1. Vấn đề công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài trong các ĐƯQT

Để giải quyết vấn đề công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài, các nước đã ký kết vối nhau không chỉ điều ưởc quốc tế song phương mà cả điềụ ước đa phương.

Ví dụ: Hiệp định buôn bán và hàng hải Việt Nam - Liên Xô năm 1958 (hiện nay Nga kế thừa) quy định: "Các bên ký kết bảo đảm việc thi hành những quyết định của trọng tài đối với những tranh chấp về những cam kết thương mại hoặc các cam kết khác của các pháp nhân hoặc của các nhà chức trách của họ vối điều kiện là việc xét xử của trọng tài được hai bên thoả thuận", "có thể từ chối thi hành quyết định của trọng tài theo điều kiện nói trên trong những trường hợp sau đây: a) Nếu quyết đính của trọng tài, theo pháp luật của nước nơi xét xử, chưa có hiệu lực như một quyết định chung thẩm; b) Nếu quyết định của trọng tài bắt buộc bên thi hành phải làm một việc trái với pháp luật của nước mình".

Theo khoản 6 Điều 7 của Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ được ký năm 2000, mỗi bên bảo đảm tại lãnh thổ của mình có một cơ chế hiệu quả để công nhận và thi hành các quyết định trọng tài.

Trong một số hiệp định khác về buôn bán và hàng hải giữa Việt Nam với các nước cũng có các điều khoản về công nhận và thi hành quyết định trọng tài nưốc ngoài.

Trong số các công ước đa phương trong lĩnh vực này, điển hình nhất là Công ưốc New York năml958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài (hiện nay có gần 100 nước tham gia. Việt Nam đã tham gia Công ước này từ tháng 7 năm 1995).

Theo Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài, Công ưốc được áp dụng đốì với quyết định của trọng tài các nước thành viên tham gia Công ưốc và đối với cả trường hợp quyết định của trọng tài được tuyên ở ngoài phạm vi lãnh thổ các nưóc tham gia Công ước, nhưng được đề nghị công nhận và thi hành trên lãnh thổ của một nưốc tham gia Công ước. Tuy nhiên, mỗi nước có quyền tuyên bố không áp dụng Công ước đốỉ vối trường hợp quyết định trọng tài được tuyên ngoài phạm vi lãnh thổ của các nước tham gia Công ước.

Nội dung của Công ước được áp dụng đối vối các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh tế, buôn bán của cá nhân và pháp nhân, nhưng không loại trừ trường hợp tranh chấp có một bên tham gia là Nhà nưốc, cơ quan Nhà nước. Áp dụng các quy định của Công ước đối vối loại tranh chấp thứ hai hay không còn tuỳ thuộc vào quyết định của mỗi nước thành viên Công ước.

Công ước có hiệu lực đốì vối việc công nhận và thi hành quyết định của trọng tài đơn vụ và cả của trọng tài thường trực hay trọng tài quy chế. Việc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài được thực hiện phù hợp với pháp luật tố tụng của nước nơi quyết định đó cần được công nhận và cho thi hành.

2.Trường hợp có quyền từ chối 

Mỗi nước thành viên có quyền từ chối việc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài trong các trường hợp sau đây:

-    Các bên ký kết thoả thuận trọng tài nhưng không có năng lực hành vi hoặc thoả thuận trọng tài không có hiệu lực pháp luật theo pháp luật áp dụng cho thoả thuận hoặc theo pháp luật nơi quyết định trọng tài được tuyên;

-               Bên đương sự phải thi hành không được thông báo hợp lệ về việc chỉ định trọng tài viên, vê phiên họp xét xử của trọng tài hoặc vì những lý do khác bên đương sự này không thể trình bày được ý kiến của mình;

-     Quyết định của trọng tài được tuyên vượt quá thẩm quyền nêu trong thoả thuận trọng tài;

-     Thành phần của trọng tài và thủ tục xét xử không phù hợp với thoả thuận của các bên đương sự hoặc pháp luật nơi đăt trụ sở của trọng tài;

-     Quyết định của trọng tài chưa là quyết định chung thẩm hoặc bị huỷ bỏ hay đình chỉ hiệu lực bởi cơ quan có thẩm quyền của nước nơi quyết định đó được tuyên;

Tranh chấp không là đốì tượng giải quyết của trọng tài hoặc việc công nhận và thi hành quyết định của trọng tài trái với trật tự công cộng theo pháp lụật của nưốc nơi quyết định trọng tài được đề nghị công 

-     nhận và cho thi hành.

Nhìn chung, nội dung của Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực quan hệ kinh tế, buôn bán, khoa học - công nghệ và văn hoá giữa các nước.

