy phạm này là bắt buộc, một số khác thì không, mà bản chất của vấn đề là các quy phạm phải có sự định chế lẫn nhau, các quy phạm khu vực không được trái với các quy phạm phổ biến, lợi ích của một nhóm các quốc gia khu vực gắn với lợi ích của cộng đồng quốc tế, nhưng luôn phù hợp với Hiến chương LHQ.

Trong các văn bản pháp luật quốc gia, chẳng hạn như: Hiến pháp Đức quy định rằng trong quá trình giải quyết vụ việc, khi áp dụng các quy phạm Luật Quốc tế mà còn chưa khẳng định được các quy phạm đó đã là một phần của Luật Liên bang chưa? hoặc khi áp dụng các quy phạm mà ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ con người (Điều 25) thì trong các trường hợp đó tòa cần chuyển các vấn đề đó sang tòa hiến pháp liên bang (khoản 2, Điều 10). Trong Hiến pháp Nga còn thiếu những quy định cụ thể như vậy, nhưng trong luật về toà lập hiến Nga năm 1994 lại ghi nhận việc tòa này có quyền giải thích hiến pháp Nga (Điều 106). Hiện nay, ở Việt Nam thì chưa có toà lập hiến và trong hiến pháp cũng chưa ghi nhận vị trí của các nguyên tắc và các quy phạm được công nhận chung của Luật Quốc tế nằm ở đâu? trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Khi nghiên cứu hiến pháp ở các quốc gia, chúng ta thấy rằng nhiều quốc gia đã quy định và thậm chí khẳng định ưu tiên vị trí của các quy phạm Luật Quốc tế ngay trong hiến pháp. Chẳng hạn như Hiến pháp Nga năm 1992 quy định: các nguyên tắc và các quy phạm được công nhận chung của Luật Quốc tế là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật Nga (khoản 4, Điều 15); Nga công nhận và đảm bảo các quyền và tự do của con người và công dân phù hợp với các nguyên tắc và các quy phạm được công nhận chung của Luật Quốc tế và với hiến pháp Nga (khoản 1, Điều 17); Nga đảm bảo các quyền của các dân tộc phù hợp với các nguyên tắc chung và các quy phạm Luật Quốc tế và với các điều ước quốc tế mà Nga ký kết (Điều 69). Theo Hiến pháp Đông Đức năm 1949 thì: các nguyên tắc chung của Luật Quốc tế là bắt buộc đối với chính quyền nhà nước và với mỗi công dân (Điều 5), quy định như vậy trước đó đã được ghi nhận trong hiến pháp Đức năm 1919 (Điều 4) “các nguyên tắc chung của Luật Quốc tế có hiệu lực như là một bộ phận cấu thành bắt buộc của pháp luật đế chế Đức”.

Sau thế chiến thứ 2 thì các quy phạm như vậy được quy định trong hiến pháp của các quốc gia Châu Âu, Hiến pháp (luật cơ bản) Liên bang Đức năm 1949 quy định: các quy phạm chung của Luật Quốc tế là một bộ phận cấu thành của pháp luật liên bang và được ưu tiên áp dụng hơn luật, phát sinh trực tiếp các quyền và trách nhiệm đối với người dân liên bang (Điều 25); Hiến pháp Italy năm 1947 quy định: Các quy phạm trong hiến pháp hoàn toàn phù hợp với các quy phạm chung của Luật Quốc tế (Điều 10); Theo Hiến pháp Hy Lạp năm 1975 thì: Hy Lạp đấu tranh vì hoà bình và công lý, vì sự phát triển quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc và các quốc gia trên thế giới phù hợp với các nguyên tắc chung của Luật Quốc tế (khoản 2, Điều 2), các quy phạm chung của Luật Quốc tế là một bộ phận cấu thành của pháp luật quốc gia và có hiệu lực pháp lý cao nhất so với tất cả các văn bản pháp luật khác xung đột với chúng (khoản 1, Điều 28); Trong lời giới thiệu của Hiến pháp Pháp năm 1946 cũng quy định rằng: ưu tiên áp dụng các quy phạm của Luật Quốc tế và điều đó tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp Pháp năm 1958 về các nguyên tắc và các quy phạm được công nhận chung của Luật Quốc tế (Điều 55).

Tuyên bố của LHQ (1970) về các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế đã ghi nhận: mỗi quốc gia phải có trách nhiệm tự nguyện thực hiện các cam kết từ các nguyên tắc và các quy phạm được công nhận chung của Luật Quốc tế; các cam kết trong các điều ước quốc tế phải phù hợp với các nguyên tắc và các quy phạm được công nhận chung của Luật Quốc tế. Quy định tương tự như vậy cũng được ghi nhận trong văn bản kết luận của Uỷ ban An ninh và Hợp tác Châu Âu (1975), đó là: các quốc gia – thành viên sẽ tự nguyên thực hiện các cam kết của mình phù hợp với các nguyên tắc và các quy phạm được công nhận chung của Luật Quốc tế và kể cả các quy phạm điều ước mà họ là thành viên. Theo khoản 2, Điều 6 Hiến pháp Mỹ ngày 17/9/1787 ghi nhận rằng: hiến pháp này, các đạo luật của Hoa Kỳ và các điều ước quốc tế mà Hoa kỳ đã ký hoặc sẽ ký nhân danh nước họ đều có hiệu lực pháp lý tối cao. Đó là một số vấn đề chúng tôi muốn trao đổi cùng độc giả, nhưng hiện nay nhiều quốc gia còn “quên” chưa ghi nhận một cách cụ thể vai trò của các nguyên tắc và các quy phạm được công nhận chung của Luật Quốc tế trong đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất của quốc gia mình, mà trong số đó có Việt Nam.

Kết luận: Như vậy, khi tiệm cận các quy phạm Luật Quốc tế chúng ta thấy rằng, cũng như các quy phạm pháp luật khác, quy phạm luật quốc tế là quy tắc xử sự bắt buộc chung, được áp dụng nhiều lần và được đảm bảo trong quá trình thực hiện phù hợp với các biện pháp cưỡng chế. Quy phạm Luật Quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể Luật Quốc tế và có những đặc điểm sau đây: a) Đối tượng điều chỉnh là quan hệ giữa các chủ

thể của hệ thống pháp luật này; b) Quy phạm luật quốc tế được xây dựng bằng thỏa thuận thể hiện sự dung hoà ý chí về các quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể; c) Kết quả của sự thỏa hiệp đó được ghi nhận bằng các hình thức phù hợp với nội dung quy tắc xử sự như điều ước, tập quán, các văn bản của hội nghị quốc tế và của tổ chức quốc tế; và d) Trong các biện pháp được áp dụng để đảm bảo thi hành các Quy phạm luật quốc tế thì hình thức tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế của các chủ thể Luật Quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là nền tảng để thực hiện mục đích của LHQ. Trên cơ sở các đặc điểm đó mà hệ thống Luật Quốc tế được hình thành, phát triển và ngày càng khẳng định vị trí “đại sứ” của mình trong việc bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế.

