1. Khái niệm chế tài do vi phạm Hợp đồng xây dựng

HĐXD có hiệu lực sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa bên giao thầu và nhận thầu xây dựng. Các cam kết theo hợp đồng có sự ràng buộc pháp lý đối với mỗi bên, các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng được coi là luật  mà  các  bên phải thực hiện. Nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng luôn được đặt ra và yêu cầu các bên phải tuân thủ. Tuy nhiên, việc thực hiện đúng hợp đồng không phải lúc nào cũng được các bên tuân thủ một cách tuyệt đối. Việc không thực hiện hay thực hiện không đúng những nghĩa vụ pháp lý đó được coi là hành vi vi phạm hợp đồng đã ký kết.
Theo LTM thì “vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo theo thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này”. BLDS không đề   cập trực tiếp đến khái niệm vi phạm hợp đồng nhưng cũng tiếp cận khái niệm vi phạm hợp đồng theo hướng của LTM mà nội dung của vi phạm hợp đồng được hiểu là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng.

2. Việc thực hiện không đúng nghĩa vụ cũng đã bao hàm việc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của hợp đồng

Trong HĐXD, nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng được đặt ra với cả bên giao thầu và bên nhận thầu. Tuy nhiên, nghĩa vụ chính và chủ yếu được đặt ra đối với bên nhận thầu là tiến hành các công việc cụ thể theo tiêu chuẩn và yêu cầu kỹ thuật để các bộ phận, hạng mục công trình, công trình xây dựng được hoàn thành. Đối với bên giao thầu, nghĩa vụ được đặt ra là tạm ứng hợp đồng, thanh toán hợp đồng và một số nghĩa vụ khác.
Quá trình nhà thầu thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết là quá trình thực hiện các công việc mang tính kỹ thuật đặc thù, theo thiết kế đã được phê duyệt từ trước có sự kiểm tra, giám sát của nhà thầu tư vấn giám sát. Tuy nhiên, vi phạm HĐXD vẫn xảy ra khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng. Điều này có thể xâm hại đến lợi ích hợp pháp của bên có quyền và trong nhiều trường  hợp  làm  cho mục đích giao kết hợp đồng của các  bên không đạt được. Hành vi vi phạm HĐXD rất đa dạng và xảy ra khá phổ biến đã ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ, chất lượng công trình, ảnh hưởng đến việc khai thác, sử dụng công trình của CĐT, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên.
Dưới góc độ pháp lý, các thỏa thuận hợp pháp có giá trị ràng buộc giữa các bên và được pháp luật bảo vệ. Lợi ích của chủ thể chỉ được thỏa mãn khi đối tác của họ thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đã cam kết. Chế tài do vi phạm HĐXD được đặt ra nhằm nâng cao trách nhiệm của mỗi bên trong việc thực hiện đúng hợp đồng, buộc bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm hợp đồng cũng như để khắc phục, hạn chế được các thiệt hại có thể xảy ra.

