1.Quy định về xét xử đới với người dưới 18 tuổi

1. Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi.

2. Trường hợp đặc biệt cần bảo vệ bị cáo, bị hại là người dưới 18 tuổi thì Tòa án có thể quyết định xét xử kín.

3. Phiên tòa xét xử bị cáo là người dưới 18 tuổi phải có mặt người đại diện của bị cáo, đại diện của nhà trường, tổ chức nơi bị cáo học tập, sinh hoạt, trừ trường hợp những người này vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.

>> Xem thêm: Thủ tục trước khi xét xử sơ thẩm và phiên toà sơ bộ theo pháp luật Hoa Kỳ?

4. Việc xét hỏi, tranh luận với bị cáo, bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi tại phiên tòa được tiến hành phù hợp với lứa tuổi, mức độ phát triển của họ. Phòng xử án được bố trí thân thiện, phù hợp với người dưới 18 tuổi.

5. Đối với vụ án có bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi, Hội đồng xét xử phải hạn chế việc tiếp xúc giữa bị hại, người làm chứng với bị cáo khi bị hại, người làm chứng trình bày lời khai tại phiên tòa. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hỏi bị hại, người làm chứng.

6. Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải quyết định hình phạt đối với bị cáo thì Hội đồng xét xử áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.

7. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết việc xét xử vụ án có người dưới 18 tuổi của Tòa gia đình và người chưa thành niên.

2. Một số quy định của BLHS năm 2015 về truy cứu TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội

Về nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội: Được quy định tại Điều 91 BLHS năm 2015.
Thứ nhất, so với Điều 69 BLHS cũ thì khoản 1 Điều 91 BLHS năm 2015 đã bổ sung nguyên tắc: “Việc xử lý người dưới 18 phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi”. Đây là nguyên tắc mang tính chỉ đạo, thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình xử lý người chưa thành niên phạm tội. Với mục đích chủ yếu là nhằm giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên phạm tội sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời thấy được tính chất của tội phạm và sự nghiêm minh của pháp luật chứ không đề cập trực tiếp đến mục đích trừng trị.

Thứ hai, trên cơ sở kế thừa khoản 2 Điều 69 BLHS cũ thì khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015 cũng quy định người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp theo quy định của pháp luât và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục. Theo đó, các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục gồm:

>> Xem thêm: Các bộ phận giúp việc cho tòa án Liên bang Hoa Kỳ ?

(1) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại: Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cửa người khác), Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 171 (tội cướp giật tài sản), Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy), Điều 249 (tôi tàng trữ trái phép chất ma túy), Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy), Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy, Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy).

(2) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015, đó là phạm tội rất nghiêm trọng thuộc một trong 28 tội danh mà BLHS năm 2015 quy định đối tượng này phải chịu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại: Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy).

(3) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án.

Như vậy, so với BLHS cũ thì khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015 đã mở rộng đối tượng được miễn trách nhiệm hình sự đối với cả người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi; đồng thời quy định cụ thể điều kiện miễn trách nhiệm hình sự và bổ sung quy định về việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với các đối tượng được miễn trách nhiệm hình sự nhằm đảm bảo tính khả thi cũng như hiệu quả áp dụng của chế định pháp lý này.

Thứ ba, việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp thật cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên thì Tòa án có thể áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục và biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được quy định tại mục 2 và mục 3 chương XII của BLHS năm 2015, gồm: Khiển trách (Điều 93), Hòa giải tại cộng đồng (Điều 94), Giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điều 95) và biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều 96). Trước đây BLHS cũ chỉ quy đinh chung chung người chưa thành niên phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự thì sẽ có gia đình hoặc cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục nhưng BLHS năm 2015 đã quy định cụ thể các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người chưa thành niên phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự. Đồng thời, quy định độ tuổi của từng loại tội phạm được áp dụng và nghĩa vụ của người bị áp dụng phải thực hiện đối với từng biện pháp. Trên cơ sở quy định của BLHS năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS năm 2015) cũng đã bổ sung các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người chưa thành niên phạm tội từ Điều 426 đến Điều 430 của Bộ luật và được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định 37/2018/NĐ-CP ngày 10/3/2018 của Chỉnh phủ, Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao – Bộ công an – Bộ tư pháp – Bộ lao động thương binh xã hội về việc phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi (Thông tư liên tịch số 06/2018).
Về hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại mục 4 chương XII của BLHS năm 2015 gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn. Như vậy, việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội là biện pháp cuối cùng.