Bên cạnh đó cũng cần nhấn mạnh: thực tiễn quan hệ quốc tế ngày nay đã minh chứng rằng, mỗi quốc gia có một vai trò nhất định trong quá trình “sáng tạo” quy phạm Luật Quốc tế. Điều đó là hoàn toàn hợp lý, vì địa vị pháp lý khác nhau của từng quốc gia trên trường quốc tế và bên cạnh đó chính là lợi ích khác nhau mà do chính quan hệ quốc tế đó mang đến cho mỗi quốc gia. Nhưng vì hoà bình và an ninh của cả nhân loại nên mỗi quốc gia cần phải có trách nhiệm và nghĩa vụ trong việc xây dựng quy phạm luật quốc tế để trên cơ sở pháp lý đó hoà bình và hợp tác quốc tế được duy trì và phát triển.

Tài liệu tham khảo:

(1) Ví dụ, Trong Công ước Viên về quan hệ ngoại giao ngày 18/4/1961, Công ước Viên ngày 23/5/1969 và Công ước Viên ngày 21/5/1986 về Luật điều ước quốc tế có các điều khoản quy định rằng: đối với các quốc gia không tham gia vào các Công ước này thì áp dụng theo các quy phạm tập quán.

(2) Có thể đọc thêm: Международное право. Словарь- справочник. -М., 1998, -С.188.

(3) Theo Điều 53 Công ước Viên 1969 thì Jus cogens là quy phạm chung, được cộng đồng quốc tế công nhận, thông qua và áp dụng, không một (hoặc một nhóm) quốc gia nào có quyền thay đổi (hoặc chỉ thay đổi bằng quy phạm có tính chất tương tự). Vì nó đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng nên khi vi phạm Jus cogens có thể sẽ gây thiệt hại về quyền và lợi ích của các quốc gia khác nhau trên thế giới, Jus cogens có hiệu lực pháp lý cao nhất nên các điều ước quốc tế khi ký kết không được trái với các quy phạm này. Xem thêm.: Тункин Г.И. Теория международного права, -М.,1970, -C168-183; Sztucki. Jus Cogens and the Vienna Convention on the Law of Treaties: A Critical Appraisal. 1974; Rozakis. The Concept of Jus Cogens in the Law of Treaties. 1976; Gomez Robledo. Le jus cogens international: sa nature, ses fonctions//Recueil des cours. 1981. Vol.172. P.9-217; Alexidze L.A. Legal Nature of Jus Cogens in Contemporary International Law// Recueil des cours. 1981. Vol.172. P.219-270; Gaja. Jus Cogens Beyond the Vienna Convention// P.271-316; Danilenko G.M. International Jus Cogens: Issues of Law-making//European Journal of International Law. 1991. Vol.2.P.42.

(4) LHQ có 192 thành viên. Xem.: http://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_hi%E1%B B%87p_qu%E1%BB%91c.

(5) Trong Giáo trình Luật Quốc tế của Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an Nhân dân, 2004, 2005 và trong các sách: Một số vấn đề lý luận cơ bản về Luật Quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia, 1994 do TS Đào Trí Úc (chủ biên) và Sách tìm hiểu Luật Quốc tế, NXB Đồng Nai, 2000 của tập thể tác giả do Nghiên cứu viên Nguyễn Trung Tín (chủ biên) thì đều ghi nhận có 7 nguyên tắc cơ bản. Còn Giáo trình Luật Quốc tế của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997 thì đưa ra 9 nguyên tắc cơ bản. [1] Lê Văn Bính, Bảo lưu và tuyên bố trong điều ước quốc tế, Chuyên san Kinh tế – Luật, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội 23 (2007) 151.

(6) Ví dụ, Điều ước về các nguyên tắc cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ bao gồm cả mặt trăng và các thiên thể khác ngày 27/01/1967 đã có các quy phạm quy định về Dự báo; hoặc tại Điều 4 Hiến chương LHQ quy định về tiếp nhận thành viên mới vào LHQ, đó thể hiện: 1) Quy phạm không ấn định riêng cho một quốc gia, mà cho bất kỳ quốc gia nào khi họ đồng ý tuân thủ theo quy định tại Điều 4; 2) Quy phạm này được áp dụng không chỉ một lần; và 3) Quy phạm không giới hạn cụ thể về thời gian.[2] M. Virally, Sources of International Law// Sorensen M. Manual of Public International Law. L., 1968.

(7) Ví dụ, dự kiến về cấm nổ thử vũ khí hạt nhân ở ba môi trường: không khí, vũ trụ và dưới nước đã được ghi nhận trong Điều ước ngày 05/8/1963; hoặc Điều ước về không phổ biến vũ khí hạt nhân ngày 01/7/1968 cũng có quy định các nội dung cam kết khác nhau của các quốc gia đang sở hữu và không sở hữu vũ khí hạt nhân, nhưng mỗi quốc gia đều tự nguyện thực hiện cam kết của mình phù hợp với mục đích của điều ước – đó là phòng ngừa vũ khí hạt nhân vì hoà bình và anh ninh quốc tế.

(8) Chẳng hạn như: Hội nghị LHQ ở Xan Phran-xi-xcô từ tháng 4/6/1945 thông qua Hiến chương LHQ; Hội nghị LHQ về Luật Biển lần 3 từ năm 1973-1982 kết thúc ngày 10/12/1982 thông qua Công ước về Luật Biển 1982; Hội nghị LHQ của đại diện các nhà ngoại giao về thành lập Toà án HSQT ngày 17/7/1998 ký Quy chế Toà án HSQT Rôm; Hội nghị Pôt-xđam (Béc lin) giữa Liên Xô, Mỹ và Anh từ ngày 17/7-02/8/1945 ký Nghị định thư và các văn kiện khác; trong quá trình chuyển đổi CSCE thành OSCE đã thông qua Hiến chương Paris năm 1990, văn kiện Henxinki năm 1992 và Quyết định Buđapét năm 1994 vv…

(9) Ví dụ, Điều ước Nga-Mỹ về hạn chế nổ thử vũ khí hạt nhân dưới lòng đất ngày 03/7/1974 và có hiệu lực ngày 11/12/1990; Công ước Viên về luật Điều ước Quốc tế (ĐƯQT) được ký kết ngày 23/5/1969, nhưng lại có hiệu lực vào ngày 27/01/1980 (Việt Nam gia nhập năm 2001); Công ước về Luật Biển của LHQ thông qua ngày 10/12/1982 và có hiệu lực ngày 16/11/1994 (hiệu lực đối với Việt Nam ngày 23/6/1994), v.v… Theo đó, các quy phạm trong các văn bản này là bắt buộc đối với các quốc gia thông qua hoặc gia nhập.