3. Chế tài do vi phạm hợp đồng

Là một loại trách nhiệm pháp lý do không thực hiện nghĩa vụ pháp lý, nó chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng của các bên. Ở mức độ khái quát, chế tài do vi phạm hợp đồng mang bản chất là một dạng cụ thể của chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam. Vì vậy, chế tài do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng trước hết mang những đặc điểm của chế tài do vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam nói chung, tuy nhiên nó có điểm đặc thù là chỉ phát sinh trong lĩnh vực hợp đồng khi có hành vi vi phạm hợp đồng. Và như vậy, việc áp dụng chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam chỉ được tiến hành khi các bên trong quan hệ HĐXD không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo HĐXD đã ký kết. Với cách tiếp cận như vậy, luận văn chỉ xem xét các vấn đề lý luận và thực tiễn về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam do vi phạm HĐXD với ý nghĩa là một loại chế tài pháp lý phát sinh khi có hành vi vi phạm HĐXD. Trong khoa học pháp lý, khái niệm chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam được nghiên cứu dưới hai góc độ chủ quan và khách quan.
Theo nghĩa chủ quan, chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam được hiểu là sự gánh chịu hậu quả bất lợi của bên có hành vi vi phạm HĐXD. Khi hợp đồng có hiệu lực, các bên có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản đã cam kết. Nếu một bên có hành vi vi phạm thì phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm đó gây ra. Việc gánh chịu những hậu quả này phải tuân theo quy định của pháp luật về HĐXD nói chung và HĐXD nói riêng. Pháp luật hiện hành cho phép áp dụng nhiều hậu quả bất lợi đối với bên vi phạm hợp đồng như: Buộc sửa chữa khắc phục những sai sót hư hỏng của công trình xây dựng (Buộc thực hiện đúng hợp đồng); buộc bồi thường thiệt hại; phạt vi phạm hợp đồng; tạm ngừng thực hiện hợp đồng; đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Theo nghĩa khách quan, chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam được hiểu là một chế định pháp luật bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội phát sinh do vi phạm chế độ pháp lý về HĐXD. Những quy phạm pháp luật này có thể cho phép áp dụng bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm hợp đồng… ngay cả khi các bên không thỏa thuận điều đó trong hợp đồng. Đây là sự thể hiện thái độ phản ứng của Nhà nước đối với hành vi vi phạm hợp đồng gây hại cho bên kia và cho kinh tế - xã hội nói chung. Theo nghĩa này, cấu trúc chung của chế định trách nhiệm do vi phạm HĐXD bao gồm các nội dung sau đây:
• Quy định về căn cứ xác định chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam.
• Quy định về các hình thức chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam.
• Quy định về hậu quả pháp lý khi áp dụng chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam.
• Quy định về miễn trách nhiệm do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam.
Các quy định trong những nội dung nêu trên có thể được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của các quan hệ kinh tế tùy theo từng thời kỳ nhất định nhưng cấu trúc pháp lý của chế định chế tài do vi phạm HĐXD này không thể thay đổi. Mặt khác, nếu thiếu đi một trong bốn nội dung nêu trên thì hệ thống các quy định của pháp luật về chế tài pháp lý do vi phạm HĐXD sẽ không phát huy được vai trò và hiệu quả của pháp luật trong việc điều chỉnh và áp dụng chế tài HĐXD trên thực tế.
Đối với trách nhiệm do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam của một bên do nguyên nhân của bên thứ 3 gây ra, pháp luật hiện hành cũng đưa ra cách  giải quyết rất cụ thể mang tính nguyên tắc. Đó  là,  “Trường  hợp  một  bên  vi  phạm hợp đồng do nguyên nhân của bên thứ ba, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm vi phạm hợp đồng trước bên kia. Tranh chấp giữa bên vi phạm với bên thứ ba được giải quyết theo quy định của pháp luật.”

4. Ý nghĩa của chế tài do vi phạm hợp đồng xây dựng

Hoạt động xây dựng là một hoạt động có ý nghĩa về mặt kinh tế hết sức quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, nó tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu cho xã hội. Hệ thống các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động xây dựng nhằm đảm bảo cho trật tự của các quan hệ xã hội trong hoạt động xây dựng nói chung cũng như quan hệ HĐXD nói riêng. Việc các bên vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đã giao kết sẽ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi theo thỏa thuận và theo quy định của pháp luật. Do đó, chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam được quy định có ý nghĩa quan trọng, thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
- Thứ nhất là, chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ HĐXD. Khi tham gia vào quan hệ HĐXD, các bên đều hướng đến những lợi ích nhất định. Đó là những lợi ích hợp pháp nhận được từ việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng như lợi nhuận từ việc sản xuất, thi công, công trình xây dựng hoàn thành để sử dụng… Hành vi vi phạm HĐXD sẽ trực tiếp ảnh hưởng, làm giảm sút những lợi ích trên của bên bị vi phạm và để bảo vệ lợi ích của bên bị vi phạm, pháp luật cho phép họ được tự mình hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các chế tài đối với bên vi phạm.
- Thứ hai là, chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam nhằm ngăn ngừa và hạn chế vi phạm hợp đồng, nâng cao ý thức trách nhiệm của các bên trong việc ký kết và thực hiện HĐXD. Với nguyên tắc “lỗi suy đoán”, pháp luật buộc các bên phải gánh chịu chế tài với mọi hành vi vi phạm hợp đồng đã ký kết và có hiệu lực, ngoại trừ các trường hợp miễn chế tài mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên vi phạm hợp đồng. Với những bất lợi không muốn có mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu, chế tài do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng được đặt ra nhằm tác động vào ý thức của các bên trong việc tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết theo hợp đồng, từ đó hạn chế vi phạm HĐXD.
- Thứ ba là, chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam góp phần đảm bảo trật tự vận hành của hoạt động xây dựng, của nền kinh tế thị trường nói chung. HĐXD được ký kết và có hiệu lực thì nó sẽ ràng buộc chế tài giữa các bên thông qua các quyền và nghĩa vụ. Lúc này, nguyên tắc “thực hiện đúng hợp đồng” được đặt ra và buộc các bên phải thực hiện. Do vậy, để trách tình trạng tùy tiện, không tôn trọng các cam kết theo hợp đồng thì chế tài do vi phạm HĐXD được đặt ra góp phần đảm bảo cho sự vận hành có trật tự của các quan hệ trong hoạt động xây dựng cũng như quan hệ kinh tế nói chung. Điều này càng có ý nghĩa hơn đối với quan hệ HĐXD xây dựng những công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