>> Xem thêm: Lịch sử phát triển của các tòa án bang và hỗ trợ hành chính, nhân sự trong hệ thống tư pháp các bang của Hoa Kỳ ?

Thứ tư, là nguyên tắc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, tính chất giảm nhẹ được thể hiện ở những quy định về loại và mức hình phạt có thể áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội; không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội. Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.

3. Trình tư, thủ tục xét xử người dưới 18 tuổi

Kế thừa quy định của Bộ luật tố tụng hình sự cũ, pháp điển hóa các văn bản hướng dẫn thi hành, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sau đây viết tắt là BLTTHS) quy định chặt chẽ, cụ thể hơn về thủ tục lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng; hỏi cung bị can; đối chất là người dưới 18 tuổi; sửa đổi, bổ sung theo hướng tối thiểu hóa việc lấy lời khai, hỏi cung và đối chất đối với người dưới 18 tuổi, nhằm bảo đảm các hoạt động tố tụng được thực hiện phù hợp tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi, bảo đảm các quyền và lợi ích tốt nhất đối với họ, phù hợp với quy định của Công ước quốc tế về quyền trẻ em Cụ thể:ật sư ly hôn
-Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung cho người bào chữa, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. luật sư bào chữa, luat su bao chua
-Việc lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can phải có mặt người bào chữa hoặc người đại diện của họ. luật sư thừa kế
Việc lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng phải có người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tham dự. luật sư đất đai
-Người bào chữa, người đại diện có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can là người dưới 18 tuổi nếu được Điều tra viên, Kiểm sát viên đồng ý. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa, người đại diện có thể hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. luat su gioi, luat su hinh su
-Thời gian lấy lời khai người dưới 18 tuổi không quá hai lần trong 1 ngày và mỗi lần không quá 2 giờ, trừ trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp. Thời gian hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi không quá hai lần trong 1 ngày và mỗi lần không quá 2 giờ, trừ các trường hợp: Phạm tội có tổ chức; Để truy bắt người phạm tội khác đang bỏ trốn; Ngăn chặn người khác phạm tội; Để truy tìm công cụ, phương tiện phạm tội hoặc vật chứng khác của vụ án; hoặc vụ án có nhiều tình tiết phức tạp. luật sư bào chữa.
Chỉ tiến hành đối chất giữa bị hại là người dưới 18 tuổi với bị can, bị cáo để làm sáng tỏ tình tiết của vụ án trong trường hợp nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án.

>> Xem thêm: Cơ cấu tổ chức của Tòa án các bang ở Hoa Kỳ ?
BLTTHS năm 2015 quy định rõ hơn về quyền bào chữa và cơ chế bảo đảm quyền bào chữa của người dưới 18 tuổi (Điều 422). Theo đó, khẳng định rõ hơn quyền bào chữa của người dưới 18 tuổi: “Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”, thay vì quy định tùy nghi “có thể lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa…” như BLTTHS cũ (khoản 1, Điều 305).
Trường hợp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi không có người bào chữa hoặc người đại diện của họ không lựa chọn người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải chỉ định người bào chữa theo quy định tại Điều 76 của BLTTHS.

BLTTHS mở rộng đối tượng tiến hành tố tụng với tư cách là Hội thẩm, theo đó: Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên hoặc là người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi.
Quy định cụ thể trường hợp đặc biệt cần bảo vệ bị cáo, bị hại là người dưới 18 tuổi thì Tòa án có thể quyết định xét xử kín; bổ sung những người bắt buộc phải có mặt tham gia phiên tòa để trợ giúp tốt nhất cho bị cáo là người dưới 18 tuổi, bao gồm: người đại diện của bị cáo, đại diện của nhà trường, tổ chức nơi bị cáo học tập, sinh hoạt, trừ trường hợp những người này vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
Quy định rõ việc xét hỏi, tranh luận với bị cáo, bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi tại phiên tòa phải được tiến hành phù hợp với lứa tuổi, mức độ phát triển của họ; phòng xử án được bố trí thân thiện, phù hợp với người dưới 18 tuổi, bảo đảm đáp ứng các yêu cầu chuẩn mực quốc tế đặt ra. Đối với vụ án có bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi, Hội đồng xét xử phải hạn chế việc tiếp xúc giữa bị hại, người làm chứng với bị cáo khi bị hại, người làm chứng trình bày lời khai tại phiên tòa. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hỏi bị hại, người làm chứng.

