1. Trách nhiệm hình sự đối với người nước ngoài.
Căn cứ vào Điều 5 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định về hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam như sau:
+ Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.
+ Đối với hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì không phân biệt là người Việt Nam hay người nước ngoài đều bị xử lý theo quy định pháp luật về Hình sự của Việt Nam khi thực hiện hành vi phạm tội.
+ Trường hợp người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó. Nếu điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo con đường ngoại giao.
Như vậy, khi người nước ngoài thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của Bộ luật Hình sự thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nhưng người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam mà thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự thì trách nhiệm hình sự của những đối tượng này sẽ được giải quyết theo con đường ngoại giao.
Nếu người nước ngoài phạm tội ở ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại đến lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Được biết, hình phạt trục xuất là hình phạt đặc thù dành cho người phạm tội là người nước ngoài. Hình phạt được Tòa án áp dụng đối với người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam dựa trên mức độ, hậu quả, tính chất,...của hành vi vi phạm. Theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), trục xuất là hình phạt buộc người nước ngoài đã bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đối với trường hợp người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam thì có thể bị dẫn độ về nước xử lý được không thì theo quy định tại Điều 32 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, dẫn độ là một việc nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án tử hình đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó. Nếu quốc gia của công dân có văn bản yêu cầu dẫn độ người nước ngoài về nước để xử lý thì tùy từng trường hợp, tình huống cụ thể thì cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam có thể đồng ý hoặc không đồng ý về việc dẫn độ. (cơ quan tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam từ chối dẫn độ nếu thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007)
2. Đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao, lãnh sự
* Viên chức ngoại giao:
Tại Điều 31 Công ước Viên của Liên hợp quốc về quan hệ ngoại giao năm 1961, viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ xét xử về hình sự của nước tiếp nhận. Hay theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam năm 1993: Viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ xét xử về hình sự tại Việt Nam. Nhưng nếu nước cử từ bỏ một cách rõ ràng quyền miễn trừ này đối với viên chức ngoại giao thì họ có thể vẫn bị xét xử về hình sự.
Viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ xét xử về hình sự ở nhận đại diện một cách tuyệt đối và quyền này chỉ được nước cử đại diện có quyền khước từ (việc khước từ cần phải được thể hiện rõ ràng bằng văn bản).
* Các thành viên gia đình của viên chức ngoại giao:
Tại Điều 37 Công ước Viên của Liên hợp quốc về quan hệ ngoại giao năm 1961, các thành viên gia đình của viên chức ngoại giao cùng sống chung với người đó, nếu không phải là công dân của nước tiếp nhận thì được hưởng những quyền ưu đãi và miễn trừ, gồm: quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền bất khả xâm phạm về nơi ở, tài liệu, thư tín, tài sản và phương tiện đi lại; quyền miễn trừ xét xử về hình sự, dân sự và xử phạt vi phạm hành chính; quyền được miễn thuế và lệ phí của nhà nước; quyền ưu đãi và miễn trừ hải quan...
Do đó, các thành viên gia đình của viên chức ngoại giao nếu sống chung với họ và không phải là công dân nước nhận đại diện thì vẫn được hưởng đầy đủ các quyền ưu đãi và miễn trừ như của viên chức ngoại giao, trong đó có cả quyền miễn trừ xét xử về hình sự.
* Nhân viên hành chính kỹ thuật và thành viên gia đình của họ:
Điều 37 Công ước Viên của Liên hợp quốc về quan hệ ngoại giao năm 1961 hay tại Điều 17 Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam năm 1993 thì các nhân viên hành chính và kỹ thuật của cơ quan đại diện cũng như các thành viên gia đình cùng sống chung với họ, nếu không phải là công dân Nước tiếp nhận hoặc không có nơi cư trú thường xuyên ở nước này, được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ sau: quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền bất khả xâm phạm về nơi ở, tài liệu, thư tín, tài sản và phương tiện đi lại; quyền miễn trừ xét xử về hình sự, dân sự và xử phạt vi phạm hành chính; quyền miễn thực hiện chế độ bảo hiểm ở nước tiếp nhận đối với các công việc phục vụ cho nước cử đi; quyền được miễn thuế và lệ phí của nhà nước;...
* Viên chức lãnh sự và nhân viên lãnh sự:
Căn cứ vào Điều 28 Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam năm 1993: Viên chức lãnh sự và nhân viên lãnh sự khi thực hiện chức năng của mình được hưởng quyền miễn trừ xét xử về hình sự trừ trường hợp phạm tội nghiêm trọng.
Trong trường hợp được tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự đối với viên chức lãnh sự thì viên chức lãnh sự phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam. Việc tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện dựa trên sự tôn trọng cương vị chính thức của viên chức lãnh sự và ít gây cản trở cho việc thực hiện chức năng lãnh sự của họ. Nếu phải áp dụng biện pháp tạm giữ hoặc tạm giam thì việc tiến hành các hoạt động tố tụng đối với viên chức lãnh sự đó phải được tiến hành trong thời gian sớm nhất.
Ngoài ra, đối với nhân viên phục vụ của cơ quan đại diện ngoại giao không phải là công dân nước tiếp nhận hoặc không có nơi cư trú thường xuyên ở nước này được hưởng những quyền miễn trừ đối với những hành vi trong khi thi hành chức năng của họ. Và những người phục vụ riêng cho các thành viên của cơ quan đại diện không phải là công dân của nước tiếp nhận hoặc không có nơi cư trú thường xuyên ở nước này thì sẽ được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ trong phạm vi được nước tiếp nhận cho phép...
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết "Vấn đề trách nhiệm hình sự đối với người nước ngoài được quy định như thế nào trong Bộ luật Hình sự năm 2015?" mà Luật Minh Khuê muốn gửi đến bạn đọc. Nếu bạn đọc có bất kỳ vướng mắc nào liên quan đến vấn đề này hay vấn đề pháp lý khác thì vui lòng liên hệ tới bộ phận tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của Luật Minh Khuê qua số 1900.6162 để được hỗ trợ kịp thời. Xin chân thành cảm ơn!.