5. Nguồn luật điều chỉnh chế tài do vi phạm Hợp đồng xây dựng

Nguồn luật điều chỉnh
Nghiên cứu và xác định nguồn luật điều chỉnh chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xác định những quy phạm pháp luật hiện hành nào điều chỉnh quan hệ HĐXD từ đó áp dụng pháp luật điều chỉnh và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐXD. Pháp luật về chế  tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh do  vi phạm chế độ pháp lý về HĐXD.
Nguồn luật điều chỉnh quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng nói chung có sự khác nhau phụ thuộc vào hệ thống pháp luật của từng nước quy định về vấn đề đó. Ở các nước theo hệ thống luật Common Law như Anh, Mỹ thì án lệ là nguồn luật quan trọng, thẩm phán có quyền giải thích và sáng tạo luật. Còn những nước theo hệ thống dân luật Civil Law như Pháp, Đức thì thẩm quyền này của thẩm phán bị hạn chế, án lệ là nguồn luật không chủ yếu khi xét xử mà các quy định của luật, văn bản dưới luật chủ yếu được áp dụng.
Ở một số nước, nhất là những nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì tập quán thương mại cũng đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ thương mại. Trong Bộ luật thương mại Nhật Bản, khi xác định thứ tự áp dụng tập quán thương mại thậm chí còn ưu tiên áp dụng trước các quy định của Bộ luật dân sự và tập quán dân sự. Ở Việt Nam, tập quán là một nguồn phụ trợ của pháp luật, đóng vai trò nhất định trong điều chỉnh các quan hệ hợp đồng, các văn bản như BLDS và LTM đều có quy định về áp dụng tập quán. Cụ thể, Điều 5, BLDS quy định áp dụng tập quán như sau: “Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.” [20]. Khoản 2, Điều 5, LTM cũng có quy định về nguyên tắc áp dụng tập quán thương mại quốc tế:
Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận  áp dụng pháp luật của nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật của nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Na.
Ở Việt Nam, án lệ chính thức được thừa nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam là bước ngoặt lớn, đánh dấu sự đột phá trong quá trình cải cách tư pháp. Tuy nhiên, nguồn luật chủ yếu và quan trọng nhất chính là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, đây cũng chính là bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống nguồn luật điều chỉnh về mỗi lĩnh vực kinh tế - xã hội. Pháp luật điều chỉnh chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam nói chung và HĐXD nói riêng được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, hết sức đa dạng. Bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật sau:
• Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh chung về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam do vi phạm hợp đồng dân sự là BLDS. Các quy định này được ghi nhận trong các chế định pháp lý về nghĩa vụ dân sự, chế định pháp lý về hợp đồng dân sự. Theo đó, BLDS đã có những quy định chung về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam do vi phạm nghĩa vụ và vi phạm hợp đồng áp dụng cho mọi quan hệ hợp đồng nói chung. Mặc dù, được ghi nhận rải rác trong các chế định khác nhau nhưng BLDS đã quy định tương đối bao quát và đầy đủ cấu trúc chung của hệ thống các quy định pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng. Đó là các nội dung cơ bản như: Quy định về căn cứ xác định chế tài do vi phạm nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự; quy định về một số hình thức chế tài do vi phạm nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự; quy định về loại trừ chế tài do vi phạm nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự; quy định về hậu quả pháp lý khi áp dụng chế tài do vi phạm nghĩa vụ và hợp đồng.
• Văn bản quy phạm pháp luật điều  chỉnh  riêng  về  chế tài do  vi phạm hợp đồng trong hoạt động kinh doanh thương mại đó là LTM quy định về chế tài trong thương mại. Trên cơ sở các quy định chung mang tính nguyên tắc về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam do vi phạm nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự, LTM quy định về chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm hợp đồng trong hoạt động kinh doanh thương mại nói riêng như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng gia công trong thương mại…Khác với BLDS, trong LTM đã dành một mục ghi nhận chế định riêng biệt về  chế tài do vi phạm hợp  đồng thương mại, đó là chế định “chế tài trong thương mại” [21, Chương VII, Mục 1]. Chế định pháp luật về chế tài trong thương mại ghi nhận đầy đủ và tập trung và mang tính khái quát cao các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại với đầy đủ cấu trúc cơ bản của nó, đó là: quy định về căn cứ áp dụng chế tài trong thương mại; quy định về các loại chế tài trong thương mại; quy định về các trường hợp miễn chế tài do vi phạm hợp đồng; quy định về hậu quả pháp lý khi áp dụng chế tài.
• Văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành quy định về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam nói chung và HĐXD nói riêng là Luật xây dựng năm 2014 và các văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành như Nghị định 37, Thông tư số 09 (gọi là các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng). Trên cơ sở các quy định về chế tài do vi phạm nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự trong BLDS và các quy định về chế tài trong thương mại theo quy định của LTM, các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng đã quy định về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam phù hợp với đặc thù của HĐXD. Các quy định về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam trong pháp luật chuyên ngành được đề cập một cách rải rác trong một số điều khoản khác nhau và trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, chưa có tính khái quát cao, tuy nhiên cũng đã ghi nhận một số vấn đề chủ yếu như: Căn cứ áp dụng chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam, các hình thức chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam và hậu quả pháp lý khi áp dụng.
• Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, các điều ước quốc tế có liên quan đến hợp đồng nói chung mà Việt Nam là thành viên cũng là một loại nguồn luật điều chỉnh quy địnhvề chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam như: Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế; Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế UNIDROIT.
Với sự đa dạng về nguồn luật quy định chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam nêu trên, thì hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia về hợp đồng là nguồn luật chủ yếu và cơ bản được áp dụng ở nước ta hiện nay. Bởi lẽ, chế độ pháp lý về chế tài do vi phạm hợp đồng nói chung được ghi nhận khá đầy đủ trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật chung, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật riêng và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành

6. Tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật về chế tài do vi phạm Hợp đồng xây dựng

Việc nghiên cứu và hiểu rõ tính thống nhất của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ phù hợp với các yêu cầu đặt ra. Hơn nữa, một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn thiện sẽ là cơ sở cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất và có hiệu quả cao. Tính thống nhất của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chế tài do vi phạm HĐXD được thể hiện trong mối quan hệ giữa luật chung - luật riêng và luật chuyên ngành. Đây là một nguyên tắc áp dụng pháp luật cơ bản ở hầu hết các nước theo truyền thống Civil Law như Pháp, Nhật, Việt Nam. Cụ thể, BLDS được coi là một đạo luật gốc (luật chung), các quy định trong đó được áp dụng cho mọi giao dịch có tính chất bình đẳng, tự nguyện giữa các chủ thể tham gia trong các lĩnh vực: dân sự, thương mại, lao động... LTM (luật riêng) trên cơ sở các quy định của luật gốc đã quy định những vấn đề riêng trong hoạt động thương mại, các quy định đó được áp dụng riêng cho hoạt động thương mại có tính chất kinh doanh thu lợi như: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại, gia công trong thương mại và các hoạt động trung gian thương mại khác. Trong lĩnh vực xây dựng cụ thể, Luật xây dựng và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định những vấn đề áp dụng riêng cho HĐXD. Quy định riêng về HĐXD trong luật chuyên ngành thường đề cập các vấn đề chủ yếu mang tính chất đặc trưng của loại hợp đồng đó. Trong mối quan hệ giữa luật chung - luật riêng và luật chuyên ngành, pháp luật cho phép luật chuyên ngành (luật riêng trong từng lĩnh vực cụ thể) có thể có những quy định không đồng nhất với luật chung, nhưng những quy định này phải đảm bảo tính thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật, không chồng chéo, gây khó khăn khi áp dụng. Mối quan hệ giữa luật chung luật riêng và luật chuyên ngành không chỉ giải quyết vấn đề xác định các văn bản nào chứa đựng quy phạm điều chỉnh quan hệ đó mà còn đưa ra nguyên tắc áp dụng pháp luật.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty Luật Minh Khuê