Khi quyết định tham gia Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài, Nhà nước ta khẳng định chỉ áp dụng Công ước đôi vối việc công nhận và eho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ quốc gia là thành viên của Công ước này. Đốỉ vối quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ của quốc gia chưa ký kết hoặc tham gia Công ước, thì Công ước này được áp dụng trên cơ sỏ nguyên tắc có đi có lại. Nhà nưồc ta còn khẳng định chỉ áp dụng Công ước đối với tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại; mọi việc giải thích Công ước trưốc toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải theo quy dịnh của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.

Các quy định của Nhà nưốc ta khi gia nhập Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài hoàn toàn phù hợp với khuôn khổ mà Công ước cho phép. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, hiện nay, nội dung khái niệm quan hệ pháp luật thương mại ỏ Việt Nam rất hẹp, chỉ bao gồm quan hệ mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các quan hệ trong việc xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội. Trong khi đó, nội dung khái niệm này ỏ các nước được hiểu rộng hơn nhiều. Vì vậy, không tránh khỏi trường hợp ồ nước ngoài một tranh chấp được gọi là tranh chấp phát sinh từ quan hệ thương mại, nhưng  Việt Nam tranh chấp đó không thuộc khái niệm tranh chấp thương mại, và do đó nẩy sinh một vấn đề ở Việt Nam, quyết định của trọng tài nước ngoài về tranh chấp này có thuộc phạm vi áp dụng Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài hay không.

Để bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế quy định trong các điều ưốc quốc tế mà nưốc ta đã hoặc sẽ ký kết hoặc tham gia, thiết nghĩ cần sốm tạo ra sự tương đồng với các nước trên thế giối về nội dung khái niệm quan hệ pháp luật thương mại.

3. Tạm đình chỉ thi hành, hủy quyết định CN và cho TH phán quyết của Trọng tài nước ngoài

Tạm đình chỉ thi hành, hủy quyết định công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài được quy định tại Điều 463 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, theo đó:

1. Ngay sau khi nhận được thông báo bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc đang xem xét yêu cầu hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài từ đương sự hoặc Bộ Tư pháp, Tòa án đã ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết đó phải yêu cầu Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành phán quyết.

Ngay sau khi nhận được yêu cầu của Tòa án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành phán quyết và gửi quyết định đó cho Tòa án đã ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài, đồng thời gửi cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể áp dụng biện pháp bảo đảm cần thiết cho việc tiếp tục thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự nếu có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân được thi hành.

2. Ngay sau khi nhận được thông báo bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài, Tòa án Việt Nam đã ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài ra quyết định hủy bỏ quyết định đó và gửi quyết định này cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan thi hành án dân sự.

Ngay sau khi nhận được quyết định của Tòa án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ việc thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài.

4.Quan niệm của pháp luật Đức về phán quyết trọng tài nước ngoài

Công ước New York nêu ra hai cách thức mà một phán quyết trọng tài có thể được xem là phán quyết trọng tài nước ngoài: (i) phán quyết được ban hành ngoài lãnh thổ của nước CNCTH và (ii) phán quyết được ban hành trong lãnh thổ nước CNCTH nhưng không được xem là phán quyết trọng tài trong nước[9]. Cả hai cách thức này đều căn cứ vào cách tiếp cận mang tính lãnh thổ (territorial approach), tức là nơi mà phán quyết trọng tài được ban hành, chứ hoàn toàn không nhấn mạnh về việc trọng tài ban hành ra phán quyết được điều chỉnh bởi luật của nước nào.

Trong bối cảnh của Đức, do chọn cách dẫn chiếu trực tiếp Công ước New York nên BLTTDS Đức không có bất kỳ điều khoản nào nêu bật khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài. Điều 1025(1) nói rằng nếu quy trình trọng tài được tiến hành trên lãnh thổ của Đức thì quy trình trọng tài đó sẽ chịu sự điều chỉnh của luật Đức. Thực tiễn trọng tài thương mại của Đức chứng minh rằng, bất kể trọng tài giải quyết tranh chấp là trọng tài trong nước hay nước ngoài, cũng như bất kể luật áp dụng cho quy trình trọng tài là có phải là luật Đức hay không, thì phán quyết khi được tuyên trong lãnh thổ Đức sẽ là phán quyết trọng tài trong nước. Tương tự, nếu như một quán quyết trọng tài được tuyên ngoài lãnh thổ của Đức, không cần biết là có phải do trọng tài nước ngoài tuyên hay không, cũng không cần biết luật áp dụng cho quy trình tố tụng trọng tài là luật của Đức hay luật của nước khác, phán quyết trọng tài đó sẽ được xem là phán quyết trọng tài nước ngoài. Từ quan niệm của luật Đức, có thể rút ra kết luận rằng chỉ cần căn cứ vào nơi tuyên phán quyết thì có thể dễ dàng xác định rằng một phán quyết có phải là phán quyết trọng tài nước ngoài hay không. Vì áp dụng triệt để nguyên tắc lãnh thổ nên khái niệm “phán quyết của trọng tài nước ngoài” (award of foreign arbitration) là không có ý nghĩa và do đó không tồn tại trong pháp luật Đức.