Quy định này xuất phát từ mục đích, yêu cầu giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, đồng thời bảo đảm phù hợp với Bộ luật hình sự năm 2015 và luật pháp quốc tế, hạn chế tối đa việc xử lý hình sự, việc áp dụng hình phạt không cần thiết và tăng cường vai trò của gia đình và cộng đồng xã hội. luật sư hình sự giỏi, luat su bao chua o tphcm
Bộ luật hình sự năm 2015 quy định người phạm tội dưới 18 tuổi có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả và thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a,b,c khoản 1, Điều 91 Bộ luật hình sự. Về điều kiện, tính chất áp dụng chế định này đối với họ, Bộ luật hình sự quy định chỉ miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp khiển trách, hòa giải tại cộng đồng hoặc biện pháp giáo dục tại phường xã, phường, thị trấn, nếu người dưới 18 tuổi phạm tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ đồng ý với việc áp dụng một trong các biện pháp này; điều kiện, thời hạn, đối tượng áp dụng và nghĩa vụ của đối tượng bị áp dụng được quy định tại các điều từ 92 – 95 Bộ luật hình sự. luật sư bào chữa, luat su bao chua
Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự, BLTTHS năm 2015 bổ sung các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, theo đó: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thẩm quyền áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, bao gồm: khiển trách, hòa giải tại cộng đồng và giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điều 426).
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp khiển trách (Điều 427): Khi miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội mà xét thấy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp khiển trách theo quy định của Bộ luật hình sự thì Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng biện pháp khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong vụ án do cơ quan mình thụ lý, giải quyết và phải giao ngay quyết định này cho người bị khiển trách, cha mẹ hoặc người đại diện của họ. luật sư bào chữa, luat su bao chua
Thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng : Khi xét thấy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng theo quy định của Bộ luật hình sự thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng. Quyết định này phải được giao cho người dưới 18 tuổi phạm tội, cha mẹ hoặc người đại diện của họ; người bị hại, người đại diện của người bị hại và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi tổ chức việc hòa giải tại cộng đồng chậm nhất là 3 ngày trước ngày tiến hành hòa giải.

>> Xem thêm: Mẫu đơn xin xét xử ly hôn vắng mặt trong phiên tòa sơ thẩm mới 2021
Khi tiến hành hòa giải, Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên hoặc Thẩm phán được phân công tiến hành hòa giải phải phối hợp với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi tổ chức việc hòa giải và phải lập biên bản hòa giải. Ngay sau khi kết thúc hòa giải, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán tiến hành hòa giải phải đọc lại biên bản cho những người tham gia hòa giải nghe. Nếu có người yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung thì Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán đã lập biên bản phải ghi những sửa đổi, bổ sung đó vào biên bản và ký xác nhận. Trường hợp không chấp nhận yêu cầu thì phải ghi rõ lý do vào biên bản. Biên bản hòa giải được giao ngay cho những người tham gia hòa giải.
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn: Khi miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội mà xét thấy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định của Bộ luật hình sự thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong vụ án do cơ quan mình thụ lý, giải quyết.
Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải giao quyết định cho người bị áp dụng biện pháp này, cha mẹ hoặc người đại diện của họ và chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú.
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều 423 và Điều 430): Để bảo đảm thống nhất với quy định của Bộ luật hình sự, BLTTHS năm 2015 quy định trong trường hợp nếu thấy không cần thiết phải quyết định hình phạt đối bị cáo, thì Hội đồng xét xử áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
So với biện pháp giám sát, giáo dục khác đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng chỉ áp dụng trong trường hợp xét thấy không cần thiết phải quyết định hình phạt đối với họ và thẩm quyền quyết định thuộc về Hội đồng xét xử. Quyết định này phải được giao ngay cho người dưới 18 tuổi phạm tội, cha mẹ hoặc người đại diện của họ và trường giáo dưỡng nơi giáo dục họ để thực hiện.
Tóm lại, BLTTHS năm 2015 có rất nhiều quy định cụ thể về trình tự, thủ tục tố tụng thân thiện, nhân đạo áp dụng với người dưới 18 tuổi. Bảo đảm việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội vì lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

4. Những vướng mắc trong thực tiễn

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật trong xét xử người chưa thành niên phạm tội vẫn còn một số vướng mắc:

Một là, việc áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội khi xét xử. Theo quy định của BLHS năm 2015: Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của BLHS năm 2015 thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo quy định tại mục 2 Chương XII của Bộ luật hình sự.