(10) Theo Công ước về quan hệ lãnh sự ngày 24/4/1963 thì người có chức vụ lãnh sự khi thi hành công vụ được miễn tài phán tư pháp của nước sở tại (khoản 1, Điều 43), nhưng để quy định trên có hiệu lực với hai quốc gia nào đó (là thành viên của Công ước này) thì chúng phải được ghi nhận trong điều ước lãnh sự song phương giữa hai quốc gia đó (ví dụ, người có chức vụ lãnh sự được miễn tài phán về hình sự của nước sở tại và đương nhiên quan hệ pháp lý song phương đó sẽ không đụng chạm đến lợi ích của các quốc gia khác là thành viên Công ước này); hoặc là không được ký điều ước song phương để giúp đỡ quốc gia thứ ba sản xuất vũ khí hạt nhân vì sẽ vi phạm điều ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân năm 1968.

(11) Trong Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN (Bali năm 1976) có thông qua 6 nguyên tắc cơ bản như sau: 1) Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các quốc gia; 2) Quyền của các quốc gia được tồn tại mà không có sự can thiệp, lật đổ hoặc áp bức của bên ngoài; 3) Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; 4) Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; 5) Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; và 6) Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả. Xem.: Việt Nam Hội nhập ASEAN. NXB, HàNội, 1997. -Tr.6.

(12) Tìm đọc: Информационный вестник Совета глав государств н Совета глав Правительство СНГ. Выпуск четвертый, Минск, 1992, -C.9-10.

Tác giả: LÊ VĂN BÍNH – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Phương thức thực hiện điều ước quốc tế thông qua áp dụng trực tiếp tại Việt Nam

3. Quá trình hình thành và phát triển luật quốc tế - Những nguyên tắc cơ bản

Luật Minh Khuê cung cấp bài phân tích "Quá trình hình thành và phát triển luật quốc tế - Những nguyên tắc cơ bản" để các Bạn tham khảo thêm:

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT QUỐC TẾ - NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN

Trong quá trình hình thành và phát triển luật quốc tế của các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đóng một vai trò khá quan trọng. Các nguyên tắc của luật quốc tế là nền tảng, nguồn góp phần trong việc xây dựng và hoàn thiện luật quốc tế. Một trong những đặc trưng của Luật quốc tế thể hiện ở chỗ, trong hệ thống pháp luật này có các quy phạm mang tính nguyên tắc, được coi là nguyên tắc cơ bản, có hiệu lực pháp lý tối cao trong quan hệ quốc tế. Các nguyên tắc này đồng thời mang trong mình sức mạnh chính trị và đạo đức đặc biệt trong mối giao lưu của cả cộng đồng, nên trong thực tiến ngoại giao còn gọi là những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế.

Có thể nói rằng hầu hết các hành vi của các quốc gia trên phạm vi quốc tế, các quan hệ quốc tế trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế và cả một số hành vi của các quốc gia trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế và cả một số hành vi của các quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình, trong một chừng mực nhất định đều được điều chỉnh bởi luật pháp quốc tế hoặc được thực hiện trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Đó là vì đa số các quốc gia, kể cả các cường quốc, đều muốn sống trong một thế giới ổn định và có thể dự báo trước một cách tương đối hành vi của các thành viên khác của cộng đồng quốc tế. Và để đạt được điều đó thì việc xây dựng và phát triển Luật quốc tế luôn phải được đặt lên hàng đầu và bắt buộc các quốc gia trên thế giới phải thực hiện. Yếu tố trước tiên là phải đảm bảo đối với việc hình thành luật quốc tế, muốn đạt được điều đó cần phải có sự tham gia điều chỉnh của các nguyên tắc cơ bản này.

Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia là nền tảng của quan hệ quốc tế hiện đại, Hiến chương Liên Hợp Quốc đã lấy nguyên tắc này làm cơ sở cho hoạt động của mình. Liên hợp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các thành viên (khoản 1, Điều 2). Nguyên tắc này là nền tảng quan trọng nhất của toàn bộ hệ thống các nguyên tắc của luật quốc tế hiện đại. Nó đã được ghi nhận trong điều lệ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, của tuyệt đại đa số các tổ chức quốc tế phổ cập và tổ chức khu vực, trong nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương và trong nhiều văn bản quốc tế quan trọng của các hội nghị và tổ chức quốc tế. Qua đó, các quy định của Luật quốc tế được xây dựng dựa trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia vì trong quan hệ quốc tế việc xác định chủ quyền quốc gia có vai trò rất quan trọng. Việc thực hiện chủ quyền quốc gia sẽ khẳng định địa vị quốc tế của quốc gia được thể hiện qua quyền tự quyết về đối nội và đối ngoại của quốc gia. Hiện nay, trong quá trình quốc tế hóa mọi mặt của đời sống quốc tế, sự ra đời của các tổ chức quốc tế phổ cập và khu vực đang ngày càng giữ vị trí quan trọng trong việc phối hợp hoạt động hợp tác của các quốc gia thành viên. Khi tham gia tổ chức quốc tế, các quốc gia thành viên tự nguyện trao cho tổ chức quốc tế một số thẩm quyền thuộc chủ quyền của mình. Sự trao quyền này không có nghĩa là quốc gia bị hạn chế chủ quyền. Quốc gia khi tự nguyện tham gia tổ chức quốc tế, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của quốc gia thành viên, chịu sự chi phối nhất định của tổ chức quốc tế các hoạt động này phải được hiểu là quốc gia đang triển khai thực hiện chính chủ quyền của mình. Trong không gian quốc tế hiện nay, việc tôn trọng nghiêm chỉnh nguyên tắc này là cơ sở quan trọng để đưa trật tự thế giới phát triển theo xu hướng ngày càng ổn định, hội nhập và tiến bộ hơn.

Pháp luật quốc tế là phương tiện có nghĩa tạo lập môi trường ổn định, hòa bình, hữu nghị cùng phát triển, đó cũng chính là vai trò lớn nhất mà các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế mang lại. Các nguyên tắc cơ bản này đều là những quy phạm mệnh lệnh có giá trị bắt buộc với mọi chủ thể khi tham gia quan hệ quốc tế. Quy phạm này đóng vai trò làm nền tảng cho việc thiết lập và phát triển quan hệ bền vững, lâu dài giữa các chủ thế. Mặt khác trên cơ sở các nguyên tắc và quy phạm đó một trật tự sẽ được thiết lập trong đó quốc gia cũng như các chủ thể khác của pháp luật quốc tế phải tôn trọng, thực hiện tất cả những cam kết quốc tế của mình và phải chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm các kết quốc tế đó. Chính điều này sẽ tạo sự tin tưởng và thúc đẩy quá trình giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia trên tất cả các lĩnh vực, cho dù các quốc gia này có chế độ chính trị - xã hội và hệ thống pháp luật khác nhau.