Về mặt nội dung của phán quyết trọng tài nước ngoài, một phán quyết muốn được CNCTH tại Đức phải mang tính ràng buộc và chứa đựng những phán xét về nội dung của vụ tranh chấp. Các phán quyết giải quyết toàn bộ vụ tranh chấp (phán quyết toàn phần), một phần nội dung vụ tranh chấp (phán quyết từng phần) là những trường hợp phổ biến nhất và thường xuyên được yêu cầu CNCTH tại các tòa án Đức. Cũng không hiếm trường hợp các tòa án Đức đối mặt với các yêu cầu CNCTH các phán quyết đồng thuận, vốn dĩ hình thành trên sự thỏa thuận với nhau về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhằm giải quyết nội dung tranh chấp và được trọng tài ghi nhận trong một phán quyết. Ngoài ra, các phán quyết về phí, chi phí liên quan đến tố tụng trọng tài mà các bên phải chi trả cũng có thể được tòa án Đức CNCTH.

5. Pháp lệnh Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài

Ngay khi trở thành thành viên chính thức của Công ước New York, Việt Nam đã gấp rút chuyển hóa các điều khoản của Công ước này vào trong nền pháp chế của mình. Bằng chứng là Pháp lệnh Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài (Pháp lệnh 1995) đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 14/9/1995. Ngay từ Điều 1 của Pháp lệnh 1995, khái niệm phán quyết của trọng tài nước ngoài, chứ không phải phán quyết trọng tài nước ngoài, đã được đề cập một cách cụ thể, theo đó phán quyết của trọng tài nước ngoài sẽ rơi vào một trong hai trường hợp[16]: (i) phán quyết được tuyên ngoài lãnh thổ Việt Nam do các bên thỏa thuận để giải quyết các tranh chấp thương mại, và (ii) phán quyết tuyên trong lãnh thổ Việt Nam nhưng không do trọng tài Việt Nam tuyên

Nhìn vào quy định trên thì có thể khẳng định rằng Pháp lệnh 1995 đã nội luật hóa quan điểm của Công ước New York về hai cách thức nhằm xác định khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài. Thế nhưng, nếu như đoạn 1 Điều 1 Pháp lệnh 1995 là sự chuyển hóa chính xác tinh thành của công ước New York khi nêu bật vai trò tiên quyết của yếu tố lãnh thổ mà không quan tâm đến trọng tài là trong nước hay nước ngoài, thì đoạn 2 lại hiểu không chính xác quan điểm của Công ước New York khi ghi nhận rằng phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết tuyên trong lãnh thổ Việt Nam nhưng không do trọng tài Việt Nam tuyên. Lẽ ra, đoạn 2 phải ghi là phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết tuyên trong lãnh thổ Việt Nam nhưng không phải là phán quyết trọng tài trong nước. Có lẽ là do thực tiễn trọng tài tại thời điểm hơn 20 năm trước vẫn còn nhiều hạn chế, và căn cứ vào cách hiểu phổ biến là hễ cứ phán quyết không do trọng tài Việt Nam tuyên là không phải là phán quyết trong nước nên đã dẫn đến cách hiểu không chính xác về khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài.

Một kết luận có thể rút ra từ khái niệm phán quyết của trọng tài nước ngoài theo Pháp lệnh 1995 là dù vẫn chủ trương áp dụng tinh thần của Công ước New York tại đoạn 1 Điều 1, nhưng do cách diễn giải không chính xác tại đoạn 2 nên yếu tố chính yếu là yếu tố lãnh thổ chỉ được diễn giải đúng một phần. Do vậy, có thể nêu ra tính chất nước ngoài hay trong nước của phán quyết trọng tài theo tinh thần Pháp lệnh 1995 trong bốn trường hợp sau:

(i) Phán quyết do trọng tài nước ngoài lập ngoài lãnh thổ Việt Nam là phán quyết nước ngoài.

(ii) Phán quyết do trọng tài Việt Nam lập ngoài lãnh thổ Việt Nam là phán quyết nước ngoài.

(iii) Phán quyết do trọng tài nước ngoài lập tại Việt Nam là phán quyết nước ngoài.

(iv) Phán quyết do trọng tài Việt Nam lập ở Việt Nam là phán quyết trong nước.

Cho dù cách diễn dịch không hoàn toàn chính xác Công ước New York đã dẫn đến việc đồng nhất hai khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài và phán quyết của trọng tài nước ngoài, nhưng quan niệm của Pháp lệnh 1995 cũng tương đối phù hợp và có ý nghĩa nhất định trong việc đảm bảo tinh thần của Công ước New York. Đáng tiếc là cách diễn dịch này đã không được duy trì trong BLTTDS 

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)