>> Xem thêm: Khái niệm, nhiệm vụ, ý nghĩa của xét xử phúc thẩm vụ án hình sự ?

Thực tiễn xét xử, rất ít khi Tòa án áp dụng quy định người chưa thành niên phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 91 BLHS. Bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ ý thức chủ quan của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, vì điều luật quy định “có thể” cho miễn trách nhiệm hình sự tức là quy định tùy nghi, không bắt buộc nên Thẩm phán có quyền lựa chọn, nếu xét thấy bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng có nhiều tình tiết giảm nhẹ và đã tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả và đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015 nhưng Thẩm phán thường chọn giải pháp là xử bị cáo hình phạt Cải tạo không giam giữ hoặc hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo do chưa có hướng dẫn cụ thể.

Mặc khác, mặc dù BLHS năm 2015 và BLTTHS năm 2015 đã quy định đầy đủ về thẩm quyền, nghĩa vụ, thời hạn và trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục nhưng hiện chưa có Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn riêng về các biễu mẫu áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội đối với những trường hợp trên nên Thẩm phán của các Tòa án địa phương rất ít khi áp dụng các biện pháp này.

Nghiên cứu 60 biểu mẫu ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19/9/2017 của Hội đồng Thẩm phán chúng tôi thấy rằng các biểu mẫu này chỉ hướng dẫn chung cho thủ tục tố tụng của một vụ án hình sự.

Một nguyên nhân khác nữa là khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015 quy định một trong các điều kiện để người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự là họ phải có “nhiều tình tiết giảm nhẹ” và theo thiết kế về kỹ thuật lập pháp của BLHS thì có từ hai tình tiết trở lên là nhiều nhưng không quy định rõ các tình tiết giảm nhẹ này đều ở khoản 1 Điều 51 hay cả khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Trong khi tham khảo Điều 54 BLHS năm 2015 quy định rất rõ trường hợp quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng thì phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS. Với quy định chưa rõ ràng như vậy cũng tạo sự thiếu thống nhất trong xét xử nên các Thẩm phán rất khó áp dụng mà hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể cho trường hợp này.

Ví dụ: Theo hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2019/TLST-HS ngày 05/2/ 2019 của TAND huyện B, tỉnh Q thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Nguyễn Văn A là người chưa thành niên làm phụ xe chở gỗ keo cho anh T và là người yêu của chị C đã thành niên. Nguyễn Văn A, chị C và chị M thuê nhà trọ để ở cùng. Trong quá trình thuê trọ, chị C đánh bạc thua tiền nên cầm xe máy của mình rồi nói lại cho A biết là đã cầm xe máy đánh bạc thua tiền và không có tiền chuộc xe lại; nghe vậy A nghĩ đến việc kiếm tiền chuộc xe cho người yêu. Do bị cáo làm phụ xe cho anh T nên biết anh T có để hai hóa đơn cân gỗ keo trên cabin xe nên bị cáo đã lén lút trộm cắp hai hóa đơn trên đến nhà máy cân keo đổi được 19 triệu đồng. Sau đó, bị cáo lấy số tiền này chuộc lại xe cho người yêu hết 7 triệu đồng, số tiền còn lại bị cáo tiêu xài cá nhân hết 1 triệu đồng. Sau khi hành vi bị phát hiện, bị cáo đã tự nguyện đem trả cho anh T số tiền 11 triệu đồng và bị cáo đã tác động bố mẹ bị cáo bồi thường số tiền còn lại cho anh T và anh T có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Khi phạm tội bị cáo Nguyễn Văn A chưa đủ 18 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 11 tháng 06 ngày) và bị VKSND huyện B truy tố về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS sự năm 2015. TAND huyện B đã căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 98, Điều 100 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 06 tháng cải tạo không giam giữ với nhận định: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội ở độ tuổi chưa thành niên (khi phạm tội bị cáo mới 16 tuổi 11 tháng 06 ngày) nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo cùng gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, người bị hại đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và tại phiên tòa cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

>> Xem thêm: Đối tượng, chủ thể và phạm vi của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự ?