Chính các nguyên tắc cơ bản và các quy phạm pháp luật quốc tế sẽ là công cụ để các lực lượng tiến bộ đấu tranh xây dựng một trật tự thế giới mới trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, pháp lý trên cơ sở bình đẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và các bên cùng có lợi. Cụ thể hóa qua các điều ước, tuyên bố, định ước.. trong khuôn khổ Liên hợp quốc. Nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực, dùng vũ lự được quy định tại khoản 4, Điều 2, Hiến chương LHQ. Nguyên tắc này đã cụ thể hóa một loạt các văn bản quốc tế quan trọng như Tuyên bố về những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với hiến chương LHQ (do Đại hội đồng thông qua năm 1970), Định ước Hexinki năm 1975.. Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác xuất hiện đầu tiên trong các hiến pháp của một số nước tư sản thời kỳ cách mạng tư sản ở Châu Âu đã được ghi nhận trong Hiến chương LHQ (theo khoản 7, Điều 2). Nguyên tắc này đã góp phần vào điều chỉnh mối quan hệ quốc tế xây dựng nên quy định về quan hệ quốc tế giữa các quốc gia trong Tuyên bố của LHQ về các nguyên tắc của luật quốc tế liên quan đến quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia năm 1970. Ngoài ra, nguyên tắc này đã được ghi nhận trong nhiều văn bản quốc tế quan trọng như Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị các nước Á Phi năm 1975 tại Băng – đung, Hiệp định Geneve.. Các quy phạm Luật quốc tế do chính các chủ thể của Luật quốc tế xây dựng không phải do một cơ quan quyền lực nào “sáng tạo” nên. Các quy phạm đó được xây dựng dựa trên cơ sở bình đẳng chủ quyền và trên cơ sở thỏa hiệp và nhân nhượng giữa các chủ thể của hệ thống pháp luật này. Tức là, trong quá trình xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế các chủ thể phải cố gắng đạt được sự thỏa hiệp tương ứng với các quy tắc xử sự và bên cạnh đó quan hệ với nhau, các chủ thể đó cùng công nhận quy tắc xử sự đó là bắt buộc (nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế).

Các nguyên tắc cơ bản quy định cơ sở của sự tác động qua lại khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Mặc dù chỉ là sản phẩm của quan hệ giữa các quốc gia, sau khi hình thành và phát triển, các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế tạo nên một khung pháp lý vững chắc và tác động trở lại đối với các quốc gia và hành vi của các quốc gia trên cả bình diện quốc tế và trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Bởi vì trong thực tiễn quan hệ quốc tế, nhiều khi do sự mâu thuẫn, trái ngược về quan điểm và cả về lợi ích giữa các quốc gia mà dẫn tới một số quốc gia vì lợi ích của riêng mình mà có những hành động theo những xu hướng khác nhau. Tuy nhiên, các nguyên tắc cơ bản này là cơ sở để các quốc gia dựa vào tính chất, chuẩn mực của nó mà thỏa thuận tiến tới hình thành các điều ước, thỏa thuận quốc tế,…nhằm hướng tới quy chuẩn chung cho tất cả quốc gia phải tuân thu để giải quyết các mâu thuẫn hiện tại.

Trân trọng!

Công ty luật Minh Khuê (sưu tầm và Biên tập)

>> Xem thêm:  Lý luận về xung đột pháp luật trong Tư Pháp Quốc Tế

4. Những vấn đề cần biết liên quan đến pháp luật quốc tế ?

Thưa luật sư, tôi có mấy câu hỏi nhờ luật sư trả lời giúp: Nhận định sau đúng hay sai và giải thích tại sao ?
Câu 1: Quy phạm tùy nghi không có giá trị pháp lý ràng buộc đối với chủ thể luật quốc tế.

Câu 2: Mọi hình thức đều làm phát sinh hiệu lực của điều ước quốc tế.

Câu 3: Các quốc gia khác được quyền khai thác tài nguyên ở thềm lục địa của quốc gia ven biển.

Câu 4: Chủ quyền quốc gia là một trong những yếu tố cấu thành quốc gia.

Những vấn đề cần biết liên quan đến pháp luật quốc tế

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Câu hỏi thứ nhất: Quy phạm tùy nghi không có giá trị pháp lý ràng buộc đối với chủ thể luật quốc tế.

Quy phạm tùy nghi là quy phạm mà trong khuôn khổ của nó cho phép các chủ thể luật quốc tế tự xác định phạm vi quyền, nghĩa vụ qua lại giữa các bên, trong một quan hệ pháp luật quốc tế cụ thể, phù hợp với hoàn cảnh thực tế.

Do đó, quy phạm tùy nghi không có giá trị pháp lý bắt buộc đối với chủ thể luật quốc tế mà tùy theo ý chí của chủ thể mà xây dựng nên các quy phạm này.

Câu hỏi thứ hai: Mọi hình thức đều làm phát sinh hiệu lực của điều ước quốc tế.

Điều ước quốc tế là văn bản pháp luật quốc tế do các chủ thể luật quốc tế thỏa thuận ký kết trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm thiết lập những quy tắc pháp lý bắt buộc để ấn định, thay đổi hoặc hủy bỏ những quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể của luật quốc tế.

Theo định nghĩa nêu trên, không phải mọi hình thức đều làm phát sinh hiệu lực của điều ước quốc tế mà chỉ khi được thể hiện dưới văn bản và được các chủ thể luật quốc tế thỏa thuận ký kết trên cơ sở các nguyên tắc nhất định thì điều ước quốc tế mới phát sinh hiệu lực.

Câu hỏi thứ ba: Các quốc gia khác được quyền khai thác tài nguyên ở thềm lục địa của quốc gia ven biển.

Căn cứ vào Điều 77 Công ước về Công ước về Luật biển 1982:

"ĐIỀU 77. Các quyền của các quốc gia ven biển đối với thềm lục địa

1. Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình.

2. Các quyền nói ở khoản 1 có tính chất đặc quyền, nghĩa là các quốc gia ven biển không thăm dò thềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa, thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thỏa thuận rõ ràng của quốc gia đó.

3. Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thực sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào.

4. Các tài nguyên thiên nhiên ở phần này bao gồm các tài nguyên thiên nhiên khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên không sinh vật khác của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như các sinh vật thuộc loại định cư, nghĩa là những sinh vật nào, ở thời kỳ có thể đánh bắt được, hoặc nằm bất động ở đáy, hoặc lòng đất dưới đáy; hoặc là không có khả năng di chuyển nếu không có khả năng tiếp xúc với đáy hay lòng đáy dưới đáy biển."

Như vậy, các quốc gia khác chỉ có quyền khai thác tài nguyên ở thềm lục địa của quốc gia ven biển khi đạt được sự thỏa thuận với quốc gia đó.

Câu hỏi thứ tư: Chủ quyền quốc gia là một trong những yếu tố cấu thành quốc gia.

Các yếu tố cấu thành nên quốc gia bao gồm:

- Lãnh thổ xác định

- Dân cư ổn định

- Chính quyền

- Khả năng quan hệ quốc tế

Trong khi đó, chủ quyền quốc gia là quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn, đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của một quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. Quốc gia thể hiện chủ quyền của mình trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, quân sự và ngoại giao.

Nói cách khác, chủ quyền quốc gia không phải là một trong những yếu tố cấu thành quốc gia mà chỉ khi có quốc gia rồi mới có thể thể hiện chủ quyền được.

Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi vào giờ hành chính ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài luật sư tư vấn, gọi: 1900.6162 . Trân trọng!

>> Xem thêm:  Phân tích vị trí và vai trò của Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế trong quá trình điều chỉnh các quan hệ quốc tế

5. Cá nhân có thể là chủ thể của Luật Quốc Tế hay không ?

Từ khi mới xuất hiện đến nay chức năng chính của Luật quốc tế là điều chỉnh các mối quan hệ giữa các nhà nước với nhau, bởi vậy chủ thể chính của luật quốc tế trong lịch sử phát triển của nó là các quốc gia. Nhưng từ những năm 20 của thế kỷ XX, đặc biệt là sau Đại chiến thế giới thứ hai trong khuôn khổ của luật quốc tế xuất hiện một ngành mới là luật về quyền con người. Quyền con người không còn là đối tượng điều chỉnh của hệ thống luật của từng quốc gia nữa đã làm nảy sinh ra vấn đề: cá nhân co

Cá nhân có thể là chủ thể của Luật Quốc Tế hay không ?

Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

Khẳng định cá nhân là chủ thể của luật quốc tế, nhiều tác giả thậm chí đưa ra đề nghị đổi thuật ngữ Luật quốc tế thành “Luật thế giới”, “Luật hoàn cầu”, “Luật toàn cầu”… Một số khác lại phủ định tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân trong luật quốc tế. Để chia sẻ quan điểm với các nhà nghiên cứu, chúng tôi xin nêu một vài suy nghĩ về vấn đề này.

1- Khái niệm về chủ thể của luật quốc tế

Chủ thể chiếm vị trí trung tâm trong luật quốc tế với nhiệm vụ chính là phục vụ các quyền lợi của chủ thể, điều tiết các mối quan hệ giữa chúng với nhau. Bản tính của luật quốc tế gắn liền với tính chất của chủ thể và mối quan hệ đó. Chủ thể luật quốc tế không những là chủ các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ quốc tế, mà còn là những chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình thiết lập và thi hành các qui tắc của luật quốc tế. Như vậy chủ thể của luật quốc tế là những thực thể độc lập có những quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế, tham gia vào quá trình thiết lập và thực hiện các quy tắc của luật quốc tế nhờ những đặc điểm và bản chất của mình. Đó là các quốc gia có chủ quyền- chủ thể chính của luật quốc tế; các tổ chức liên Chính phủ; các quốc gia đang đấu tranh cho nền độc lập của mình; các tổ chức tương đương với nhà nước; và cuối cùng- trong phạm vi nào đó là cá nhân con người.

Một số tác giả khi nói đến chủ thể của luật quốc tế thì cho rằng chúng cần phải tham gia vào quá trình thiết lập các quy tắc của luật quốc tế. Trong trường hợp đó dĩ nhiên cá nhân không phải là chủ thể của luật quốc tế. Nhưng cũng có thể định nghĩa một cách khác rằng chủ thể của luật quốc tế là bất kỳ một thực thể nào có quyền và nghĩa vụ pháp lý từ các điều luật của công pháp quốc tế.

Như vậy trong luật quốc tế có ít nhất hai dạng chủ thể. Dạng thứ nhất là các tổ chức không những có quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế mà còn trực tiếp tạo ra các điều luật quốc tế, thực hiện các biện pháp để đảm bảo cho việc áp dụng các điều luật đó trên thực tế. Đó là các quốc gia có chủ quyền- chủ thể chính của luật quốc tế. Dạng thứ hai là các tổ chức mà các hoạt động của chúng được điều tiết bởi luật quốc tế nhưng không có những đặc điểm của dạng thứ nhất. Vậy cá nhân có thuộc dạng chủ thể này không? Chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn vấn đề này ở các phần sau của bài viết.

Chủ thể của luật quốc tế có những đặc điểm sau: năng lực pháp luật, năng lực hành vi pháp luật và năng lực trách nhiệm pháp lý. Năng lực pháp luật là khả năng của chủ thể luật quốc tế có những quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định. Năng lực hành vi pháp luật thể hiện qua sự thực hiện có ý thức các quyền và nghĩa vụ của chủ thể luật quốc tế. Chủ thể của luật quốc tế có năng lực trách nhiệm pháp lý đối với những vi phạm pháp luật quốc tế của mình. Những tính chất trên được gọi là tính chủ thể pháp lý. Chủ thể của luật quốc tế có tính chủ thể pháp lý chung, tính chủ thể pháp lý ngành và tính chủ thể đặc biệt.

Tính chủ thể pháp lý chung là khả năng của tổ chức được công nhận là chủ thể của luật quốc tế theo ipso facto. Chỉ có các quốc gia có chủ quyền mới có tính chủ thể chung.

Tính chủ thể ngành là khả năng của tổ chức được công nhận là chủ thể của luật quốc tế ở một lĩnh vực nhất định trong quan hệ quốc tế. Ví dụ Tổ chức hàng hải quốc tế có quyền tham gia vào các vấn đề vận chuyển đường biển quốc tế; hoặc UNESCO tham gia vào việc điều tiết những vấn đề liên quan đến giáo dục, khoa học và văn hoá thế giới.

Tính chủ thể đặc biệt là khả năng của chủ thể tham gia hoạt động pháp lý trong khuôn khổ nhất định ở một lĩnh vực riêng biệt của luật quốc tế. Đó chính là cá nhân con người. Tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân được công nhận trong nhiều văn bản, tư liệu của luật quốc tế như Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948 (Điều 6), Công ước quốc tế về quyền dân sự và quyền chính trị 1966 (Điều 2), Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của kiều dân và gia đình, thành viên gia đình của họ 1990 (Điều 8).

2- Những quan điểm khác nhau về tính chủ thể của cá nhân trong công pháp quốc tế

Trong suốt lịch sử phát triển của mình, luật quốc tế, trong một thời gian dài, đã phủ nhận cá nhân con người và chỉ quan tâm đến những vấn đề có liên quan đến quốc gia. Từ đầu thế kỷ XX, đặc biệt là sau Đại chiến thế giới thứ hai tình thế đã thay đổi, công pháp quốc tế hiện đại gắn chặt với vấn đề nhân quyền. Hiến chương Liên hợp quốc xác định một trong những mục đích chính của mình là tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Nhiều điều ước, quốc tế về quyền con người đã được ký kết. Thế nhưng điều đó có đồng nghĩa với tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân con người hay không? Cá nhân là chủ thể của công pháp quốc tế là một vấn đề đang được tranh cãi chưa ngã ngũ.