Chúng tôi thấy rằng, với vụ án trên, căn cứ quy định của pháp luật hình sự thì bị cáo Nguyễn Văn A hoàn toàn vẫn có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục theo quy định. Tuy nhiên, do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; trong khi BLHS và BLTTHS hiện hành vẫn còn nhiều quy định chung chung, chưa rõ và khó áp dụng nên các Thẩm phán thường không áp dụng để đảm bảo an toàn.

Hai là, việc đánh giá tâm lý người chưa thành niên của Hội đồng xét xử: Mỗi cá nhân người chưa thành niên có môi trường sống khác nhau nên cách nhìn nhận của họ về cuộc sống, về xã hội cũng khác nhau. Do vậy, Hội đồng xét xử mà trước hết là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải thấu hiểu và có cái nhìn đúng về mỗi cá nhân là người chưa thành niên khi phạm tội, để đánh giá chứng cứ và xác định hình phạt cho chính xác nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nhưng cũng nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Theo quy định tại Điều 415 của BLTTHS năm 2015 và Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 của TANDTC thì việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên; đối với các Tòa án chưa tổ chức được Tòa gia đình và người chưa thành niên thì việc xét xử các vụ án này do Thẩm phán chuyên trách thực hiện, là người có kinh nghiệm xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi hoặc đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng giải quyết các vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi hoặc đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi.

Mặc dù hiện nay chưa thành lập được Tòa gia đình và người chưa thành niên tại các Tòa án địa phương nhưng trong giai đoan đang tinh giản biên chế hiện nay thì số lượng Thẩm phán không tăng nhưng số lượng các loại vụ án ngày càng tăng với tính chất ngày càng phức tạp. Cho nên, việc phân công các vụ án có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi cho một Thẩm phán chuyên trách đảm nhận là rất khó thực hiện, thực tế các Tòa án địa phương chủ yếu phân đều cho các Thẩm phán trong đơn vị cùng giải quyết. Trong số các Thẩm phán này có Thẩm phán có kinh nghiệm xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi và có Thẩm phán chưa có kinh nghiệm và tất cả các Thẩm phán này đều chưa được đào tạo về tâm lý học, khoa học giáo dục về tâm lý người dưới 18 tuổi. Thực tế hiện nay trong hệ thống Tòa án và các tổ chức giáo dục chưa có những lớp tập huấn riêng về tâm lý người chưa thành niên phạm tội nên việc hiểu tâm lý để đánh giá ý thức phạm tội của người chưa thành niên của mỗi Thẩm phán, Hội đồng xét xử là khác nhau, phụ thuộc chủ yếu vào ý thức chủ quan của mỗi Thẩm phán và Hội đồng xét xử.

Ba là việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế:

Theo quy định tại Điều 419 BLTTHS 2015: Chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp áp giải đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết. Chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả. Thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi bằng 2/3 thời hạn tạm giam đối với người đủ tuổi 18 trở lên.

>>Xem thêm :Trình tự phiên tòa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm tiến hành như thế nào

– Căn cứ, điều kiện áp dụng các biện pháp ngăn chặn giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ có thể bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS 2015 nếu có căn cứ giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và các căn cứ tạm giam quy định tại các Điều 110, 111, 112 và điểm a, b, c, d, đ khoản 2 Điều 119 BLTTHS 2015. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng nếu có căn cứ giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và các căn cứ tạm giam quy định tại các điều 110, 111, 112 và các điểm a, b, c, d, đ khoản 2 Điều 119 BLTTHS 2015. Bị can, bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội nghiêm trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 năm thì cũng có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

– Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam thì người ra các lệnh trên phải thông báo cho người đại diện của họ biết.

Trên cơ sở quy định của BLTTHS 2015 thì Thông tư liên tịch số 06/2018 hướng dẫn: “Trường hợp sau khi quyết định tạm giam bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi mà có đủ căn cứ áp dụng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần thay thế ngay biện pháp tạm giam. Bằng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm” (Điều 12).