Một số tác giả phủ định tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân, nhưng số khác lại công nhận rằng ở cá nhân có những đặc thù của chủ thể luật quốc tế. Ví dụ như A.Phedross (Áo) cho rằng “cá nhân con người trên nguyên tắc không phải là chủ thể của luật quốc tế bởi vì luật quốc tế bảo vệ quyền lợi của cá nhân nhưng nó đảm bảo những quyền và nghĩa vụ không phải cho từng cá nhân, mà cho quốc gia mà cá nhân là công dân của quốc gia đó“(1).

Một số tác giả cho rằng cá nhân chỉ có thể là chủ thể của các quan hệ pháp lý quốc tế. “Cá nhân do chịu sự cai trị của quốc gia không thể thay mặt mình hoạt động trên trường quốc tế như một chủ thể của luật quốc tế – B.M Shurshaloff V.M viết- Tất cả các Công ước quốc tế về quyền và bảo vệ quyền con người được ký kết giữa các quốc gia với nhau. Vì vậy những quyền và nghĩa vụ cụ thể được phát sinh ra từ những Công ước này là dành cho nhà nước chứ không cho từng cá nhân. Cá nhân được quốc gia bảo trợ, và những qui tắc của luật quốc tế về quyền và bảo vệ quyền con người được thực hiện chủ yếu qua hoạt động của quốc gia”(2).

Vào đầu thế kỷ XX nhà luật học nổi tiếng Martence cũng có quan điểm như vậy. Ông cho rằng cá nhân không phải là chủ thể của luật quốc tế nhưng có những quyền nhất định trong quan hệ quốc tế. Những quyền đó được nảy sinh từ bản chất tự nhiên của con người, từ tình thế họ là công dân của một quốc gia(3).

Nhà luật học quốc tế người Anh A.Brownlee có những quan điểm trái ngược nhau về vấn đề này. Một mặt ông cho rằng theo điều luật chung cá nhân không thể là chủ thể của luật quốc tế được, nhưng trong một số lĩnh vực nhất định cá nhân được xem xét như chủ thể của luật quốc tế; mặt khác theo ý kiến của Brownlee thì “thật là vô ích nếu như xếp cá nhân vào “hàng ngũ” những chủ thể của luật quốc tế, bởi vì làm như vậy là vô hình chung công nhận một số quyền của cá nhân mà trên thực tế không có, phủ nhận tính tất yếu của sự khác biệt giữa cá nhân và các chủ thể khác trong luật quốc tế”(4).

Ngành luật của Liên Xô cũ một thời gian dài đã phủ nhận tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân trên trường quốc tế. Điều đó được giải thích như là hậu quả tất yếu của việc quá nâng cao vai trò quan trọng của nhà nước không chỉ trong lĩnh vực luật quốc tế và quan hệ quốc tế, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà trên cả trường quốc tế. Nhưng cùng với thời gian mọi vật đều thay đổi. Từ việc công nhận cá nhân là chủ thể của luật quốc tế đi đến những đề nghị xa hơn mà theo đó Công pháp quốc tế có khả năng điều tiết cả những quan hệ trong một quốc gia, có cả mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân(5).

Về các tác giả khác, E.Arechaga (Uruguay) có quan điểm ôn hoà hơn. Ông cho rằng: “theo cơ cấu của luật quốc tế thì không có gì có thể cản trở nhà nước đảm bảo cho cá nhân một số quyền nhất định đã được nảy sinh từ một Công ước quốc tế, hoặc xem xét một số biện pháp quốc tế để bảo vệ những quyền đó“(6).

L.Oppenhame từ năm 1947 đã để ý rằng: “Mặc dù chủ thể chính của luật quốc tế là quốc gia nhưng nhà nước có thể xem cá nhân như một chủ sở hữu các quyền và nghĩa vụ quốc tế và trong khuôn khổ đó công nhận cá nhân là một chủ thể của luật quốc tế“(7). Tiếp đó ông đã làm rõ ý kiến của mình bằng ví dụ: Những cá nhân làm nghề cướp biển trước hết chịu trách nhiệm pháp lý theo những qui tắc của luật quốc tế, chứ không phải nội luật của nhiều quốc gia khác nhau.

Giáo sư người Nhật Sh.Oda cho rằng “Sau Đại chiến thế giới thứ nhất hình thành một quan điểm mới theo đó cá nhân là chủ thể các trách nhiệm về những vi phạm chống trật tự pháp luật thế giới và cá nhân phải bị truy tố và trừng phạt theo luật quốc tế“(8).

Tổng hợp lại cá nhân có thể là chủ thể của luật quốc tế bởi vì:

a) Trách nhiệm pháp lý quốc tế

Điều lệ của Toà án binh quốc tế 1945 khẳng định cá nhân là chủ thể của trách nhiệm pháp lý quốc tế. Theo Điều 6 thì kẻ lãnh đạo, chủ mưu, tòng phạm, tham gia vào việc soạn thảo hay trực tiếp thực hiện kế hoạch, âm mưu chống hoà bình, chống loại người, tội phạm chiến tranh phải chịu trách nhiệm về những hành động đó. Các công chức cao cấp thậm chí là người đứng đầu các nhà nước cũng không thể được miễn truy tố trách nhiệm pháp lý hay được giảm nhẹ mức độ hình phạt (Điều 8). Kẻ bị xét xử nếu hành động theo lệnh của cấp trên hay của Chính phủ cũng không được miễn trách nhiệm pháp lý.

Trong lời buộc tội của Toà án binh quốc tế 1945 ở Nurnberge cũng có nói : “Tội phạm chống Công ước quốc tế được thực hiện bởi những con người cụ thể chứ không phải do các tổ chức trìu tượng, bởi vậy chỉ cách trừng phạt những cá nhân đã gây ra những tội phạm đó thì qui tắc của luật quốc tế mới được thực hiện đúng đắn”.

Theo Công ước quốc tế 1968 về việc không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những tội phạm chiến tranh và tội phạm chống loài người, trong trường hợp các tội phạm chiến tranh và tội phạm chống loài người, không phụ thuộc vào việc các tội phạm đó diễn ra vào thời bình hay thời chiến, không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm.

Theo Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng 1948, những cá nhân gây nên nạn diệt chủng, đồng phạm diệt chủng, âm mưu, kích động và những ý định thực hiện việc diệt chủng sẽ bị trừng phạt mà không phụ thuộc vào việc kẻ đó là lãnh đạo một quốc gia hay tư nhân. Tội phạm diệt chủng bị xử bởi toà án quốc gia bị diệt chủng hoặc Toà án hình sự quốc tế. Toà do các nước thành viên tham gia Công ước hoặc Liên hợp quốc lập ra.

b- Quyền của cá nhân được thỉnh cầu lên toà án quốc tế

Theo Điều 25 của Công ước Châu Âu về bảo vệ quyền con người 1950 bất kỳ cá nhân nào đều có quyền gửi đơn thỉnh cầu đến Hội đồng Châu Âu về quyền con người. Đơn cần phải đưa ra những dẫn chứng cụ thể, thuyết phục về việc vi phạm nhân quyền đối với người làm đơn do Nhà nước tham gia Công ước gây ra. Đơn được lưu trữ tại Ban thư ký của Hội đồng Châu Âu và được xem xét chỉ sau khi mọi biện pháp, phương tiện pháp lý đã được áp dụng trong nước theo khuôn khổ của luật quốc tế nhưng không có tác dụng, trong thời hạn sáu tháng kể từ khi các cơ quan pháp lý trong nước có quyết định cuối cùng về vụ việc này.

Theo Điều 190 Công ước của Liên hợp quốc về luật biển 1982 cá nhân có quyền được đưa đơn kiện nhà nước tham gia Công ước và đòi hỏi được xét xử tại Toà án quốc tế về biển.

Quyền của cá nhân được thỉnh cầu lên các toà án quốc tế cũng được công nhận ở nhiều tài liệu khác của luật quốc tế.

c- Vị thế pháp lý (status) của một số nhóm cá nhân trong luật quốc tế

Theo Công ước về vị thế của người tị nạn 1951, vị thế pháp lý của người dân bị nạn được xác định bởi pháp luật của nước mà họ đang sống. Công ước quy định cho người tị nạn có những quyền như quyền lao động theo hợp đồng, quyền lựa chọn nghề nghiệp, quyền tự do di chuyển…

Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của các kiều dân và thành viên trong gia đình họ 1990 tuyên bố: Mỗi kiều dân lao động và thành viên trong gia đình có quyền được công nhận là chủ thể pháp lý, trước hết là những chủ thể pháp lý quốc tế. Theo Điều 35 của Công ước thì Nhà nước không được cản trở sự di dân quốc tế của nhân dân lao động và các thành viên trong gia đình họ. Công pháp quốc tế cũng được xác định vị thế pháp lý quốc tế của người phụ nữ có chồng, của trẻ em và nhiều nhóm cá nhân khác.

Qua những chứng cứ và ví dụ trên đây chúng ta có thể tạm cho rằng Nhà nước trong một số lĩnh vực (mặc dù không nhiều lắm) đã tạo cho cá nhân một số đặc thù của tính chủ thể pháp lý quốc tế. Phạm vi của tính chủ thể pháp lý đó ngày càng được mở rộng hơn bởi vì mỗi thời đại lịch sử lại sản sinh ra những chủ thể mới của luật quốc tế.

Những người phản đối việc công nhận cá nhân là chủ thể của luật quốc tế thường dựa vào chứng cứ chính là cá nhân không thể ký kết các điều ước quốc tế. Vì vậy không thể tham gia vào quá trình lập pháp quốc tế. Thế nhưng trong bất kỳ lĩnh vực nào của luật học các chủ thể đều có những quyền và nghĩa vụ không tương ứng lắm. Ví dụ như trong luật quốc tế tính chủ thể pháp lý quốc tế hiểu theo nghĩa đầy đủ, chính xác chỉ có ở quốc gia mà thôi. Những chủ thể khác như các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức tương đương với nhà nước, các quốc gia đang đấu tranh cho nền độc lập dân tộc chỉ có tính chủ thể pháp lý ở mức độ tương đối, trong một phạm vi nhất định mà thôi.

Cá nhân có những quyền và nghĩa vụ quốc tế nhất định, có khả năng bảo đảm sự chấp hành các điều luật quốc tế (ví dụ như qua các cơ quan toà án quốc tế). Điều đó đủ để chứng tỏ ở cá nhân những đặc thù của một chủ thể quốc tế. Chúng ta sẽ thấy rõ hơn vấn đề này khi đi sâu xem xét mối quan hệ giữa quyền con người và luật quốc tế.

3- Tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân trong mối tương quan giữa luật quốc tế và vấn đề nhân quyền

Hiện nay quyền con người được khẳng định trong nhiều công ước quốc tế khác nhau. Đó là Công ước Geneva về cải thiện điều kiện của thương binh, bệnh binh trong quân đội 1949; Công ước Geneva về việc đối xử với tù binh 1949; Công ước Geneva về việc bảo vệ dân lành trong thời chiến 1949; Điều lệ của Toà án binh quốc tế 1945; Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948; Công ước về việc ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng 1948; Công ước bổ sung về xoá bỏ chế độ nô lệ, buôn bán nô lệ, những tập tục giống với chế độ nô lệ 1956; Công ước về quyền chính trị của phụ nữ 1952; Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội, văn hoá 1966; Công ước quốc tế về quyền dân sự và quyền chính trị 1966; Công ước chống tra tấn và những biện pháp mang tính dã man vô nhân đạo 1984…

Trong số các công ước khu vực nổi bật là Công ước Châu Âu về bảo vệ quyền con người và các quyền tự do 1950 và 11 Nghị định thư bổ sung; Công ước các nước SNG về nhân quyền và tự do 1995…

Các quyền quốc tế của cá nhân xuất phát từ những nguyên tắc và điều luật chung của luật quốc tế được công nhận và khẳng định trong 20 Công ước đa phương và trong một loạt các điều ước song phương khác.

Ví dụ như theo Điều 4 của Công ước bổ sung về chế độ nô lệ 1956, nô lệ được phát hiện có mặt trên tàu của nước tham gia Công ước thì iso facto được tự do. Hay Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá 1966 công nhận quyền mỗi cá nhân được: a) Tham gia vào đời sống văn hoá; b) Sử dụng các thành tựu của tiến bộ khoa học và ứng dụng thực tiễn; c) Bảo vệ các quyền lợi vật chất và tinh thần liên quan đến các công trình khoa học, các tác phẩm văn học- nghệ thuật mà họ là tác giả.

Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế khẳng định: “Mỗi cá nhân con người dù ở đâu đều có quyền yêu cầu công nhận tính chủ thể pháp lý của mình” (Điều 6). Điều 23 Công ước của các nước SNG cũng có tuyên bố tương tự.

Ở đây cần làm sáng tỏ thêm về tính chủ thể pháp lý của cá nhân trong các điều luật quốc tế về quyền con người. Một mặt những điều luật này nói đến quyền của cá nhân, điều đó chứng tỏ chính cá nhân là chủ thể của những điều luật đó. Nhưng mặt khác các Công ước quốc tế về quyền con người đều đòi hỏi nhà nước phải đảm bảo cho cá nhân những quyền hạn trên. Bản thân phần lớn các quyền được nói đến trong các điều luật quốc tế về nhân quyền không được đảm bảo trực tiếp bởi Công pháp quốc tế mà thông qua các điều luật của nội luật. Trong trường hợp này có thể nói đến tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân đặt trong mối tương quan với các điều luật quốc tế về nhân quyền và tự do của con người được không?