Nghiên cứu các quy định trên cho thấy: Đối với biện pháp bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm Điều 12 Thông tư liên tịch số 06/2018 hướng dẫn khi có đủ căn cứ áp dụng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần thay thế ngay biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm. Như vậy, theo hướng dẫn này thì “có đủ căn cứ” tức là các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cho bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân, tình trạng tài sản của bị can, bị cáo theo quy định tại Điều 121, 122 của BLTTHS 2015. Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mình thực hiện do BLHS quy định chủ yếu là các tội phạm rất nghiêm trọng (theo quy định tại Điều 9 BLHS 2015 có mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 07 đến 15 năm tù), tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù), nhất là đối với người từ đủ 14 đến đến dưới 16 tuổi. Cho nên, quy định này trong thực tiễn áp dụng biện pháp này đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi vẫn còn nhiều vướng mắc là có đối tượng bị loại trừ hay không?. Ví dụ: bị can, bị cáo là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 123; khoản 4, khoản 5 Điều 134 hoặc các tội được quy định tại Điều 249, 250, 251, 252 Bộ luật hình sự mà bị can, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy;….thì có được cho bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm? Và đối với việc đặt tiền để bảo đảm mà bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi không có tài sản riêng thì có áp dụng biện pháp này hay không? Bị can, bị cáo phạm tội nhiều lần

>>Xem thêm :Phúc thẩm là gì ? Quy định pháp luật về xét xử phúc thẩm vụ án dân sự ?

Trước đây, để thực hiện Điều 93 BLTTHS cũ; Thông tư liên tịch số 17/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC-VKSNDTC-TANDTCngày 14/11/2013 đã hướng dẫn cụ thể về đối tượng, điều kiện, thẩm quyền, tình tự, thủ tục áp dụng, hủy bỏ biện pháp đặt tiền để bảo đảm; trả lại tiền đã đặt cọc để bảo đảm. Theo đó, tại Điều 3 Thông tư quy định về điều kiện để Thẩm phán quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần mà không có hoặc không đủ tiền để đặt bảo đảm thì xem xét đến khả năng tài chính của người đại diện hợp pháp của họ. Ngoài ra, khoản 2 Điều 3 còn quy định điều kiện loại trừ, đó là những trường hợp không được áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm nếu thuộc một trong các trường hợp sau: “……; bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; bị tạm giam trong trường hợp bắt theo lệnh, quyết định truy nã; bị can, bị cáo là người nghiện ma túy;….”.

Qua nghiên cứu Thông tư liên tịch số 04/2018 ngày 19/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2015 cũng chỉ hướng dẫn về thủ tục chung về việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm (Điều 21, Điều 22) chứ không có quy định về thủ tục áp dụng riêng biệt đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi. Hiện nay, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng như các cơ quan tư pháp Trung ương chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm cho đối tượng bị buộc tội là người 18 tuổi nên thực tiễn áp dụng pháp luật của các Tòa án địa phương nói riêng và các cơ quan có thẩm quyền tố tụng nói chung còn gặp nhiều khó khăn.

5. Một số kiến nghị, đề xuất

Để đảm bảo quyền quyền lợi của người dưới 18 tuổi phạm tội và áp dụng pháp luật được thống nhất. Theo chúng tôi, các cơ quan tư pháp Trung ương cần có văn bản hướng dẫn cụ thể việc áp dụng quy định miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội tại khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015. Đồng thời, Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần có Nghị quyết ban hành các biễu mẫu hướng dẫn riêng đối với những trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục quy định tại Chương XII của BLHS.

Thứ hai, các cơ quan Tư pháp Trung ương, hệ thống Tòa án và các tổ chức giáo dục cần có những lớp đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người người dưới 18 tuổi cho các cơ quan tư pháp, cán bộ Đoàn thanh niên và giáo viên, nhà trường,… Trong đó, trước mắt là đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng giải quyết các vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi cho đội ngũ điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân.

>>Xem thêm :Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự thực hiện như thế nào ?

Thứ ba, các cơ quan tư pháp Trung ương cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể về đối tượng, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng, hủy bỏ biện pháp đặt tiền để bảo đảm và biện pháp bảo lĩnh đối với đối tượng bị buộc tội là người 18 tuổi để các Tòa án địa phương có căn cứ áp dụng thống nhất pháp luật.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)