Phần lớn các điều luật quốc tế trong lĩnh vực quyền con người là những điều luật được tạm gọi là bất tự thi. Bản thân chúng không đảm bảo cho cá nhân các quyền, tự do (thậm chí nếu hiến pháp của nước đó công nhận chúng là một phần của nội luật) nếu như không có bộ máy thực thi thích hợp. Bởi vậy nhiều điều luật, ví dụ như Công ước quốc tế về quyền dân sự và quyền chính trị 1966, bắt buộc nhà nước phải đảm bảo cho cá nhân những quyền đã được công nhận và khẳng định trong công ước.

Toà án Hiến pháp của Ý trong phán quyết ra ngày 6/2/1978 về việc áp dụng một số điểm của công ước trên đã từ chối áp dụng một số điều khoản trong Công ước vì “luật pháp chỉ chấp nhận những điểm tự thi của Công ước mà thôi“(9). Ở Anh trong quá trình thảo luận ở Viện quý tộc, người đại diện cho Chính phủ tuyên bố về Công ước quốc tế được áp dụng với nhiều nước có các hệ thống pháp lý và hành chính khác nhau khó có thể thích hợp để các Công ước đó thâm nhập thẳng vào nước Anh…(10).

Phải chăng điều đó có nghĩa là cá nhân con người không liên quan gì đến các chuẩn mực quốc tế về quyền con người và chỉ có quyền đó qua các điều luật của nội luật? Theo chúng tôi nghĩ thì không hẳn là như vậy. Điều luật của Công pháp quốc tế về nhân quyền một mặt bắt buộc quốc gia đảm bảo cho cá nhân các quyền đã được quy định, đồng thời mặt khác quy định cho cá nhân quyền đòi hỏi ở quốc gia việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế, hơn nữa cá nhân còn có quyền thỉnh cầu lên toà án quốc tế nếu mọi biện pháp của luật không đáp ứng đòi hỏi pháp lý của cá nhân. Có thể nói khi chấp nhận với các điều luật quốc tế về quyền con người, quốc gia tự nhận trách nhiệm pháp lý không chỉ trước các quốc gia tham gia Công ước mà còn trước các công dân của mình.

Thậm chí nếu bản thân điều luật quốc tế không đảm bảo những quyền được quy định, điều luật đó vẫn có khả năng cản trở việc áp dụng những điều luật của nội luật trái với nó. Ví dụ nếu như luật pháp của một nước nào đó không đảm bảo quyền được hội họp (đã nhắc đến trong Công ước về quyền công dân và quyền chính trị, Điều 20) thì bản thân Điều khoản này là cơ sở để đòi hỏi nhà nước đảm bảo quyền đó. Các chuẩn mực quốc tế trong những trường hợp đó là cơ sở pháp lý cho những đòi hỏi của cá nhân.

Những điều vừa nói chứng minh vai trò ngày càng tăng của tính chủ thể pháp lý cá nhân trong lĩnh vực quyền con người và công pháp quốc tế, về mối quan hệ trực tiếp giữa cá nhân và công pháp quốc tế. Trong đó -theo chúng tôi đối với việc xác định tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân thì không có ý nghĩa khi các chuẩn mực quốc tế về nhân quyền phần lớn được thi hành qua các điều của nội luật. Nhân đây cũng xin dẫn ra ví dụ: các điều khoản liên quan đến quyền con người của Hiến pháp các nước cũng có nhiều điều không đảm bảo trực tiếp các quyền này. Đòi hỏi phải có sự thông qua những điều luật khác, thậm chí cả các biện pháp hành chính. Nhưng điều đó không có nghĩa cá nhân phải là chủ thể của luật hiến pháp. Ngoài ra sự phát triển của các tổ chức quốc tế có nhiệm vụ theo dõi, hỗ trợ cho việc chấp hành quyền và tự do của con người, việc tiếp nhận các cá nhân vào những tổ chức đó chứng minh rằng cá nhân ngày càng gắn liền với luật quốc tế.

Kết luận

Đến đây chúng ta có thể tạm thời cho rằng cá nhân là một trong những chủ thể của luật quốc tế. Cá nhân không những có quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế được nảy sinh từ điều luật quốc tế mà còn có quyền và khả năng yêu cầu quốc gia thực hiện các quyền con người và trong trường hợp cần thiết thỉnh cầu lên các toà án quốc tế để đảm bảo cho các quyền đó.

Thế nhưng một mặt khác việc những chủ thể khác của luật quốc tế ngày càng tích cực tham gia vào hoạt động trên trường quốc tế làm cho các hoạt động này phức tạp hơn, khó điều khiển hơn. Kết quả là vai trò của quốc gia – chủ thể chính của luật quốc tế, không những không giảm đi mà ngày càng tăng lên. Điều đó được các nhà luật học trên thế giới khẳng định, nhất là những ai đó hoạt động thực tế, chẳng hạn như nguyên Tổng thư ký liên hợp quốc, giáo sư luật quốc tế B.Butros Galli nhấn mạnh đến “sự quan trọng và tính không thể thay thế của quốc gia có chủ quyền như chủ thể chính của luật quốc tế“(11).

Do tính chưa ngã ngũ của vấn đề thường xuất hiện hai thái cực khi xem xét quyền con người trong thực tế: hoặc dựa vào con bài nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền, hoặc dựa vào nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ của nước khác để cản trở sự điều tiết của luật quốc tế đối với vấn đề quyền con người. Thiết nghĩ ở đây nên có một cách nhìn đúng đắn và những việc làm cụ thể để quyền con người được thực hiện mà chủ quyền của quốc gia vẫn được toàn vẹn. Và cũng cần nhấn mạnh rằng chủ yếu không phải là tuyên bố một cách hình thức về tính chủ thể pháp lý cá nhân, về quyền con người mà tìm các biện pháp hữu hiệu để cho quyền con người được đảm bảo trong mối tương hỗ giữa nội luật và công pháp quốc tế, trong sự hợp tác quốc tế giữa các tổ chức, quốc gia với nhau.

(1)Phedross A. Luật quốc tế. M. 1959.tr. 130.

(2) Shurshaloff V.M.Quan hệ pháp lý quốc tế. M. 1971. tr 77.

(3) Martence F.F. Luật quốc tế hiện đại. T.I. M 1996. tr. 220-221.

(4) Brownlee A. Luật quốc tế. M. 1977. tr 117.

(5) Zakharova N.V. Cá nhân- chủ thể của luật quốc tế. Tạp chí pháp luật số 11 1989.M

(6) Arechaga E..Luật quốc tế hiện đại. M. 1983. tr 259

(7) Oppenhame L.Luật quốc tế T.I.M. 1893. tr 259

(8) Oda Sh.The Individual in International Law. London. 1978. p. 471

(9) The Italian Yearbook of International Law 1978-1979, Napoli, 1980. p 187.

(10) The British Yearbook of International Law 1978, Oxford,1979.p.936.

(11) Butross Galli B. Bản báo cáo hàng năm của tổng thư ký liên hợp quốc. Tạp chí của Bộ ngoại giao Cộng hoà Liên bang Nga 1992 số 13-14, tr.46.

Tác giả: NGUYỄN ĐỨC LAM

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Các phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới theo quy định của GATS